nghiên cứu khả năng tiêu thụ thức ăn, khối lượng, các chiều đo của cơ thể và biểu hiện lên giống và sinh đẻ của cừu cái - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

PHẠM VĂN LẸ

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TIÊU THỤ THỨC
ĂN, KHỐI LƯỢNG, CÁC CHIỀU ĐO CỦA
CƠ THỂ VÀ BIỂU HIỆN LÊN GIỐNG
VÀ SINH ĐẺ CỦA CỪU CÁI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGÀNH: CHĂN NUÔI – THÚ Y

2013


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

PHẠM VĂN LẸ

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TIÊU THỤ THỨC
ĂN, KHỐI LƯỢNG, CÁC CHIỀU ĐO CỦA
CƠ THỂ VÀ BIỂU HIỆN LÊN GIỐNG
VÀ SINH ĐẺ CỦA CỪU CÁI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGÀNH: CHĂN NUÔI – THÚ Y

GVHD:
GS. TS: NGUYỄN VĂN THU

tháng

năm 2013

DUYỆT KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG


LỜI CAM ĐOAN

Kính gửi: Ban lãnh đạo Khoa nông nghiệp & Sinh học ứng dụng và các thầy
cô trong Bộ môn Chăn nuôi.
Tôi tên Phạm Văn Lẹ là sinh viên lớp Chăn nuôi - Thú y, khóa 36 (2010-2014).
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính bản thân tôi. Đồng
thời tất cả các số liệu, kết quả thu được trong thí nghiệm hoàn toàn có thật và
chưa công bố trong bất kỳ tạp chí khoa học khác. Nếu có gì sai trái tôi xin hoàn
toàn chịu trách nhiệm trước Khoa và Bộ môn.

Cần Thơ, ngày….. tháng….. năm 2013
Sinh viên thực hiện

Phạm Văn Lẹ

i


LỜI CẢM ƠN
Luận văn tốt nghiệp đại học là một quá trình dài học tập và nghiên cứu của
bản thân. Bên cạnh sự nổ lực của bản thân tôi còn nhận được sự ủng hộ, chia
sẻ, giúp đỡ của quý Thầy, Cô, gia đình và bạn bè.
Xin chân thành gửi lời cảm ơn đến các thầy cô Bộ môn Chăn nuôi và Bộ môn

2.5 THỨC ĂN TRONG THÍ NGHIỆM ......................................................15
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........17
3.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU .................................17
3.2 PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU ....................................................17
3.3 PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM ....................................................18
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ THẢO LUẬN .......................................................20
4.1. THÀNH PHẦN DƯỠNG CHẤT CÁC LOẠI THỰC LIỆU TRONG
THÍ NGHIỆM ..............................................................................20
4.2 ĐẶC ĐIỂM LÊN GIỐNG CỦA CỪU CÁI ...................................25
4.3 ĐẶC ĐIỂM CỪU KHI SINH VÀ CHĂM SÓC .............................26
CHƯƠNG V.KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ....................................................27
5. 1 KẾT LUẬN ...................................................................................27
5.2 ĐỀ NGHỊ ......................................................................................27
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................28
PHỤ CHƯƠNG ...........................................................................................34
iii


DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT
ADF

Xơ axit

Ash

Khoáng tổng số

CF

Xơ thô


Năng lượng trao đổi

NDF

Xơ trung tính

NPN

Đạm phi protein

OM

Vật chất hữu cơ

SE

Sai số chuẩn

TAHH

Thức ăn hỗn hợp

VB

Vòng bụng

VFA

Axit béo bay hơi

Bảng 11: So sánh khối lượng và vòng ngực vòng bụng của cừu không
mang thai .......................................................................................21
Bảng 12: So sánh khối lượng và vòng ngực vòng bụng của cừu mang thai ...21
Bảng 13: So sánh trên lệch giữa khối lượng và chiều đo giữa cừu không
và có thai ......................................................................................22
Bảng 14: Lượng thức ăn và dưỡng chất ăn vào hang ngày của cừu không
mang thai ......................................................................................23
Bảng 15: Lượng thức ăn và dưỡng chất ăn vào hang ngày của cừu mang thai .....24
Bảng 16: So sánh lượng thức ăn và dưỡng chất tiêu thụ được tính trên 1kg
thẻ trọng của cừu có thai và không có thai .....................................25

v


DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 1: Cừu đang mang thai ở tháng thứ 3 trong nghiên cứu ........................17
Hình 2: Cừu không mang thai trong nghiên cứu ...........................................17
Hình 3: Chuồng nuôi trong nghiên cứu .........................................................18
Hình 4: Cỏ lông tây và thức ăn hỗn hợp trong nghiên cứu ............................18
Hình 5: Đo các chiều của cừu .......................................................................19
Hình 6: So sánh sự chênh lệch khối lượng giữa các tháng ............................23
Hình 7: So sánh sự chênh lệch chiều đo vùng bụng giữa các tháng ...............23
Hình 8: So sánh lượng DM và CP tiêu thụ của cừu trong thí nghiệm ............25

vi


TÓM LƯỢC

Thí nghiệm này được nghiên cứu trên 16 con cừu cái dựa vào lứa tuổi và

các loại thức ăn thô sẵn có tại địa phương. Mức ăn của cừu chỉ bằng 1/10 so với
bò (Kohn et al. 2005).
Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long cừu được nuôi nhiều nhất hiện nay ở
tỉnh Bến Tre và Trà Vinh. Đầu năm 2007 Trung Tâm Khuyến Nông Hậu Giang
và Trung Tâm Giống Sóc Trăng đã mua cừu Phan Rang về nuôi thử nghiệm ở
các nông hộ và người dân ở các Đồng Bằng Cửu Long cũng rất quan tâm đến
việc nuôi cừu để cung cấp thịt cho cho nhân dân. Tuy nhiên cừu cái sinh sản
được nghiên cứu rất ít, đặc biệt về các chỉ tiêu liên quan đến sự khác biệt giữa
cừu cái có và không mang thai, để giúp cho người dân phát hiện dễ dàng và cải
thiện khả năng sinh sản để nâng cao thu nhập. Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài
: “NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TIÊU THỤ THỨC ĂN, KHỐI LƯỢNG, CÁC
CHIỀU ĐO CỦA CƠ THỂ VÀ BIỂU HIỆN LÊN GIỐNG VÀ SINH ĐẺ CỦA
CỪU CÁI”, nhằm đánh giá khả năng tiêu thụ dưỡng chất, chiều đo, trọng lượng
và sinh sản của cừu Phan Rang, từ đó đề xuất những biện pháp nghiên cứu và
nuôi dưỡng cừu cái sinh sản tốt hơn.

viii


CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÍ LUẬN
2.1 KHÁI QUÁT VỀ THÀNH PHỐ CẦN THƠ
2.1.1 Vị trí
Cần Thơ là một thành phố nằm trên hữu ngạn của sông Hậu. Diện tích
nội thành là 53 km2. Thành phố Cần Thơ có tổng diện tích tự nhiên là 1.389,59
km 2 và dân số vào khoảng 1.209.192 người, mật độ dân số tính đến 2011 là 870
người/km2 là thành phố đông dân thứ 4 tại Việt Nam và là thành phố hiện đại
và lớn nhất của cả vùng hạ lưu sông Mê Kông
Thành phố Cần Thơ có các điểm cực sau:
Cực Bắc là phường Thới Thuận, quận Thốt Nốt.
Cực Tây là xã Thạnh Lợi, huyện Vĩnh Thạnh.

“Phan” và nóng như “Rang”) được nhóm nghiên cứu của Viện Chăn nuôi,
Trường Nông nghiệp II Huế và Sở Nông nghiệp Ninh Thuận đặt cho khi tiến
hành khảo sát đàn cừu có nguy cơ bị tiêu diệt. Giáo sư Lê Viết Ly - Viện Chăn
nuôi Quốc gia ngay từ đầu đã nhìn nhận đây là loài gia súc quý hiếm và có nhiều
triển vọng. Từ những năm đầu của thập kỷ 90 thế kỷ trước, ông và những người
đồng sự đã có những khảo sát ban đầu và đưa ra những khuyến cáo làm nền tảng
cơ bản cho sự nghiên cứu và phát triển con cừu Phan Rang. Đề tài “Bảo tồn
nguồn gen vật nuôi” trong những năm qua đã giúp khôi phục lại giá trị của ngành
chăn nuôi cừu cho người dân nghèo ở Ninh Thuận và các tỉnh lân cận.
Theo các lão nông ở địa phương thì giống cừu Phan Rang xuất xứ từ
vùng Nhiệt đới Ấn Độ, được người Chà Và đưa vào; cũng có giả thuyết cho
rằng các giáo sĩ truyền đạo Kitô đã mang chúng vào cách đây hàng trăm năm
cùng với cây xương rồng; và do đó con cừu được cộng đồng người công giáo ở
đây coi như món quà của chúa, nên họ quý con cừu và xem nó như quà tặng của
chúa và trải qua bao năm tháng, người ta vẫn còn nuôi giữ nó. Hơn nữa ở Ninh
Thuận có nhiều dân tộc, nhiều tôn giáo kiêng ăn thịt heo, thịt bò, chỉ dùng thịt
dê, cừu những khi tiệc tùng, cúng giỗ và những ngày tết. Nhờ vậy, con dê, cừu
ở đây có điều kiện để tồn tại và phát triển dù ở mức rất thấp.
Cừu Phan Rang được các giáo sĩ truyền đạo đưa vào Ninh Thuận từ thời
kỳ Pháp thuộc có nguồn gốc từ Ấn Độ, Pakistan và Châu Phi (Theo Lê Viết
Ly, Đàm Văn Tiện 1994) . Qua nhiều năm tự nhân giống trong dân gian và qua
chọn lọc, con cừu đã tồn tại và thích nghi với điều kiện sinh thái của vùng đất
khô cằn của Ninh Thuận để ngày nay ta có giống cừu mang tên Phan Rang.
2.2.3 Đặc điểm ngoại hình
Bảng 1: Màu sắc lông và đặc điểm ngoại hình

Ngoại hình

(n)


2.00

Bảo tồn gen cừu Phan Rang- Viên Chăn Nuôi- 2003

x


Về phân loại động vật thì cừu thuộc lớp động vật có vú (Mammalia), bộ
guốc chẳn (Artiodactyla), bộ phụ nhai lại (Ruminantia), họ phụ dê cừu
(CapiaRovanae).
Cừu Phan Rang có màu trắng (80%), một số ít có màu lông nâu (11%) số
ít còn lại là lông nâu điểm trắng hoặc trắng điểm nâu hoặc lông nâu đen, một số
con có mặt đen hoặc trắng nhưng phần lớn là mặt trắng, có điểm một vệt trắng ở
sống mũi và 2 dải đen ở 2 bên má. Toàn thân cừu phủ một lớp lông, lông phần
hông nơi dài nhất từ 11-12 cm, lông phần lưng nơi ngắn nhất khoảng 8 cm.
Lông nhỏ mịn và không xoắn, lông cừu đực khô hơn cừu cái nhưng không rõ rệt
như ở dê. Ðầu cổ cừu ngắn, mũi dô, không sừng, không có râu cằm, thân hình
trụ, ngực sâu và nở, bụng to gọn, mông nở, 4 chân nhỏ và khô, móng hở, vú nhỏ
và treo, núm vú ngắn (2cm). Cấu tạo con vật thể hiện hướng sản xuất thịt.
2.2.4 Đặc điểm sinh trưởng
Khả năng sinh trưởng của cừu Phan Rang rất nhanh, từ sơ sinh đến 1
tháng tuổi ( l68,67 g/ngày) sau đó tốc độ sinh trưởng chậm dần (86,66137,33g/ngày). Tháng thứ hai thường là tháng khủng hoảng vì lượng sữa giảm
thấp mà cừu con thì chưa quen ăn nhiều cỏ. Sau đó sức lớn trở lại bình thường.
Khả năng sinh trưởng của cừu trong điều kiện quảng canh như sau: Trọng lượng
sơ sinh của cừu là 2,20 kg, lúc 3 tháng tuổi 13,98 kg. Tuổi trưởng thành bình
quân con cái nặng 38,96  l,34 kg, con đực 42,64  1,70 kg.
Bảng 2: Các chiều đo của cừu trưởng thành
Chiều đo

Con cái


16,1

Vòng ngực

70,0

78,0

Rộng hông

13,7

14,0

Vòng ống

7,3

6,5

Nguồn www.cucchannuoi.gov.vn

xi


Bảng 3: Khả năng sinh trưởng của cừu Phan Rang
Khối lượng ( kg)

Tuổi


Tuổi sử dụng phối
giống

Tháng

10

Tuổi động dục lần
đầu

Tháng

6

Tuổi phối giống

Tháng

9-10

Chu kỳ động dục

Ngày

16-17

Thời gian mang thai

Ngày

(Nguồn: Lê Đăng Đảnh và Lê Minh châu, 2005)

Cũng như dê, cừu là loại gia súc sớm thành thục về sinh dục. Cừu đực 5
tháng tuổi đã có biểu hiện phối giống, nhưng người ta thường sử dụng lúc 10
tháng tuổi. Cừu cái 6 tháng đã động dục và tuổi phối giống đầu tiên thường vào
lúc 9-10 tháng. Thời gian mang thai khoảng 150 ngày, chu kỳ động dục từ 1617 ngày, mùa động dục không rõ rệt nhưng vào các tháng mùa xuân mát mẻ
thường động dục nhiều và tỷ lệ thụ thai cao. Theo dõi 120 lứa đẻ ở xã Tân An
thì thấy số cừu đẻ 1 con là 91 con chiếm 75,83% cừu sinh đôi 21 con chiếm
17,5% và cừu sinh ba có 8 con chiếm 6,67%. Như vậy cừu sinh đôi và sinh ba
xii


chiếm gần 1/4 (24,l7% ) trong lúc đẻ đơn là 75,83%, tỷ lệ mắn đẻ như vậy là đạt
ở mức trung bình so với các giống cừu thịt khác (www.vcn.vnn.vn).
2.2.6 Tập tính sinh học của cừu
Tập tính bầy đàn: cừu thường sống tập trung thành bầy đàn. Việc di
chuyển và tìm kiếm thức ăn theo bầy, bán kính hoạt động cách chuồng không
xa ( thường dưới 500m). Khi đi ăn, cả bầy cừu lũ lượt kéo nhau đi theo sự
hướng dẫn của con đầu đàn. Con đầu đàn không nhất thiết phải là con đực to
nhất trong bầy mà có thể là một con cừu cái, hoặc một con trưởng thành nào đó
tỏ ra rành rẽ đường đi lối về.
Nếu ta chỉ nuôi một con cừu đơn lẻ, hay vì một lý do nào đó ta tách hẳn
một con ra khi đàn để nhốt riêng, con cừu đó sẽ be be la hết khan cổ, và tỏ ra
buồn bã không màng đến chuyện ăn uống, ít ra cũng vài ba ngày đầu (Việt
Chương, 2004).
Tính hiền lành: cừu là vật nuôi hiền lành, không quấy phá, tính tình điềm
đạm, gần gũi với con người. Rất hiếm khi thấy cừu xung đột với nhau.
Thích ở nơi cao ráo: trông đàn cừu chậm chạp nhưng trèo leo rất giỏi.
Chúng thích ở nơi cao ráo, tránh vùng ẩm thấp. Cừu rừng có khả năng leo trèo lên
những dốc núi cheo leo và thích nghỉ ngơi ở vùng cao ráo, mát mẽ.

Dạ cỏ chiếm khoảng 80% toàn bộ dung tích dạ dày, sự tiêu hóa ở dạ cỏ có
ý nghĩa rất lớn. Người ta thấy 50-65% vật chất khô tiêu hóa của khẩu phần đã
được tiêu hóa ở dạ cỏ, 30-50% cellulose và hemicellulose đã được tiêu hóa tại
đây nhờ lên men của hệ vi sinh vật trong dạ cỏ mà không có sự tham gia của
men cellulose và hemicellulose tiết ra từ gia súc, đây là điểm nổi bật của gia súc
đa vị so với gia súc độc vị (Mc Donal et al., 2002).
Sau dạ cỏ là dạ tổ ong, dạ này được nối với dạ cỏ bàng một miệng lớn và sự
di chuyển thức ăn giữa hai dạ dày này khá dễ dàng. Kế dạ tổ ong là dạ lá sách có
hình cầu phủ nhu mô ngắn sắp xếp sao cho chất tiêu hóa chuyển giữa các khe tới dạ
múi khế, phần lớn nước và các chất điện giải được hấp thu ở dạ lá sách. Giữa dạ tổ
ong và dạ lá sách có một miệng như một cái van để giữ thức ăn ở lại trong dạ cỏ
cho tới khi đường kính của thức ăn giảm xuống còn 1-2 mm. Dạ múi khế hay còn
gọi là dạ dày thực, nằm phía sau dạ lá sách, ở đây phần còn lại của thức ăn mà vi
sinh vật của dạ cỏ chưa lên men nhưng có khả nang tiêu hóa sẽ được tiêu hóa bằng
enzyme.Tá tràng, kết tràng và ruột non có chức năng tương tự như ở động vật dạ
dày đơn. Ruột già là phần cuối cùng, ruột thừa có một túi mù nằm phía trước
mặt lưng.
2.3.2 Sự nhai lại
Thức ăn được nuốt xuống dạ cỏ và lên men ở đó. Phần thức ăn chưa được
nhai kỹ nằm trong dạ cỏ và dạ tổ ong sẽ được ợ lên và nhai lại ở trong xoang
miệng. Thức ăn được nhai kỹ và thấm nước bọt lại được nuốt trở lại dạ cỏ.
Thời gian nhai lại phụ thuộc vào bản chất vật lý của thức ăn, trạng thái
sinh lý của con vật, cơ cấu khẩu phần. Thức ăn thô trong khẩu phần càng ít thì
sự nhai lại càng ngắn. Cường độ nhai lại mạnh nhất vào buổi sang, buổi chiều và
gần sáng.
xiv


2.3.3 Hệ sinh thái vi sinh vật dạ cỏ
Hệ vi sinh vật dạ cỏ rất phức tạp và phụ thuộc nhiều vào khẩu phần. Hệ vi

quan trọng đặc biệt cả về phương diện tiết kiệm nitơ cũng như nguy cơ dư thừa
amoniac. Amoniac cần cho các loài vi khuẩn dạ cỏ để tổng hợp nên sinh khối
protein của bản thân chúng.
xv


2.3.3.6 Nguyên sinh động vật (Protozoa)
Protozoa có số lượng ít hơn vi khuẩn nhưng to hơn vi khuẩn nên khối
lượng tương đương sinh khối vi khuẩn, trong 1ml dịch dạ cỏ chứa 105-106
protozoa. Khi khẩu phần có nhiều tinh bột, đường thì số lượng protozoa tăng
lên. Protozoa được chia thành 2 nhóm chính là Entodineomorphs và Holatrich;
nhóm Entodineomorphs phát triển mạnh khi gia súc ăn khẩu phần có nhiều xơ
cùng với tinh bột; nhưng nhóm Holatrich phát triển mạnh khi khẩu phần có
nhiều xơ nhưng được bổ sung bằng rỉ mật hoặc cỏ non. Protozoa tiêu hóa tinh
bột, đường là chính nhưng một vài loài có khả năng phân giải cellulose. Protozoa
phân huỷ tinh bột và đường rồi dự trữ chúng trong cơ thể dưới dạng polydextrin,
do đó protozoa có khả năng đệm cho pH của dạ cỏ. Nhiều nghiên cứu cho thấy
protozoa không thể xây dựng protein bản thân từ các amid được. Khi mật độ
protozoa trong dạ cỏ cao, một tỉ lệ lớn vi khuẩn bị protozoa ăn và tiêu hóa.
Trường hợp nhóm Entodinia nhiều (khoảng 2 triệu con protozoa/ml dịch dạ cỏ)
thì tất cả vi khuẩn tự do trong dịch dạ cỏ sẽ bị ăn mất đi, chiếm khoảng 30%
tổng lượng sinh khối (Coleman, 1975)
2.3.3.7 Nấm
Nấm là sinh vật đầu tiên xâm nhập và tiêu hóa thành phần cấu trúc thực
vật bắt đầu từ bên trong, làm giảm độ bền chặt của cấu trúc này và làm tăng
sự phá vỡ các mảnh trong quá trình nhai lại. Sự phá vỡ này tạo điều kiện cho vi
khuẩn và men của chúng bám vào cấu trúc tế bào và tiếp tục quá trình phân giải
cellulose. Trong tất cả các loại nấm yếm khí có mặt trong dạ cỏ, chúng ta có thể
chia ra làm 5 loài, bao gồm: Neocallim, Piromyces, Caecomyces, Orpinomyces,
Anaeromyces (Nguyễn Văn Thu, 2006).

Cellulose và hemicellulose là thành phần chính của tế bào thực vật, chúng
liên kết với lignin tạo thành polyme bền vững về lý học và hóa học. Một đơn vị
cellulose gồm hai phân tử glucose, cellulose nguyên chất là một chuỗi các
cenlobiose lặp đi lặp lại bởi các liên kết π-1,4. Như vậy cellulose nguyên chất
gồm các đường đơn glucose.
Ngược lại hemicellulose cũng là một polyme nhưng ngoài đường glucose
chúng còn chứa đường D-galactose, D-mantose, D-xilose và L-anabiose. Khi
lignin liên kết với cellulose, hemicellulose hay protein trong thành phần tế bào
sẽ làm cho thành phần tế bào trở nên bền vững và rất khó tiêu hóa. Do đó những
thức ăn giàu lignin như rơm rạ, cỏ khô...thường có tỉ lệ tiêu hóa thấp.
Trong dạ cỏ vi khuẩn phân giải chất xơ tiết ra enzym và cắt cellulose
thành các cellulose (có hai glucose), sau đó cellulose tiếp tục bị phân huỷ thành
glucose và lên men thành các acid béo bay hơi, CO2, CH4 và ATP.
2.3.4.2 Tiêu hóa tinh bột và đường
Tinh bột và đường được vi khuẩn và protozoa tiêu thụ rất nhanh. Protozoa
đồng hóa tinh bột biến thành polydextin dự trữ trong cơ thể của chúng. Khi
protozoa bị chuyển xuống dạ múi khế và ruột non polydextin được tiêu hóa dễ
dàng bởi men tiêu hóa của vật chủ. Ngược lại vi khuẩn phân huỷ tinh bột và
đường thành các đường đơn sau đó lên men tiếp tục thành các acid béo bay hơi,
CO2, CH4 và ATP. ATP là nguồn cung cấp năng lượng cho chính tế bào vi sinh
vật. Những nghiên cứu gần đây cho thấy không phải tất cả tinh bột đều bị tiêu hóa
xvii


ở dạ cỏ mà một phần được chuyển xuống phần dưới của dạ dày bốn túi, những
thức ăn không bị lên men ở dạ cỏ gọi là “thức ăn by pass” (hay thức ăn thoát tiêu).
Tinh bột, đường “thoát tiêu” khỏi dạ cỏ sẽ được tiêu hóa ở dạ múi khế.
2.3.4.3 Tiêu hóa protein
Protein được phân giải thành peptid và acid amin bởi men protease
và men peptidase của vi khuẩn. Phần lớn các acid amin tiếp tục bị vi khuẩn lên

xviii


Acid béo bay hơi được hấp thu bằng cách khuyếch tán qua vách dạ cỏ.
Khoảng 25% được hấp thu ở phần sau dạ cỏ. Vì lượng này rời khỏi dạ cỏ cùng
với thức ăn. pH của dịch dạ cỏ có ảnh hưởng lớn tới sự hấp thu các acid béo bay
hơi, các nhà khoa học đã chứng minh rằng ở pH = 6,4 trong dạ cỏ có cả anion của
acid béo và cả acid béo tự do. Khi pH cao hơn từ 7,0 - 7,5 tốc độ hấp thu các acid
béo giảm rõ rệt, điều đó phụ thuộc vào H+ có lẽ liên quan với số lượng tương
đối của acid béo ở dạng không phân li. Các tác giả nhận thấy rằng ngay đến tận
24 - 48 giờ sau khi ăn, hàm lượng acid béo bay hơi trong máu tĩnh mạch cửa vẫn
còn cao hơn trong máu động mạch.
2.3.5.2 Hấp thu amoniac
Amoniac được giải phóng từ nguồn nitơ protein và phi protein bởi vi sinh
vật dạ cỏ sẽ được hấp thu một phần ngay ở dạ dày trước. Tốc độ hấp thu amoniac
phụ thuộc vào chỉ số pH. Ở môi trường kiềm sự hấp thu tiến hành nhanh hơn ở
môi trường acid. Nếu dư thừa amoniac sẽ được hấp thu vào máu để đưa đến
gan. Ở gan amoniac sẽ được tổng hợp thành urê, lượng urê này một phần nhỏ sẽ
được bài tiết qua nước tiểu, một phần lớn đi vào tuyến nước bọt và được nuốt
xuống dạ cỏ trở thành nguồn cung cấp nitơ cho vi sinh vật.
2.3.5.3 Sự hấp thu urê
Urê của khẩu phần hoặc theo nước bọt vào dạ cỏ cũng như urê được
chuyển từ máu qua vách dạ cỏ bị phân giải nhanh chóng bởi urease của vi khuẩn
thành amoniac và khí carbonic nên nồng độ của urê trong dạ cỏ giảm rõ rệt.
Trong điều kiện nuôi dưỡng bình thường, dạ cỏ không thấy có urê hoặc chỉ có
một ít nhưng khi cho ăn urê thì ở 20 - 48 phút đầu trong dạ cỏ có nhiều urê chưa
phân giải, sau đó urê giảm dần, sau 75 - 80 phút thường chỉ còn thấy dấu vết
hoặc một lượng không quá vài mg/100ml.
2.3.5.4 Hấp thu glucose
Lên men thức ăn trong dạ cỏ là lên men các đường hòa tan, tinh bột trong

được ăn tự do. Đây là một trong những yếu tố có ý nghĩa quan trọng trong việc
xác định hiệu quả chăn nuôi. Lượng thức ăn ăn vào của cừu sẽ thay đổi tuỳ
thuộc vào giống, hướng sản xuất, tình trạng sức khoẻ của con vật, cơ địa và môi
trường chăn nuôi.
Cừu cái tơ khối lượng vật chất khô ăn vào trong ngày khoảng 3 đến 4,5%
trọng lượng cơ thể, cừu đực từ 36 đến 73kg thì khối lượng vật chất khô ăn vào
hằng ngày khoảng 3 đến 4% trọng lượng cơ thể (Lê Đăng Đảnh et al., 2005).
Vấn đề cần lưu ý khi tính toán lượng thức ăn ăn vào ta cần chú ý đến quá
trình phát triển của cây cỏ thực vật là thức ăn của gia súc. Vì màng tế bào thực vật
ở cây cỏ sẽ dầy thêm theo tuổi. Do đó, lượng xơ tăng lên nhất là xơ khó tiêu hóa
từ đó dẫn đến khả năng tiêu hóa loại thức ăn này sẽ giảm.
Tỉ lệ protein/năng lượng thấp có thể ngăn cản sự ăn vào. Những hiệu quả
của việc bổ sung nitrogen có lợi cho khối lượng ăn vào, có thể tác động trực
tiếp đến tình trạng nitrogen của gia súc cũng như hoạt động của dạ cỏ.
Việc cung cấp cân đối, đầy đủ các chất dinh dưỡng có trong thức ăn như: đạm,
năng lượng, khóang, vitamin, chất xơ sẽ tăng hiệu quả sử dụng thức ăn, kích thích vi
sinh vật dạ cỏ sinh trưởng và phát triển tốt sẽ làm cho con vật tăng trưởng tốt.
xx


2.4.2 Nhu cầu protein và năng lượng
Năng lượng và chất đạm rất cần thiết cho cừu trong giai đoạn tăng
trưởng và phát triển. Cừu tăng trưởng nhanh trong giai đoạn từ 4 đến 6 tháng
tuổi. Do đó, trong giai đoạn này người chăn nuôi cần cung cấp khẩu phần ăn đảm
bảo chất dinh dưỡng để chúng có thể sinh trưởng và phát triển. Nhu cầu năng
lượng và chất đạm cho tăng trưởng của cừu được trình bày qua bảng 5.
Bảng 5: Nhu cầu dinh dưỡng trong ngày cho tăng trưởng của cừu ở điều kiện nhiệt đới
Thể trọng
(kg)


3,93

93

61

50

3,83

61

40

100

4,51

84

56

150

5,19

108

71


80

200

7,00

145

96

250

7,68

168

111

50

5,95

87

57

100

6,86


6,87

99

65

100

7,78

121

80

150

8,70

142

95

200

9,61

164

110


103

200

10,48

175

117

250

11,42

197

133

5

10

15

20

25

30



0,3 – 0,4

0,6 – 0,7

0,9 – 1,0

TĂ hỗn hợp ( 14 – 15% Protein)
(Nguồn: Nguyễn Văn Thu, 2010)

2.4.3 Nhu cầu nước
Cơ thể động vật chứa 65% nước. Nước trong cơ thể vật non thường cao hơn
vật già, nước trong cơ thể con vật gầy ít hơn vật béo vì trong mô mỡ chứa ít nước.
Nhu cầu nước của con vật phụ thuộc vào lượng thức ăn ăn vào, hàm
lượng nước trong thức ăn, nhiệt độ môi trường và các sản phẩm tạo ra.
2.5 THỨC ĂN TRONG THÍ NGHIỆM
2.5.1 Cỏ lông tây
Tên khoa học: Bracharia multica
Loại cỏ thân bò trên mặt đất, rễ nhiều, thân dài 0,6-2,0m, lá to bản, có lông.
Giống cỏ này có nguồn gốc từ Châu Phi. Chúng thuộc giống cỏ đa niên, giàu
protein, dễ trồng, chịu được đất ẩm ướt. Ở Việt Nam cỏ lông tây được nhập
trồng ở Nam Bộ từ năm 1887 tại các cơ sở nuôi bò sữa, nay đã trở thành cây
mọc tự nhiên ở khắp hai miền Nam Bắc (Nguyễn Thiện, 2003). Sau 1,5-2 tháng
trồng thì có thể thu hoạch lứa đầu. Từ đó cứ khoảng 30 ngày thì thu hoạch được một
lần, trừ mùa khô phải hơn hai tháng mới cắt được nên thu hoạch lúc cỏ cao 50-60cm
và khi thu hoạch thì nên cắt cách mặt đất 5-10cm. Cỏ lông tây rất thích hợp trồng ở
các vùng đồng bằng, năng suất cỏ thay đổi nhiều, có nơi đạt 120 tấn/ha trong 5
lần cắt (Nguyễn Thiện, 2003). Chúng ta có thể trồng cỏ lông tây ở đất bùn lầy, đất
ruộng, đất bãi, bờ đê, ven hồ ao, bờ sông suối. Có thể sử dụng cỏ lông tây cho gia
súc ăn dưới dạng cỏ tươi hoặc phơi khô (Nguyễn Thiện, 2003).


2,87

11,8

8,23

DM: vật chất khô; OM: chất hữu cơ; CP: Protein thô; EE: béo thô; NDF: xơ trung tính; ADF:
xơ acid; ME: năng lượng trao đổi. (Lê Thủy Triều, 2009).

2.5.4 Urê
Công thức hóa học: H2 N - CO - NH2 , Urê sử dụng cho trâu bò ăn
thường là có nguồn gốc từ phân bón. Dê, cừu nói riêng và động vật nhai lại
xxii


Trích đoạn PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status