Lời mở đầu
Lãi suất là một trong những biến số kinh tế vĩ mô hêt sức quan trọng
trong nền kinh tế thị trờng, một công cụ trong việc điều hành chính
sách tiền tệ của quốc gia. Mỗi sự thay đổi của lãi suất đều tác
động trực tiếp hay gián tiếp đến các hoạt động của nền kinh tế nh
các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, hành vi
tiết kiệm và đầu t của công chúng, hoạt động xuất nhập khẩu và đầu
t nớc ngoài. Do đó kéoo theo sự thay đổi của các chỉ tiêu kinh tế
vĩ mô khác nh lạm phát, tăng tr ởng thất nghiệp...Bên cạnh đó lãi
suất còn đợc xem nh là một công cụ để điều hoà mối quan hệ lợi
ích giữa các chủ thể trong nền kinh tế, mỗi sự tăng hay giảm của lãi
suất sẽ kéo theo sự khuyến khích lợi ích vật chất đối với chủ thể
kinh tế này đồng thời hạn chế lợi ích của chủ thể kinh tế khác. Lãi
suất có thể sẽ thúc đẩy sự phát triển của ngành, lĩnh vực này đồng
thời kiềm chế sự phát triển của các ngành lĩnh vực khác, tăng lợi ích
của nhóm ng ời này, giảm lợi ích của nhóm ng ời kia. Lãi suất còn là
công cụ tạo ra các kênh chu chuy ển nguồn lực xã hội từ ngành lĩnh
vực này, sang ngành lĩnh vực khác, từ vùng này sang vùng khác. Do
đó tạo ra sự thay đổi cơ cấu vùng, cơ cấu ngành của nền kinh tế...
Chính vì lãi suất có một vai trò hết sức quan trọng nh vậy cho
nên việc vận hành một chính sách lãi suất nh thế nào cho thích hợp,
nhằm đảm bảo cân đối hài hoà lợi ích của các chủ thể trong nền
kinh tế đồng thời thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội nói chung
luôn là mối quan tâm hàng đầu trong việc t hực thi chí nh sách tiền
tệ của mối quan hệ quốc gia.
Trong suốt t hời gian qua, kể từ khi hì nh thành hệ thống ngân
hàng hai cấp cho đến nay
NHNN
Việt Nam đã đạt đ ợc nhiều t hành
tí ch to lớn trong việc t hực hiện chức năng quản lý, trên lĩnh vực
chính sách tiền tệ nói chung và việc t hực thi chính sách lãi suất nói
tích các số liệu vừa mang tính logic vừa mang tính lịch sử để làm rõ
thực trạng tình hình quản lý lãi suất của
NHNN
cũng nh tại
NHTMCPQĐ
đồng thời chỉ ra một số định hớng xây dựng chính sách lãi suất của
NHNN
trong thời gian tới trên cơ sở đó nêu lên một số biện pháp cũng
nh kỹ thuật mà các
NHTM
vận dụng để phát triển hoạt động của mình
Với nội dung đó ngoài phần mở đầu và kết luận bài viết đ ợc chia
làm 3 chơng:
ChơngI: Vai trò của chính sách lãi suất
Chơng II: Thực trạng tình hình quản lý lãi suất của
NHNN
và tác
động của
nó đến hoạt động của
NHTMCPQĐ
Chơng III: Vận dụng chính sách lãi suất nhằm phát triển hoạt
động của
NHTMCPQĐ
.
Em xin chân thành cám ơn cô giáo,
PTS Trần Thu Hà
đã tận
tình giúp đỡ và chỉ bảo em trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn
thành chuyên đề này.
khái niệm "lãi suất" mà ngời ta thờng dùng. Do đó phép đo lãi suất chính là phép
đo lãi suất hoàn vốn. Tuỳ theo các công cụ tài chính mà chúng ta có các phép đo
khác nhau. Thông thờng lãi suất đợc đo lờng thông qua 4 công cụ cơ bản:
- Vay đơn:
i =
4
%100.
p
I
i
=
Trong đó: i là lãi suất, V là giá trị tơng lai của tiền, c là giá trị hiện tại của
tiền.
- Vay hoàn trả cố định (Fixed payment loan)
Lãi suất đợc xác định từ công thức:
Trong đó: C là khoản tiền vay, F là tiền trả hàng năm, i là lãi suất.
- Trả khoán Coupon (vay trả lãi định kỳ, cuối kỳ trả gốc (Copporate Bond):
Lãi suất i đợc xác định từ công thức:
P là giá mua
C là mệnh giá
i là lãi suất
- Trả khoán giảm giá (là các khoản mua với giá thấp hơn mệnh giá
(Discount bond) cuối kỳ thanh toán theo mệnh giá )
ở Việt Nam hiện nay, do sự hạn chế về kỹ thuật cũng nh tính đơn điệu của
thị trờng, hai công cụ cho vay trả cố định và trái khoản giảm giá đợc sử dụng rất
hạn chế mà chủ yếu là sử dụng hai công cụ vay đơn và trái khoản Coupon.
2. Phân loại lãi suất
Nói chung lãi suất là giá cả của tiền hay giá cả của quyền sử dụng
vốn trong một thời gian nhất định. Tuy nhiên căn cứ vào các tiêu chuẩn
khác nhau ngời ta chia lãi suất thành các loại lãi suất khác nhau:
=
1
11
111
21
( ) ( ) ( )
( )
( ) ( )
nn
n
n
i
C
ii
i
.FC:hay
i
I
....
i
I
i
I
C
+
+
+
+
=
+
suất ngắn hạn và lãi suất trung và dài hạn
- Căn cứ vào cách thức trả lãi chúng ta có sự phân biệt giữa lãi suất
đơn và lãi suất kép
- Căn cứ vào cơ chế quản lý lãi suất chúng ta có sự phân biệt giữa lãi
suất cố định và lãi suất thay đổi. Trong đó lãi suất cố định là lãi suất áp
dụng một cách thống nhất trên cơ sở có sự thơng lợng từ đầu trong suốt
thời gian tồn tại của khoản vay. Còn lãi suất thay đổi là lãi suất có thể đợc
điều chỉnh theo các biến động của thị trờng trong khoảng thời gian tồn tại
của khoản vay.
3. Hình thái diễn biến của lãi suất:
ở phần này chúng ta sẽ xem xét lãi suất danh nghĩa đợc xác định nh thế nào
và những yếu tố ảnh hởng đến hình thái diễn biến của nó (lãi suất thực đợc xác
định bằng cách: lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa - tỷ lệ lạm phát).
Có 2 lý thuyết xác định lãi suất:
Trớc hết chúng ta xem xét lãi suất đợc xác định nh thế nào trong khuân mẫu
tiền vay bằng cách phân tích lợng cung và cầu trên thị trờng trái khoán.
6
i
*
i
Q
*
Q
B
D
B
S
Tơng tự phân tích cung cầu trên thị trờng hàng hoá khi giá (P) của trái
khoán tăng, lợng cầu giảm, lợng cung tăng lại làm cho lãi suất i giảm và ngợc lại.
khoán giảm sút và đờng cầu về trái khoán dịch chuyển sang bên trái. Ngợc lại, một
sự gia tăng tính rủi ro của những tài sản thay thế làm cho lợng cầu trái khoán tăng
lên, đờng cầu do đó dịch chuyển về bên phải.
+ Tính lỏng: Khi trái khoán đợc mua bán rễ ràng hơn, tính lỏng của nó sẽ
tăng lên làm cho lợng cầu về trái khoán tăng lên và đờng cầu dịch chuyển sang
bên phải. Một cách tơng tự, tính lỏng của các tài sản thay thế tăng lên làm giảm
bớt lợng cầu trái khoán và dịch chuyển đờng cầu về bên trái.
- Các yếu tố làm dịch chuyển đờng cung trái khoán bao gồm:
+ Khả năng sinh lợi dự tính của các cơ hội đầu t: Trong giai đoạn phát đạt
của một chu kỳ kinh doanh, lợng cung trái khoán tăng lên và đờng cung dịch
chuyển về bên phải và ngợc lại.
+ Lạm phát dự tính: Khi lạm phát dự tính tăng lên, chi phí thực của việc vay
vốn giảm làm cho cung trái khoán tăng lên, đờng cung dịch chuyển sang phải.
+ Hoạt động của chính phủ: Thâm hụt ngân sách của chính phủ lớn sẽ làm
tăng lợng cung trái khoán và dịch chuyển đờng cung sang phải.
7
- Những thay đổi lãi suất cân bằng: Từ sự phân tích trên, chúng ta thấy:
+ Khi lạm phát dự tính tăng lên sẽ làm cho B
D
giảm, B
S
tăng do đó lãi suất
tăng lên và ngợc lại. (mối quan hệ giữa lạm phát dự tính và lãi suất lần đầu tiên đã
đợc nêu ra bởi nhà kinh tế học Ining FQher).
+ Giai đoạn phát triển của chu kỳ kinh doanh: Làm cho cơ hội đầu t tăng
lên, B
S
dịch chuyển sang phải, kết quả lãi suất tăng lên hay giảm xuống còn phụ
thuộc vào B
S
S
= B
D
+ M
D
hay B
S
- B
D
= M
S
+ M
D
Nếu thị trờng trái phiếu cân bằng B
S
= B
D
B
S
- B
D
= 0
M
D
- M
S
= 0 M
2
- Cầu tiền tơng quan nghịch đảo với lãi suất và nằm dốc xuống do chi phí cơ
hội của việc không nắm giữ trái khoán thay thế là chứng khoán.
- Cầu tiền ổn định theo lãi suất bởi nó bị kiểm soát chủ quan của ngân hàng
Trung ơng.
- Những tác động làm thay đổi lãi suất:
+ Tác động của thu nhập: khi thu nhập tăng lên, dân chúng muốn nắm giữ
thêm nhiều tiền (do các giao dịch về tiền tăng lên) do đó M
D
tăng lên và dịch
chuyển sang phải làm lãi suất tăng lên và ngợc lại.
+ Tác dụng của mức giá: khi mức giá tăng lên, dân chúng muốn nắm giữ
tiền danh nghĩa lớn hơn để mua đợc cùng một lợng hàng hóa nh trớc. Do đó, M
D
tăng lên làm lãi suất tăng lên và ngợc lại.
+ Hoạt động của Ngân hàng Trung ơng làm tăng M
S
thì lãi suất giảm xuống
và ngợc lại. Tuy nhiên nếu xem xét một cách kỹ lỡng và dài hạn hơn thì kết luận
nêu trên cha hoàn toàn chính xác. Bởi lẽ chúng ta thấy việc tăng M
S
sẽ làm tăng
tính lỏng ngay do đó lãi suất sẽ giảm ngay lập tức, nhng còn các tác dụng khác khi
tăng lợng tiền cung ứng đó là làm tăng lạm phát dự tính, tăng đầu t và tăng thu
nhập và sau một thời gian sẽ tác động làm tăng lãi suất. Vì vậy, việc tăng M
S
trong
tức thời có thể làm giảm lãi suất do tính lỏng tăng lên, nhng sau đó có thể làm tăng
lãi suất do tác động của lạm phát dự tính và do tác dụng của thu nhập do đó khi sử
dụng lợng tiền cung ứng để điều tiết lãi suất cần phải xem xét. Nếu tác dụng của
hạn cũng có lãi suất khác nhau? Lý thuyết giải thích các hiện tợng này đợc gọi là
"Cấu trúc rủi ro và cấu trúc kỳ hạn của lãi suất" sẽ góp phần tạo lên một bức tranh
hoàn hảo về hình thái diễn biến của lãi suất.
4.1. Cấu trúc rủi ro của lãi suất
Những trái khoán có cùng kỳ hạn thanh toán có mức lãi suất khác nhau, tính
tơng quan giữa các loại lãi suất này đợc gọi là cấu trúc rủi ro của lãi suất. Có 3 yếu
tố cơ bản gây ra hiện tợng này:
- Rủi ro vỡ nợ: là rủi ro do khả năng có thể ngời phát hành trái khoán sẽ vỡ
nợ tức là không thể thực hiện đợc việc thanh toán tiền lãi hoặc mệnh giá khi các
trái khoán đó mãn hạn.
Các trái khoán hay tiền gửi có mức rủi ro khác nhau do đó lãi suất của chúng
khác nhau. Khoảng cách giữa lãi suất của một trái khoán có rủi ro và mức lãi suất
của trái phiếu không có rủi ro đợc gọi là mức bù rủi ro. Trái khoán có mức rủi ro
càng cao thì mức bù rủi ro càng cao. Trái khoán chính phủ đợc gọi là loại không có
rủi ro bởi lẽ rất ít khi chính phủ mất khả năng thanh toán.
Giả sử ban đầu trái khoán công ty và trái khoán chính phủ có cùng những
thuộc tính nh nhau (rủi ro và hạn kỳ thanh toán nh nhau) khi đó mức lãi suất cân
bằng trên 2 thị trờng bằng nhau (i
1
C
= i
1
df
). Một sự tăng rủi ro vỡ nợ của trái khoán
công ty sẽ làm giảm lợng cầu từ D
1
C
đến D
2
C
đổi thành tiền mặt một cách nhanh chóng và ít tốn kém khi nhu cầu chuyển đổi
nảy sinh. Trong điều kiện các yếu tố khác đợc giữ ngang bằng, một tài sản càng
10
i
1
C
i
Q
i
2
C
D
2
C
S
C
D
1
C
i
2
df
i
Q
i
1
df
Mức bù trừ rủi
quân của các lãi suất ngắn hạn này cao. Lãi suất có kỳ hạn khác nhau thì có liên
quan chặt chẽ với nhau.
- Lý thuyết thị trờng phân cách cho rằng những trái khoán với kỳ hạn khác
nhau hoàn toàn không phải là những thứ có thể thay đổi cho nhau. Do đó, lợi tức
dự tính khi nắm giữ một trái khoán có một kỳ hạn nào đó sẽ không tác dụng gì đến
lợng cầu trái khoán có kỳ hạn khác. lý thuyết thị trờng phân cách này hoàn toàn
11
n
i...ii
i
e
nt
e
tt
nt
++
+
=
1
đối lập với giả thuyết về dự tính. Lý thuyết này giải thích lãi suất của trái khoán
dài hạn cao hơn vì cầu của nó cao hơn loại ngắn hạn và đờng cong lãi suất có xu
hớng dốc lên nhng lại không giải thích đợc tại sao lãi suất các kỳ hạn khác nhau
lại có những diễn biến theo nhau.
- Lý thuyết môi trờng u tiên cho rằng lãi suất của một trái khoán dài hạn sẽ
bằng trung bình của những lãi suất ngắn hạn đợc trong đợi trong thời gian tồn tại
của trái khoán dài hạn đó cộng với một mức bù hạn kỳ, mức bù này ứng với điều
kiện cung cầu của trái khoán đó. Lý thuyết này thừa nhận rằng những trái khoán
có kỳ hạn thanh toán khác nhau là những thứ thay thế cho nhau.
k
nt
11
++
+
=
lãi suất dài hạn lãi suất ngắn hạn
B
s
B
D
1
B
D
B
D
i+i
i
4.3. Ngoài ra lãi suất còn chịu tác động bởi các yếu tố khác đó là các
thuộc tính về chính trị và sự ổn định của đồng tiền.
Các trái phiếu bằng đồng tiền của một nớc nhng có thể phát hành bằng đồng
tiền của nhiều nớc khác nhau. Vì vậy, có sự khác nhau về lãi suất của cùng loại
trái phiếu đó. Vì các nhà đầu t có thể nghĩ rằng chính quyền của mỗi nớc có thể
áp dụng những biện pháp về kiểm soát ngoại hối hay hạn chế sự tái nhập vốn từ
một trung tâm tài chính nớc ngoài khác nhau hoặc những biến động nào đó về nội
các chính phủ có thể đa lại những thay đổi trong chính sách tài chínhh tiền tệ.
Trong những trờng hợp nh vậy, các nhà đầu t có thể gặp rủi ro về chính trị.
Lãi suất còn chịu tác động bởi các thuộc tính về đồng tiền. Thị trờng chứng
khoán trong điều kiện kinh tế mở có sự giao lu về vốn giữa các quốc gia. Trên thị
trờng xuất hiện những chứng khoán qui định việc trả lãi và vốn bằng các đồng tiền
khác nhau dẫn đến lãi suất của các loại chứng khoán đó khác nhau. Chẳng hạn nhà
đầu t nếu dự kiến đồng USD sẽ xuống giá so với VNĐ họ sẽ đòi hỏi lãi suất cao
ờng các hãng hoạt động muốn đầu t vào vốn, tài sản (máy móc, thiết bị, nguyên
vật liệu...) khi mà họ dự tính thu đợc từ vốn đầu t vào sản xuất những khoản lợi
nhuận lớn hơn là cho vay thu lãi suất thấp. Hay nói cách khác, khi lãi suất xuống
thấp thì vốn đầu t vào sản xuất có thể mang lại nhiều lợi nhuận hơn chi phí trả lãi
vay. Do vậy, khi lãi suất xuống thấp sẽ có nhiều dự án đầu t hơn đợc thực hiện, chi
tiêu đầu t tăng lên. Thậm chí ngay cả khi một công ty có d thừa vốn và không
muốn đầu t vào sản xuất thì chi tiêu cho đầu t vẫn bị ảnh hởng bởi lãi suất thay vì
đầu t mở rộng sản xuất công ty có thể đầu t vào các tài sản tài chính khác nh trái
khoán chẳng hạn. Nếu lãi suất của các trái khoán cao thì chi phí cơ hội của việc
giữ tiền hay đầu t vào sản xuất sẽ cao do đó các doanh nghiệp thích đầu t vào trái
khoán hơn.
Chi tiêu đầu t kể cả đầu t cơ bản (vốn cố định) và vốn luân chuyển (hàng tồn
kho) đều có mối quan hệ mật thiết với lãi suất. Các dự án đầu t phải thu đợc lợi
nhuận và bù đắp đợc chi phí cơ hội của vốn bỏ ra. Lãi suất càng thấp thì càng có
nhiều dự án đầu t có khả năng mang lại lợi nhuận do đó chi tiêu đầu t sẽ tăng. Đ-
ờng cầu đầu t đi xuống biểu thị lợi ích biên của chi tiêu đầu t.
Mối quan hệ giữa số tiền chi tiêu đầu t có kế hoạch với bất kỳ một mức lãi
suất nào đợc minh hoạ bằng đờng biểu diễn đầu t trong hình dới đây:
14
i
i
3
i
2
i
1
I
3
I
2
quốc gia đặc biệt là đối với hoạt động xuất nhập khẩu. Khi lãi suất thực của đồng
nội tệ tăng lên thì các khoản tiền gửi bằng đồng nội tệ trở lên hấp dẫn hơn so với
tiền gửi bằng ngoại tệ, do đó làm cho giá trị của tiền gửi nội tệ hay cầu về đồng
nội tệ tăng lên nghĩa là tỷ giá hối đoái tăng lên. Giá trị cao hơn của đồng nội tệ do
kết quả của việc lãi suất thực tế tăng lên làm cho hàng hoá trong nớc trở lên đắt
hơn hàng ngoại do đó làm giảm xuất khẩu ròng .Vì vậy, khi lãi suất tăng lên thì
giá trị của đồng nội tệ tăng lên và hàng nội trở lên đắt hơn và xuất khẩu giảm
xuống. Mối tơng quan tỉ lệ nghịch giữa lãi suất và xuất khẩu ròng đợc miêu tả
trong hình dới: Với một mức lãi suất thấp i
1,
tỷ giá là thấp và xuất khẩu ròng là
cao. Với một mức lãi suất cao i
3
thì tỷ giá là cao và xuất khẩu ròng NX
3
là thấp.
15
i
i
3
i
2
i
1
NX
3
NX
2
NX
1
lên đến i
2
thì cả chi tiêu đầu t và xuất khẩu ròng đều giảm do có sản phẩm thăng
bằng giảm đến Y
2
.
Đờng thẳng nối liền các điểm tại đó có sự kết hợp giữa lãi suất và tổng sản
phẩm thăng bằng đợc gọi là đờng IS. Đờng này có độ dốc đi xuống cho chúng ta
biết rằng với một mức lãi suất cao hơn sẽ dẫn đến chi tiêu đầu t có kế hoạch và
xuất khẩu ròng thấp hơn và từ đó tổng sản phẩm thăng bằng sẽ thấp hơn (đờng
chéo 45
0
trong hình 1 là tập hợp các điểm mà tại đó tổng sản phẩm sản xuất ra
bằng tổng cầu Y = Y
ad
).
Mô hình phân tích ở trên có một ý nghĩa hết sức quan trọng vì nó chỉ ra cho
chúng ta biết mức sản phẩm sản xuất ra phải hớng về đâu để đạt đợc sự thăng bằng
16
3
2
1
Y=Y
ad
Y
ad
1
Y
ad
2
Y
3
Y
2
Y
1
Tổng sp
trên thị trờng hàng hoá (tổng sản phẩm = tổng cầu) tại mỗi một mức lãi suất nhất
định. Tuy nhiên khó khăn của chúng ta là lãi suất thăng bằng lại đợc xác định trên
một thị trờng khác đó là thị trờng tiền tệ. Chúng ta sẽ hoàn thiện mô hình này bằng
việc xem xét lãi suất cân bằng và tổng sản phẩm cân bằng đợc xác định nh thế
nào?
Trên thị trờng tiền tệ với mỗi mức cung tiền nhất định do Ngân hàng Trung
ơng qui định). Bất cứ yếu tố gì chẳng hạn nh thu nhập tăng lên sẽ làm cho cầu về
tiền tăng lên và do đó lãi suất cân bằng sẽ tăng lên và ngợc lại.
(Đờng cầu tiền dốc xuống bởi mức lãi suất thấp chi phí cơ hội của việc gửi
tiền là thấp do đó câù tìên sẽ tăng).
Mô hình trên cho chúng ta thấy mức sản lợng là y
1
thì đờng cong cầu tiền tệ
là Md
1
thăng bằng trên thị trờng tiền tệ đạt đợc tại điểm 1. Khi tổng sản phẩm đạt
đợc mức cao hơn y
2
thì đờng cong cầu tiền dịch chuyển đến Md
2
tức là (y
2
). Tơng
3
I
2
I
1
I
3
I
2
I
1
lãi suất i lãi suất i
Đường LM
3
2
1
1
2
3
A
B
Md
3
Md
2
Md
1
M
Y
1
phẩm. Sự giảm sản phẩm có nghĩa là cầu tiền tệ sẽ giảm làm cho lãi suất sẽ hạ
xuống. Do vậy, nền kinh tế vận động dọc xuống theo đờng LM, cho đến khi nó đạt
điểm thăng bằng E.
18
LM
B
E
A
lãi suất i
Tổng sản phẩm Y
i*
y*
Nh vậy, mô hình IS - LM của Keynes không chỉ giúp chúng ta thấy đợc mối
quan hệ giữa lãi suất với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô khác nh tổng cầu (đầu t theo kế
hoạch và xuất khẩu ròng), tăng trởng kinh tế (tổng sản phẩm sản xuất ra) mà nó
còn giúp cho các nhà hoạch định chính sách thấy đợc nền kinh tế đang ở trong
trạng thái nào cân bằng hay mất cân bằng, trên cơ sở đó đa ra chính sách và biện
pháp thích hợp nhằm điều chỉnh nền kinh tế đạt các mục tiêu đã đề ra trong mỗi
thời kỳ nhất định nh lạm phát, tăng trởng và mức độ sử dụng nhân công.
Việt Nam là một trong những nớc đang phát triển vì vậy tăng trởng kinh tế
cao và ổn định đợc xem là mục tiêu quan trọng của các nhà hoạch định chính sách
vì vậy lãi suất còn đợc duy trì ở mức thấp nhằm khuyến khích đầu t, khai thác ở
mức tối đa các tiềm lực hiện có để đạt đợc mục tiêu tận dụng nhân công và tăng tr-
ởng kinh tế.
4. Lãi suất với ổn định giá trị đồng tiền và kiềm chế lạm phát.
Trong mô hình phân tích của Keynes ông ta giả định rằng giá cả của hàng
hoá là không thể thay đổi hay nói cách khác là sẽ không có sự gia tăng của lạm
phát. Tuy nhiên, trong thực tế chúng ta thấy rằng khi lãi suất hạ xuống thấp, chi
tiêu cho đầu t có kế hoạch và xuất khẩu ròng sẽ tăng lên làm cho tổng cầu tăng và
do đó giá cả hàng hoá và dịch vụ cũng sẽ tăng theo tức là có sự gia tăng của lạm
Thơng mại cổ phần quân đội.
I. Tình hình thực hiện chính sách lãi suất của Ngân
hàng Nhà nớc thời gian qua
Giai đoạn từ 1988 đến nay là giai đoạn chứa đựng nhiều bớc ngặt lịch sử
của nền kinh tế Việt Nam. Chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị tr-
ờng có sự quản lý, điều tiết vĩ mô của Nhà nớc, hoạt động của hệ thống Ngân hàng
cũng có nhiều đổi mới từ khi có hai pháp lệnh Ngân hàng Nhà nớc năm 1992, nền
kinh tế có nhiều chuyển biến mới và chính sách lãi suất có nhiều thay đổi cho phù
hợp điều kiện kinh tế đất nớc và thực hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ. Tuy
nhiên, đây là quá trình đổi mới đầy phức tạp. Để thấy đợc những bớc chuyển biến
đó chúng ta xem xét diễn biến của lãi suất qua ba giai đoạn với những đặc trng cơ
bản của nền kinh tế cho mỗi giai đoạn.
1. Giai đoạn từ 1988 - 1990
Có thể nói giai đoạn này đợc bắt đầu từ khi có Nghị quyết Hội nghị Trung -
ơng lần thứ VIII, quốc hội khoá V năm 1987, trong đó nêu rõ: "Xoá bỏ triệt để
quan liêu bao cấp trong giá lơng, tiền là một yêu cầu hết sức cấp bách, là khâu đột
phá có tính chất Quyết định, đẩy mạnh sản xuất, làm chủ thị trờng, ổn định và cải
thiện một bớc đời sống của nhân dân lao động, thay đổi toàn bộ cơ chế quản lý ..."
Đây đợc coi là mốc lịch sử quan trọng trong việc thực hiện chính sách kinh
tế nói chung và chính sách tiền tệ nói riêng đợc tính từ năm 1988 đến nay: Giai
đoạn chuyển đổi từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trờng có sự
quản lý vĩ mô cuả Nhà nớc.
Trong giai đoạn này hai pháp lệnh Ngân hàng cha ra đời,thực hiện quản lý
và kinh doanh tiền tệ đều do Ngân hàng Nhà nớc qui định và đang chịu ảnh hởng
nặng nề của cơ chế bao cấp, các Ngân hàng Nhà nớc chủ yếu thực hiện chức năng
nhận tiền gửi và đều chuyển cho vay theo mức lãi suất chỉ định của Nhà nớc. Tuy
nhiên, hệ thống Ngân hàng một cấp này bắt đầu có những điều chỉnh về lãi suất
trên thị trờng nhằm tạo một mức lãi suất phù hợp hơn.
Ngày 26 tháng 10 năm 1988 . Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nớc ra Quyết
định 85/NHQĐ, căn cứ Quyết định 111/QĐ-HĐBT về nâng lãi suất tín dụng, đã
- T doanh vận tải.
2. Vốn cố định.
- Với cán bộ công nhân viên.
- T doanh, tiểu thủ công nghiệp
1,00
1,00
1,50
2,00
0,10
0,15
0,21
0,39
0,54
0,69
0,54
0,06
0,54
0,24
0,51
0,29
1,00
3,00
0,06
1,20
Tiếp theo sau Quyết định 85/NHQĐ là Quyết định số 68/NHQĐ của Tổng
giám đốc Ngân hàng Nhà nớc ngày 2 tháng 7 năm 1989, căn cứ theo Quyết định
số 99/HĐBT ra ngày 28 tháng 6 năm 1989 nh sau:
Biểu 2.
22
Nội dung
do nhà nớc giao. Trong chính sách lãi suất, điều này đợc thể hiện qua các biểu lãi
suất và các lần điều chỉnh nh sau:
Nhà nớc còn áp đặt một cách tuyệt đối các mức lãi suất tiền gửi cũng nh cho
vay khiến cho mất cân đối cung cầu về tiền, cũng nh trong việc huy động cho vay.
Lãi suất đợc phân ra quá nhiều mức khác nhau cho các đối tợng khác nhau,
về mặt tích cực có thể u tiên ngành này, phát triển ngành kia. Nhng mặt khác sẽ
gây mất cân bằng, mất cân đối trong cơ cấu ngành bởi vì những ngành yếu kém đ-
ợc u tiên sẽ tiếp tục yếu kém. Ngợc lại những ngành đang phát triển có thể bị
chững lại vì lãi suất vay Ngân hàng qúa cao.
Nền kinh tế đang trong tình trạng khủng hoảng trầm trọng sản xuất kinh
doanh đình đốn, đặc biệt là lạm phát tăng vọt (15 - 20%/tháng) do một số nguyên
nhân:
- Thay đổi chính sách kinh tế - xã hội đổi tiền sau năm 1988 đã làm cho
đồng VN mất giá nghiêm trọng.
23
-Nạn đầu cơ trong dân chúng gia tăng, bởi vì lạm phát quá cao, không ai dại
gì mà gửi tiền vào Ngân hàng vì lãi suất không thể bù lỗ do tiền trợt giá quá
nhanh. Thực tế ở giai đoạn này tổng tiền gửi vào Ngân hàng chỉ đạt 20 tỉ VNĐ còn
lại đa số cá nhân và các tổ chức kinh tế chuyển sang dự trữ bằng vàng, ngoại tệ,
mua vật t hàng hoá hoặc quay vốn ngoài hệ thống Ngân hàng.
- Sản xuất kinh doanh đình đốn, tổng cung giảm. Nạn đầu cơ tăng làm cho
giá cả về hàng hoá tăng, tổng cầu tăng làm cho giá cả hàng hoá tiếp tục tăng vọt.
Vì những lý do đó, lãi suất trong giai đoạn này lâm vào một tình trạng
chung là: tất cả các chủ thể tham gia quan hệ tài sản bao gồm ngời gửi tiền, Ngân
hàng và doanh nghiệp vay tiền đều bị lỗ. Những khoản lỗ này đợc Nhà nớc bù lỗ
cho ngành Ngân hàng bằng cách in thêm tiền và vay nợ nớc ngoài khiến cho tình
trạng càng khó khăn hơn.
- Ngời gửi tiền lỗ do lãi suất thực âm, lạm phát quá cao, lãi suất danh nghĩa
không thể bù đắp nổi dù cho Ngân hàng đã nâng lên ở lần điều chỉnh thứ hai.
- Hoạt động Ngân hàng bị lỗ do Ngân hàng không thể phát huy đợc chức
các tổ chức tín dụng, thể hiện mối quan hệ tín dụng trong nội bộ ngành Ngân
hàng. Trên cơ sở đó, lãi suất của các tổ chức tín dụng đối với nền kinh tế có một
số điều chỉnh nh sau:
Biểu 3: Điều chỉnh lãi suất tiền gửi tiết kiệm
Quyết định
điều chỉnh
Thời điểm
điều chỉnh
Lãi suất tiền gửi tiết kiệm
Không kỳ hạn
(%tháng)
Kỳ hạn 3 tháng %tháng
29/NH-QĐ
71/NH-QĐ
94/NH-QĐ
09/NH-QĐ
18/NH-QĐ
92/NH-QĐ
16.03.89
29.05.89
29.06.89
09.02.90
19.03.90
10.07.90
9,00
7,00
5,00
4,00
2,40
2,10
1,8%-6%
6-6,6
4,8-5,9
2,1-4
2,1-4
1,5 - 10%
5,9 - 6,18
4,5 - 5,3
3,3 - 3,87
2,6 - 3,5
18
18
8
6
6
Quan sát lãi suất trong giai đoạn này ta thấy từ 1990 - 1993, Ngân hàng
Nhà nớc liên tục ra các Quyết định thay đổi lãi suất theo định hớng của Hội đồng
bộ trởng.
Năm 1991 với mục tiêu chống lạm phát, Ngân hàng Nhà nớc đã nâng lãi
suất tiền gửi tiết kiệm lên cao 9% - 12%/tháng (QĐ 29/NH) sau đó giảm xuống
5% - 7%/tháng vào cuối năm (QĐ 94/NHQĐ) mức tiền gửi của các tổ chức kinh tế
đầu năm 1991 là 4% - 5,8%/tháng (năm 1990 là 0,9% - 1,5%/tháng) từ đó kích
thích đợc tâm lý của ngời gửi tiền vào Ngân hàng một cách ồ ạt, do vậy mà khối l-
25