CÁC GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG TIẾP CẬN NGUỒN VỐN TÍN DỤNG CHO KHÁCH HÀNG TẠI NHNN&PTNT HUYỆN BÌNH LỤC – HÀ NAM - Pdf 30

Mục Lục
Lời mở đầu
CHƯƠNG I: NGUỒN VỐN TÍN DỤNG VÀ CÁC NHẤN TỐ TÁC ĐỘNG
TỚI KHẢ NĂNG TIẾP CẬN NGUỒN VỐN TÍN DỤNG CHO KHÁCH
HÀNG CỦA NGÂN HÀNG
I.Một số vấn đề cơ bản về nguồn vốn tín dụng và khách hàng của ngân hàng
1.Một số vấn đề cơ bản về nguồn vốn tín dụng
1.1.Khái niệm nguồn vốn tín dụng
1.2.Vai trò nguồn vốn tín dụng
1.2.1. Đối với ngân hàng
1.2.2. Đối với khách hàng
1.3.Chức năng nguồn vốn tín dụng
1.4. Phân loại nguồn vốn tín dụng
2.Tổng quan về khách hàng của ngân hàng
2.1.Quan niệm khách hàng của ngân hàng
2.2. Phân loại khách hàng của ngân hàng
2.3.Đặc điểm khách hàng của ngân hàng
II. Các nhân tố tác động tới khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng cho khách
hàng của ngân hàng
1. Về phía ngân hàng
2. Về phía khách hàng
3. Các nhân tố khác
III. Sự cần thiết phải tăng cường khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng cho
khách hàng của ngân hàng
1. Đối với khách hàng
1
2. Đối với ngân hàng
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN NGUỒN
VỐN TÍN DỤNG CHO KHÁCH HÀNG TẠI NHNN&PTNT HUYỆN
BÌNH LỤC – HÀ NAM
I. Giới thiệu sơ lược về huyện Bình Lục và chi nhánh NHNN&PTNT Bình

NĂNG TIẾP CẬN NGUỒN VỐN TÍN DỤNG CHO KHÁCH
HÀNG TẠI NHNN&PTNT HUYỆN BÌNH LỤC – HÀ NAM
I.Quan điểm và định hướng về cho vay vốn tín dụng của NHNN&PTNT
Huyện Bình Lục
1.Quan điểm về cho vay vốn tín dụng của NHNN&PTNT Huyện Bình Lục
2. Định hướng định hướng về cho vay vốn tín dụng của NHNN&PTNT
Huyện Bình Lục
II. Các giải pháp nhằm tăng cường khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng
cho khách hàng tại chi nhánh
* Về phía ngân hàng.
* Về phía khách hàng .
III.Một số kiến nghị với cơ quan chức năng
1.Với NHNN&PTNT Việt Nam
2.Với NHNN&PTNT Bình Lục
3.Với Tỉnh, Huyện
KẾT LUẬN
3
Lời mở đầu
Nền kinh tế hiện nay là nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội
chủ nghĩa, trong bước đầu việc sản xuất kinh doanh của người dân càng trở
nên khó khăn hơn, nhất là lĩnh vực nông nghiệp. Bên cạnh đó cùng với sự
kiện Việt Nam đã là thành viên chính thức của tổ chức thương mại quốc tế
WTO đã khiến cho nền nông nghiệp nước ta đã gặp nhiều khó khăn do tập
tục canh tác lạc hậu, trình độ khoa học kỹ thuật áp dụng chưa cao nên càng
gặp nhiều trở ngại mà đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp là những người
nông dân. Đối với nước Việt Nam là một nước đang phát triển, tốc độ phát
triển ở các ngành và trong từng khu vực không đều nhau. Trong đó vốn đóng
vai trò quan trọng trong sự phát triển nền kinh tế đất nước. Hay nói cách
khác vốn là đòn bẩy, là chìa khoá để giải quyết mọi khó khăn nhằm đáp ứng
mọi nhu cầu cần thiết của nền kinh tế đất nước nói chung và nền kinh tế

của ngân hàng được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, có thể là vốn tự
có hoặc huy động được dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ
kinh doanh khác.
Nguồn vốn tín dụng là nguồn vốn các ngân hàng thương mại cho các
cá nhân và doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân vay theo những hình
thức thích hợp để bổ sung vào nguồn vốn sản xuất kinh doanh của họ hoặc
để thỏa mãn các nhu cầu tiêu dùng.
1.2.Vai trò nguồn vốn tín dụng.
Nguồn vốn tín dụng có vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế-
xã hội. Đây là nguồn vốn lớn của nền kinh tế, nguồn vốn tín dụng đã góp
phần ổn định, duy trì và mở rộng sản xuất đối với doanh nghiệp, nâng cao
đời sống của các cá nhân, hộ gia đình, nói cách khác nguồn vốn tín dụng là
cơ sở cho một nền kinh tế ổn định và phát triển. Nguồn vốn tín dụng có vai
trò quan trọng với nền kinh tế nói chung, đối với các doanh nghiệp, các hộ
gia đình nói riêng và ngay đối với chính bản thân các ngân hàng.
1.2.1.Đối với Ngân hàng.
Trước hết, nguồn vốn tín dụng là cơ sở cần thiết cho sự tồn tại và
hoạt động của ngân hàng. Bất kì một ngân hàng nào muốn tiến hành các hoạt
6
động cho vay hay cung cấp các dịch vụ tài chính đều phải có một số lượng
vốn đủ lớn đảm bảo. Nguồn vốn đó giúp ngân hàng thực hiện và mở rộng
quan hệ tín dụng, đa dạng hoá các loại hình dịch vụ, thoả mãn nhu cầu vốn
của khách hàng ….
Nguồn vốn tín dụng của ngân hàng được huy động từ nhiều nguồn
khác nhau: từ dân cư, từ các doanh nghiệp hay trên thị trường vốn. Quy mô
vốn tín dụng của một ngân hàng càng lớn thì càng khẳng định được sức
mạnh và uy tín của ngân hàng trên thị trường tài chính, tạo ra điều kiện tốt
cho hoạt động và phát triển của nó.
1.2.2. Đối với khách hàng.
Đối với khách hàng cá nhân

Ngoài ra ngân hàng có thể cung cấp vốn cần thiết cho các doanh
nghiệp giúp cho các doanh nghiệp đổi mới trang thiết bị, đổi mới công nghệ,
mở rộng sản xuất kinh doanh, tìm kiếm thị trường, nâng cao trình độ của
công nhân viên. Vì vậy tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
trên thị trường.
Tóm lại thông qua nguồn vốn tín dụng các ngân hàng đã giúp cho quá
trình sản suất kinh doanh của các doanh nghiệp được liên tục và ổn định,
góp phần vào sự ổn định của nền kinh tế. Không chỉ có thế nguồn vốn tín
dụng còn nâng cao mức sống các tầng lớp dân cư và cả cộng đồng. Chính vì
thế mà nguồn vốn tín dụng của ngân hàng có mối quan hệ mật thiết với tình
hình phát triển kinh tế tại khu vực ngân hàng phục vụ, bởi vì nguồn vốn tín
dụng ngân hàng thúc đẩy sự quá trình tăng trưởng và sản xuất kinh doanh
8
của các doanh nghiệp và các hộ gia đình, tạo ra sức sống cho nền kinh tế.
Hơn nữa thông qua các khoản cho vay nguồn vốn tín dụng ngân hàng, tạo ra
cho các ngân hàng thu nhập và lợi nhuận giúp cho các ngân hàng có thể tồn
tại và phát triển.
1.3. Chức năng nguồn vốn tín dụng.
- Nguồn vốn tín dụng nhằm nâng cao trình độ dân trí, đời sống văn
hóa. Nhờ có nguồn vốn tín dụng đã giúp cho nhiều khách hàng có điều kiện
tiếp xúc với những nguồn thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng,
giúp họ có thể nắm bắt được tình hình kinh tế - chính trị - xã hội trên địa
bàn, cũng như trong nước và quốc tế. Qua đó giúp người dân nâng cao khả
năng hiểu biết và khả năng sản xuất kinh doanh.
- Nguồn vốn tín dụng ngân hàng đem lại nguồn thu, lợi nhuận chủ yếu
cho các ngân hàng. ngân hàng cũng chính là các doanh nghiệp nhưng có
điểm khác đó là hàng hoá của các ngân hàng đó là nguồn vốn tín dụng, vì
vậy càng nhiều khách hàng sử dụng hàng hoá của ngân hàng thì doanh thu
của ngân hàng càng lớn và lợi nhuận của ngân hàng càng tăng.
- Nguồn vốn tín dụng thúc đẩy quá trình tập trung và điều hoà nguồn

+ Cho vay sản xuất kinh doanh.
10
Đây là nguồn vốn cho khách hàng của ngân hàng vay nhằm mục đích
tài trợ cho vốn lưu động của khách hàng, xây dựng nhà xưởng, mua máy
móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu. Các khoản vay này tạo ra lợi nhuận cho
khách hàng và cũng đem lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng cho nên cho
vay nguồn vốn tín dụng để sản xuất kinh doanh yêu cầu trước tiên là khoản
vay đó phải mang lại lợi nhuận.
+ Cho vay tiêu dùng.
Ngân hàng cho vay đối với người tiêu dùng mua sắm phương tiện đi
lại, các tiện nghi sinh hoạt cần thiết như nhà cửa, xe máy và các tiện nghi
sinh hoạt khác. Khách hàng muốn vay nguồn vốn tín dụng này đòi hỏi phải
có thu nhập đều đặn để trả nợ ngân hàng, lãi suất cho vay tiêu dùng thường
cao hơn lãi suất cho vay sản xuất kinh doanh do chi phí quản lý các khoản
vay này lớn và rủi ro trong hình thức cho vay này tương đối cao.
- Nguồn vốn tín dụng cho vay phân loại theo đối tượng khách hàng.
Thông qua cách phân loại này các NHTM phân chia khách hàng của
mình thành các đối tượng khác nhau, từ đó lập ra các kế hoạch cũng như các
chiến lược khác nhau phù hợp với đặc điểm riêng của từng loại khách hàng.
+ Nguồn vốn cho vay khách hàng là các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế.
Đây là nguồn vốn tín dụng cho vay của các NHTM mà các doanh nghiệp,
các tổ chức kinh tế là đối tượng được phục vụ. Đối tượng khách hàng này
thường có nhu cầu vốn với số lượng lớn, và có thể là rất lớn. Tuy nhiên số
lượng khách hàng loại này của mỗi NHTM thường không lớn, vì vậy các
NHTM cần đặc biệt chú ý quan tâm đến từng khách hàng cụ thể, từ đó xây
11
dựng tốt mối quan hệ tín dụng lâu dài, đồng thời mở rộng các mối quan hệ
với các khách hàng mới.
+ Nguồn vốn cho vay khách hàng cá nhân.
Nhóm đối tượng còn lại là nhóm các khách hàng cá nhân (bao gồm cá

doanh.
+ Nguồn vốn tín dụng cố định.
Là nguồn vốn tín dụng cung cấp nhằm hình thành nên vốn cố định
của doanh nghiệp hoặc cá nhân để thực hiện sản xuất kinh doanh.
2. Tổng quan về khách hàng của ngân hàng.
2.1. Quan niệm khách hàng của ngân hàng.
Khách hàng là điều kiện để một ngân hàng tồn tại và phát triển. Nếu
không có khách hàng thì những dịch vụ của ngân hàng không có ai sử dụng,
điều đó đồng nghĩa với việc ngân hàng không thể tồn tại. Vì vậy phải có
khách hàng là phương châm sống còn của mọi ngân hàng. Do đó phải thu
hút đuợc khách hàng và làm thế nào để tạo ra sự thoải mái cho khách hàng
trong quá trình sử dụng các dịch vụ của ngân hàng là câu hỏi đặt ra cho các
ngân hàng từ xưa đến nay.
Có rất nhiều định nghĩa nhưng trên cơ sở đặc điểm cơ bản khách hàng
ngân hàng là tập hợp những cá nhân, nhóm người, doanh nghiệp…có nhu
13
cầu sử dụng sản phẩm của ngân hàng và mong muốn thỏa mãn nhu cầu đó
của mình.
2.2. Phân loại khách hàng của ngân hàng.
Theo nhu cầu sử dụng dịch vụ mà ngân hàng cung cấp, khách hàng có thể
phân chia thành ba nhóm:
- Theo nhu cầu sử dụng dịch vụ mà ngân hàng cung cấp.
+ Khách hàng tạo nguồn: Cũng giống như các doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh khác, ngân hàng muốn tiến hành sản xuất kinh doanh phải có vốn.
Điều khác biệt là ở chỗ, không như các doanh nghiệp người cung cấp vốn
cho ngân hàng chủ yếu lại chính là khách hàng của ngân hàng. Nhóm khách
hàng này có thể là các cá nhân, tổ chức có nguồn vốn nhàn rỗi chưa sử dụng
đến cho nên họ gửi vào ngân hàng với nhiều mục đích khác nhau: tiết kiệm,
kiếm lời,…
+ Khách hàng sử dụng nguồn : Nhóm khách hàng đem lại nguồn thu nhập

nhu cầu rất đa dạng về sản phẩm dịch vụ của ngân hàng: nhu cầu tiền gửi,
thường xuyên có nhu cầu về tín dụng, nhu cầu thanh toán … Nói chung nhu
cầu của họ là khá lớn và tương đối ổn định.
+ Khách hàng là thể nhân: Khách hàng này chủ yếu là các cá nhân, hộ kinh
doanh nhỏ, có quy mô bé và nhu cầu nhỏ lẻ và không đồng nhất như nhóm
khách hàng ở trên. Tuy nhiên tiền gửi dân cư thường là các món nhỏ lẻ
15
nhưng là một bộ phận quan trọng cung cấp vốn cho hoạt động kinh doanh
của ngân hàng.
2.3. Đặc điểm khách hàng của ngân hàng
- Khách hàng vừa là nhà cung cấp đầu vào vừa là người sử dụng đầu ra: Đối
tượng kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ. Điều này tạo nên sự khác biệt rất
lớn giữa ngân hàng và các doanh nghiệp thông thường. Để có đầu vào phục
vụ hoạt động kinh doanh, ngân hàng tiến hành huy động vốn từ dân cư.
Những khách hàng tạo nguồn chính là những người cung cấp cho ngân hàng
thông qua khoản tiền gửi, mua kỳ phiếu, trái phiếu của ngân hàng. Những
khách hàng có quan hệ tín dụng, sử dụng sản phẩm dịch vụ tài chình khác
của ngân hàng là những người tham gia vào đầu ra trong quy trình sản xuất
của ngân hàng. Có thể cùng một khách hàng vừa là nhà cung cấp, vừa là
người tiêu dùng ở những thời điểm khác nhau. Đặc điểm này thể hiện rõ vai
trò trung gian tài chính của ngân hàng, họ là nhưng người giúp cho đồng vốn
của nền kinh tế sử dụng hiệu quả nhất, phân bổ vốn từ những nơi nhàn rỗi
tới những nơi cần đầu tư sinh lời.
- Khách hàng của ngân hàng tham gia trực tiếp vào quy trình sản xuất dịch
vụ: Ngân hàng là một doanh nghiệp dịch vụ, quá trình cung ứng và tiêu dùng
dịch vụ diến ra đồng thời. Khách hàng là một khâu, một bộ phận quan trọng
trong quy trình ấy. Khi tiếp xúc,sử dụng các sản phẩm của ngân hàng, khách
hàng sẽ cảm thấy hài lòng về dịch vụ nhiều hay ít phụ thuộc vào trình độ của
nhân viên giao dịch, thời gian giao dịch, sự thể hiện cái tôi của mình, sự hiện
đại của công nghệ mà ngân hàng ứng dụng. Điều này đòi hỏi khi xây dựng

khách hàng,... Tất cả các yếu tố đó tác động trực tiếp và mạnh mẽ tới việc
tiếp cận của khách hàng với nguồn vốn tín dụng của ngân hàng. Nếu tất cả
các yếu tố thuộc chính sách tín dụng đúng đắn, hợp lý và linh hoạt, đáp ứng
được nhu cầu của khách hàng về vốn thì ngân hàng đã thành công trong việc
giúp khách hàng dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn tín dụng. Ngược lại, nếu
như các yếu tố của chính sách đều cứng nhắc không hợp lý, không đáp ứng
được những nhu cầu đa dạng về vốn của khách hàng thì ngân hàng đã gây ra
những trơ ngại nhất định trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng cho khách
hàng. Trong cơ chế thị trường, sự cạnh tranh gay gắt xảy ra giữa các ngân
hàng trong việc thu hút khách hàng, giúp khách hàng tiếp cận được với
nguồn vốn tín dụng thì chính sách tín dụng đúng đắn, linh hoạt là hết sức
quan trọng.
Có thể nói đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp nhất đến khả năng tiếp
cận nguồn vốn tín dụng. Bởi chính sách tín dụng chính là đường lối, chủ
trương đảm bảo cho hoạt động tín dụng đi vào đúng quỹ đạo liên quan đến
việc mở rộng hay thu hẹp tín dụng, nó có ý nghĩa quyết định đến sự thành
bại của một ngân hàng.
- Chính sách về lãi suất.
Đây là yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách
hàng đối với ngân hàng. Ngân hàng nào có lãi suất cho vay thấp hơn sẽ thu
hút được nhiều khách hàng đến với mình. Tuy nhiên các ngân hàng không
thể hạ lãi suất thấp hơn hẳn so với các ngân hàng khác để thu hút khách mà
lãi suất cạnh tranh này phải được xác định trên cơ sở quy định chung về lãi
18
suất của hệ thống ngân hàng, lãi suất phải phù hợp với lợi nhuận của ngân
hàng, đảm bảo trang trải được chi phí của về quản lý, về trả lãi huy động, bù
đắp được rủi ro có thể xảy ra…
- Về tài sản đảm bảo tiền vay.
Khách hàng muốn vay vốn tại ngân hàng phải đáp ứng các điều kiện và
nguyên tắc vay vốn. Trong các điều kiện đó, điều kiện về tài sản bảo đảm

một chính sách tín dụng hợp lý nhưng nếu không có đội ngũ cán bộ tín dụng
năng động sáng tạo, có đầy đủ kiến thức chuyên môn và đạo đức nghề
nghiệp thì cũng không thể đảm bảo sẽ thu hút được khách hàng sử dụng các
dịch vụ của ngân hàng đặc biệt là nguồn vốn tín dụng của ngân hàng và điều
đó sẽ ảnh hưởng tới kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
- Công tác thẩm định.
Thẩm định cho vay là khâu quan trọng nhất trong quá trình quyết
địnhcho khách hàng vay vốn. Thẩm định là việc xem xét đánh giá tính khả
thi của dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, phương án phục vụ đời
sống, khả năng hoàn trả ngân hàng, kết quả cảu khấu thẩm định có ý nghĩa
quan trọng quyết định đến xét duyệt hoặc từ chối cho vay. Trong quá trình
thẩm định đòi hỏi cán bộ thẩm định phải có chuyên môn, có khả năng phán
đoán thị trường và phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình tín dụng. Nếu cán bộ
tín dụng thẩm định sai điều đó có thể ảnh hưởng tới ngân hàng và khả năng
vay vốn của khách hàng, khiến khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng của
khánh hàng gặp nhiều khó khăn.
20
2.V phớa khỏch hng
Bờn cnh nhõn t v phớa ngõn hng thỡ mt nhõn t vụ cựng quan trng
nh hng khụng nh ti kh nng tip cn ngun vn tớn dng cho khỏch
hng ú chớnh l bn thõn khỏch hng. Nhõn t ny bao gm rt nhiu cỏc
yu t, nhng ch yu l: Mc ớch vay vn, trỡnh qun lý,ti sn m
bo, thụng tin, t cỏch o c.
- Xut phỏt t nhu cu, mc ớch vay vn tớn dng ca ngõn hng tiờu
dựng, sn xut kinh doanh ca khỏch hng. Khi kinh t ngy cng phỏt trin,
thu nhp tng thỡ hu ht nhu cu ca con ngi cng tng theo ú l nhng
nhu cu v vt cht, tinh thn, cũn i vi nhng nguũi tham gia sn xut
kinh doanh thỡ ú l nhu cu v quy mụ sn xut, th trng, li nhun
khụng ngng tng lờn. ú l u l nhng nhu cu thit thc v phự hp
trong nn kinh t hiờn nay v ngun vn tớn dng ca ngõn hng cú th gii

khách hàng không mạnh dạn tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng.
- Phương án sản xuất kinh doanh, các dự án: Bên cạnh nhân tố quan trọng về
tài sản đảm bảo thì các phương án sản xuất kinh doanh cũng ảnh hưởng tới
lượng vốn mà khách hàng sẽ được vay theo quy định của ngân hàng. Khi các
dự án, phương án sản xuất kinh doanh được khách hàng lập và thông qua sự
thẩm định của cán bộ tín dụng, nếu khả thi khách hàng sẽ nhận được đủ
lượng vốn cần vay, còn ngược lại nguồn vốn mà họ được vay sẽ rất hạn chế.
22
3. Các nhân tố khác.
Ngoài các nhân tố thuộc về Ngân hàng, khách hàng còn có rất nhiều
những nhân tố khác ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng cho
khách hàng của ngân hàng.
- Môi trường kinh tế:
Để khách hàng có khả năng tiếp cận với nguồn vốn tín dụng ngân hàng
thì cần thiết phải có một nền kinh tế phát triển ổn định. Tốc độ phát triển
kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người dân và nhu cầu sử
dụng các dịch vụ tài chính của ngân hàng, khi đó khách hàng tìm đến với
ngân hàng nhiều hơn để sử dụng các dịch vụ của ngân hàng và tiếp cận
nguồn vốn tín dụng của ngân hàng để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh
và tiêu dùng cho phù hợp với sự phát triển của thị trường và xã hội. Đặc biệt
khi kinh tế phát triển ngân hàng có nhiều cơ hội mở rộng thị truờng hoạt
động, vì vậy khách hàng có nhiều khả năng tiếp cận với các dịch vụ của
ngân hàng và quan trọng nhất là nguồn vốn tín dụng của ngân hàng. Còn khi
kinh tế suy thoái, hay gặp khủng hoảng, khi đó nguồn vốn tín dụng của ngân
hàng giảm mạnh, nên nhu cầu vay vốn để duy trì và khôi phục sản xuất kinh
doanh của khách hàng sẽ gặp rất nhiều khó khăn.
- Bên cạnh đó các yếu tố như lạm phát, lãi suất, tỷ giá, biến động giá vàng ,
… ảnh hưởng mạnh tới khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng cho khách
hàng. Ví dụ: Khi lạm phát tăng cao chính phủ sẽ hạn chế đầu tư khi đó lãi
suất tại các ngân hàng sẽ tăng, chính vì vậy khách hàng sẽ hạn chế tiếp cận

triển vì vậy người dân có điều kiện mở rộng sản xuất nên nhu cầu tiếp cận
với nguồn vốn ngân hàng tăng.
Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin phát
triển hoạt động kinh doanh của ngân hàng có những bước tiến dài, ngân
hàng đã áp dụng công nghệ vào các dịch vụ của ngân hàng đặc biệt là trong
hoạt động cho vay nguồn vốn tín dụng cho khách hàng, điều đó tạo điều
kiện thuận lợi cho khách hàng tiếp cận nguồn vốn tín dụng.
Môi trưòng tự nhiên: Bên cạnh các nhân tố trên khách hàng còn phải
chịu ảnh hưởng của rất nhiều các nhân tố khác ảnh hưởng tới khả năng tiếp
cận nguồn vốn tín dụng của ngân hàng như: điều kiện về địa hình, địa lý nơi
khách hàng sinh sống hay sản xuất kinh doanh, cơ sơ vật chất, hạ tầng kỹ
thuật, đường giao thông đi lại,mật đọ phân bố dân cư , bên cạnh đó còn có
các yếu tố bất khả kháng như thời tiết, thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh…
những yếu tố này khi xảy ra gây ảnh hưởng rất lớn tới khách hàng, từ đó
cũng ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng của ngân hàng,
không những vậy khách hàng trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp còn phải
chịu tác động của yếu tố mùa vụ.
III.Sự càn thiết phải tăng cường khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng cho
khách hàng của ngân hàng.
Nguồn vốn tín dụng ngân hàng có vai trò hết sức quan trọng không
chỉ đối với ngân hàng, với khách hàng mà còn với cả nền kinh tế. Với những
lợi ích to lứon mà nguồn vốn tín dụng của ngân hàng mang lại,vì vậy cần
thiết phải tăng cường khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng cho khách hàng
của ngân hàng.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status