SKKN Một số giải pháp giúp học sinh dân tộc hình thành kĩ năng tổ chức lớp học tự quản, tự học theo mô hình trường tiểu học kiểu mới (VNEN) - Pdf 30

MỤC LỤC
Mục

Nội dung

Trang

Mở đầu

3

Lí do chọn đề tài

3

1.1

Cơ sở lý luận

3

1.2

Cơ sở thực tiễn

4

Giới hạn đề tài (phạm vi nghiên cứu và thực hiện)

7



12

13

2.1

Một số giải pháp giúp học sinh dân tộc hình thành kĩ năng
tổ chức lớp học tự quản Theo Mô hình trường tiểu học
kiểu mới (GPE – VNEN)
Kết quả khảo sát đầu năm học

2.2

Những giải pháp cần thực hiện ngay khi bước vào năm

15

1

2

1

2

13

học mới
2.2.1

2.3.2

Rèn kĩ năng giao tiếp

19

2.3.3

Thường xuyên tổ chức các chuyên đề thảo luận về cách rèn

20

1


kĩ năng tự quản tự học cho học sinh
Vận động sự tham gia của cộng đồng

20

Một số giải pháp khác góp phần rèn luyện kĩ năng tự quản,

21

tự học
Những kết quả đạt được

23

Kết luận

2. Một số giải pháp giúp học sinh dân tộc hình thành kĩ năng tổ chức lớp
học tự quản Theo Mô hình trường tiểu học kiểu mới (GPE – VNEN)
(Gồm 10 trang)
3. Những kết quả đạt được: (Gồm 03 trang)
* Phần kết luận

(Gồm 02 trang)

CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
GPE-VNEN:

Global Partnership for Education – Viet Nam Escuela Nueva

GD&ĐT:

Giáo dục và đào tạo

GV:

Giáo viên

HS:

Học sinh
MỞ ĐẦU
2


1. Lí do chọn đề tài:
1.1. Cơ sở lý luận:

tương tác và phù hợp với từng cá nhân học sinh; chuyển việc
truyền thụ của giáo viên thành việc hướng dẫn học sinh tự học.
Lớp học do học sinh tự quản và được tổ chức theo các hình thức,
như: Làm việc theo cặp, làm việc cá nhân và làm việc theo
nhóm, trong đó hình thức học theo nhóm là chủ yếu. Học sinh
được học trong môi trường học tập thân thiện, thoải mái, không
bị gò bó, luôn được gần gũi với bạn bè, với thầy cô, được sự
giúp đỡ của bạn học trong lớp, trong nhóm và thầy cô, phù hợp
với tâm sinh lý lứa tuổi các em. Học sinh khá giỏi được phát
huy, học sinh còn hạn chế, yếu kém được học sinh của nhóm và
giáo viên giúp đỡ kịp thời ngay tại lớp.
Quản lý lớp học là “Hội đồng tự quản học sinh” do các em
bầu ra và đảm nhiệm, đây là một biện pháp giúp học sinh được
phát huy quyền làm chủ quá trình học tập. Học sinh còn có điều
kiện hiểu rõ quyền và trách nhiệm trong môi trường giáo dục,
được rèn luyện các kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng tham gia, kỹ
năng hợp tác trong các hoạt động; đồng thời, xây dựng không
gian lớp học với “Góc học tập”, “Góc cộng đồng”, “Thư viện lớp
học”, mở nhiều “hòm thư vui”, hòm thư “Điều em muốn nói”
cũng như trang trí lớp học, tạo ra môi trường giáo dục thân
thiện, an toàn.
Tài liệu dạy và học được thiết kế, biên soạn rất phù hợp để
học sinh có thể tự đọc, tự tìm hiểu tiếp cận kiến thức trong mỗi
giờ học tại lớp dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên và tổ
chức học tập của nhóm.
Học tập theo mô hình VNEN giúp học sinh phát huy tích cực
tính tự học, sáng tạo, tính tự giác, tự quản, sự tự tin, hứng thú
trong học tập. Đây là phương pháp dạy học mới, giúp các em
phát huy tốt các kỹ năng như: Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hợp tác,
kỹ năng tự đánh giá lẫn nhau trong giờ học. Cách thức tổ chức lớp

Mỗi tiết học không có áp lực đối với các em. Học sinh được
hình thành thói quen làm việc trong môi trường tương tác, được
5


học hỏi bạn để tự hoàn thiện, luôn có ý thức được mình phải bắt
đầu và kết thúc hành động như thế nào, không chờ đến sự nhắc
nhở của giáo viên, tránh sự thụ động trong dạy và học, góp
phần đẩy mạnh sự phát triển trong công tác giáo dục của
trường.
Ban giám hiệu nhà trường, giáo viên chủ nhiệm sẽ đánh
giá kết quả học tập của học sinh theo các tiêu chuẩn như: đánh
giá hoạt động học tập, sự tiến bộ và kết quả học tập của học
sinh theo chuẩn kiến thức, kỹ năng và hoạt động theo từng môn
học; đánh giá sự hình thành và phát triển năng lực chung của
học sinh như: tự phục vụ, tự quản, giao tiếp, hợp tác, tự học và
giải quyết vấn đề; đánh giá sự hình thành, phát triển các phẩm
chất của học sinh về các chủ đề: Yêu quê hương, đất nước, yêu
cha mẹ và gia đình, yêu trường lớp và bạn bè, yêu con người; sự
tự tin, tự trọng, tự chịu trách nhiệm, trung thực, kỷ luật, chăm
học, chăm làm, thích hoạt động nghệ thuật, thể thao.
Để Mô hình dạy học VNEN đạt hiệu quả các trường học phải
làm tốt công tác tuyên truyền đến phụ huynh và nhân dân, đặc
biệt là cha mẹ học sinh có con học Dự án mô hình trường học
mới VNEN, nắm rõ chủ trương thử nghiệm Dự án của Bộ GD&ĐT,
nắm được cơ bản cách thức tổ chức giảng dạy và học tập theo
mô hình này. Đặc biệt, mô hình trường học mới VNEN chỉ áp
dụng được cho học sinh từ lớp 2, điều quan trọng là ngay từ lớp 2
học sinh có đọc thông viết thạo mới tự đọc, tự học theo tài liệu,
sách hướng dẫn; chỉ cần đọc kém, viết kém thì không học được

2. Giới hạn đề tài (phạm vi nghiên cứu và thực hiện):
Đề tài tập trung nghiên cứu công tác tổ chức lớp học tự quản theo
mô hình trường tiểu học mới của khối lớp 2,3,4 và 5 trong năm học năm
học 2014 - 2015. Áp dụng thực nghiệm tại lớp 2A4 điểm trường Xam Măn
và lớp 4A1 điểm trường Chóp Ly, trường tiểu học Xam Măn xã Keo Lôm
huyện Điện Biên Đông tỉnh Điện Biên.

7


NỘI DUNG
1. Thực trạng của công tác tổ chức lớp học tự quản, tự học của học
sinh dân tộc:
1.1. Tìm hiểu về công tác tổ chức lớp học tự quản, tự học:
Theo mô hình của trường học mới, quản lí lớp học là “Hội đồng tự quản
học sinh”, các “Ban” trong lớp, do học sinh tự nguyện xung phong và được các
bạn tín nhiệm. Sự thành lập cũng như hiệu quả hoạt động của “Hội đồng tự quản
học sinh”, các “Ban” rất cần sự tư vấn, khích lệ, giám sát của giáo viên, phụ
8


huynh, sự tích cực, trách nhiệm của học sinh. “Hội đồng tự quản học sinh” là
một biện pháp giúp học sinh được phát huy quyền làm chủ quá trình học tập,
giáo dục. Học sinh có điều kiện hiểu rõ quyền và trách nhiệm trong môi trường
giáo dục, được rèn các kĩ năng lãnh đạo, kĩ năng tham gia, hợp tác trong các
hoạt động.
Vậy “Hội đồng tự quản học sinh” là gì? Hội đồng tự quản là do học sinh,
với sự hướng dẫn của giáo viên tự tổ chức và thực hiện nhiệm vụ học tập. “Hội
đồng tự quản học sinh” bao gồm các thành viên là học sinh. Hội đồng tự quản
được thành lập là vì học sinh, bởi học sinh và để đảm bảo cho các em tham gia

(2) Bầu cử:
Một học sinh dưới sự hỗ trợ của giáo viên sẽ điều hành bầu cử. Các ứng
cử viên lần lượt tranh cử bằng các bài thuyết trình đã được chuẩn bị trước. Giáo
viên lưu ý không để học sinh cầm giấy đọc mà chủ động thể hiện khả năng
thuyết trình của mình. Ban kiểm phiếu làm việc sau khi các ứng cử viên đã
thuyết trình xong. Học sinh nào có số phiếu cao nhất từ trên xuống sẽ trúng cử
vào vị trí Chủ tịch và phó Chủ tịch Hội đồng tự quản học sinh. Chủ tịch và Phó
Chủ tịch ra mắt trước lớp.
(3) Thành lập các ban chuyên trách:
Chủ tịch và phó Chủ tịch Hội đồng tự quản học sinh cùng bàn bạc với giáo viên
để quyết định thành lập các ban chuyên trách và thông báo rõ về vai trò của các
ban như: Học tập, Sức khoẻ và vệ sinh, Quyền lợi học sinh, Lao động, Thư
viện... Số lượng các ban tuỳ theo tình hình lớp học và sự thống nhất giữa Chủ
tịch, phó Chủ tịch Hội đồng tự quản và học sinh trong lớp quyết định. Hội đồng
tự quản cùng giáo viên chủ nhiệm, có sự hỗ trợ của phụ huynh khuyến khích học
sinh đăng kí vào các ban theo nguyện vọng, sở thích. Sau khi thành lập các ban,
tiến hành bầu trưởng ban, thư kí và xây dựng kế hoạch hành động, động viên các
bạn cùng tham gia hoạt động. Để làm việc có hiệu quả, mỗi ban nên có sự hỗ
trợ, tư vấn của một phụ huynh và giáo viên. Có thể nói, quá trình thành lập “Hội
đồng tự quản học sinh” giúp các em hiểu được quá trình bầu cử tự do, công bằng
và dân chủ của đất nước, của địa phương; giúp học sinh có thể nảy sinh đề xuất
những ý tưởng mới của chính các em. Thông qua hoạt động này học sinh tự giác
hơn, phát huy tinh thần trách nhiệm, sự sáng tạo trong quản lý và chỉ đạo những
công việc được giao. Hy vọng rằng, mô hình dạy học kiểu mới sẽ ngày càng
10


được nhân rộng để các em học sinh, phụ huynh và các thầy cô giáo được cùng
nhau tham gia vào quá trình dạy - học đảm bảo theo mong muốn của xã hội về
nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh trong giai đoạn hiện nay.

thích ứng với việc dạy học sinh dân tộc đặc biệt là quá trình giao tiếp, tương tác
với các em gặp rất nhiều khó khăn, dẫn đến việc khó hình thành và rèn kĩ năng
tự học, tự quản cho các em. Vì vậy hiệu quả dạy học theo Mô hình VNEN còn
nhiều hạn chế.
Bên cạnh đó các dân tộc sống ở vùng cao thường có đời sống tự cung tự
cấp, phụ thuộc chủ yếu vào thiên nhiên. Vì vậy kinh tế thường nghèo đói, ít có
gia đình khá giả. Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình học tập của học
sinh. Thời gian ở nhà các em thường phải giúp bố mẹ làm việc nhà như chông
em, chăn trâu, làm nương… không cò thời gian học tập. Vẫn còn nhiều hủ tục
lạc hậu tồn tại trong dân như: Sinh nhiều con; chỉ cho con trai đi học; tảo hôn…
dẫn đến tỷ lệ học sinh bỏ học còn nhiều. Tệ nạn nghiện hút vẫn còn tồn tại phức
tạp. Vì thế việc duy trì đầy đủ số lượng học sinh đi học cũng là một vấn đề khó,
nếu các em đi học không đều thì không thể hình thành thói quen tự học, tự quản.
1.3. Thực trạng tự quản của học sinh:
Khi chưa áp dụng Mô hình Dự án VNEN thì việc tự quản của các em mới chỉ
dừng lại ở mức độ thực hiện các nhiệm vụ một cách thụ động do giáo viên giao cho.
Theo đó chỉ một số ít học sinh nằm trong ban cán sự lớp được tham gia vào công tác
tự quản. Các em hầu như chưa được chủ động thực hiện nhiệm vụ của mình.
Từ năm học 2012 – 2013 khi tham gia thực hiện thí điểm Dự án VNEN,
qua quan sát ở một số lớp trên các trường trong cụm. Đề tài đánh giá thực trạng
tự quản của học sinh như sau:
- Hình thức tổ chức tự quản đã thay đổi nhưng hiệu quả tự quản chưa thực
sự thay đổi nhiều.
- Hội đồng tự quản đã thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu nhưng vẫn chỉ là
thực hiện theo sự sắp xếp của giáo viên, chưa chủ động thực hiện diễn ra một
cách tự nhiên sáng tạo.
- Học sinh vẫn chờ sự gợi ý sắp xếp của giáo viên theo kịch bản có trước
và chỉ diễn lại một cách thụ động.

12

mạnh dạn trao đổi với bạn, trao đổi với giáo viên để nắm kiến thức cần đạt.

13


- Hoạt động tự học ở nhà hầu như không diễn ra, vì cha mẹ học sinh đa số chưa
quan tâm đến việc học của con em mình, không thể dạy thêm trong hoạt động ứng
dụng. Sự hỗ trợ của cộng đồng hầu như không có trong phối hợp giáo dục và dạy học.
Tóm lại: Sau một thời gian chưa dài áp dụng đổi mới phương pháp dạy học theo Mô hình
Dự án VNEN, ở vùng điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn đã đổi mới cơ bản về
phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với xu hướng phát triển của xã hội. Khi
triển khai thực hiện cũng đã bộc lộ những ưu điểm và hiệu quả đổi mới rõ rệt. Song bên
cạnh đó là một loạt vấn đề đặt ra cần được xem xét, nghiên cứu có những giải pháp phù
hợp áp dụng cho vùng miền, để thực hiện đổi mới phương pháp và hình thức dạy học theo
Mô hình Dự án VNEN, ở vùng điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn đạt được hiểu
quả cao nhất, đây là mục tiêu đề tài hướng tới. ”Trong cái khó ló cái khôn” nếu có sự nỗ
nực từ nhiều phía chúng ta hoàn toàn tin tưởng sẽ thực hiện thành công và hiệu quả trong
thực tiễn dạy học cho học sinh dân tộc.
2. Một số giải pháp giúp học sinh dân tộc hình thành kĩ năng tổ chức lớp
học tự quản, tự học theo Mô hình trường tiểu học kiểu mới (GPE – VNEN):
2.1. Kết quả khảo sát đầu năm học:
Ở lớp 2A4 trường tiểu học Xam Măn:
STT

1
2
3
4
5
6

Bình
Chưa
thườn
tốt
g
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
14

Thực trạng tự học
Tốt
Bình Chưa
thườn
tốt
g
x
x

Tòng Thị Thảo
Tòng T. Hương Giang

Lường T. Bích Ngọc
Cà Thị Linh

x
x

x
x

x
x
x

x
x

x
x
x
x

x

x

Tự quản: Tốt = 03 em; Bình thường = 09 em; Chưa tốt = 11 em.
Tự học: Tốt = 01 em; Bình thường = 06 em; Chưa tốt = 16 em.

23
24
25
26

Thào A Cu
Lò Văn Di
Quàng Thị Giang
Giàng Thị Ghềnh
Thào Thị Ghếnh
Lò Thị Thu Hà
Quàng Thị Hồng
Lò Văn Hùng
Lò Thị Hương
Thào Thị Mỷ
Lò Văn Minh
Quàng Thị Nguyên
Lò Thị Nguyên
Lường Thị Nguyệt
Lò Thị Nhung
Lò Thị Phương
Lò Văn Quân
Tòng Văn Sơn
Thào A Sàng
Thào A Tà
Lò Văn Tỷ
Quàng Văn Thủy
Lường Thị Thưởng
Thào Thị Vênh
Giàng A Vù

x

x
x

x

x
x

x

x
x

x

x
x
x
x

x
x
x

x

x
x



Tự quản: Tốt = 03 em; Bình thường = 12 em; Chưa tốt = 11 em.
Tự học: Tốt = 02 em; Bình thường = 10 em; Chưa tốt = 14 em.
2.2. Những giải pháp cần thực hiện ngay khi bước vào năm học mới:
2.2.1. Rèn thói quen và dần hình thành kĩ năng tự quản tự học:
Đầu năm học ngay khi nhận lớp giáo viên cần khảo sát và phân loại các đối
tượng học sinh. Chủ động tìm hiểu tính cách của từng cá nhân thông qua giao tiếp
trực tiếp với các em và thông tin từ giáo viên dạy trước. Sau hoạt động này giáo viên
phải nắm được khả năng học tập, khả năng giao tiếp, tâm tính của từng em.
Hình thành ban đầu bộ máy tổ chức lớp học tự quản: Trên cơ sở đã khảo
sát giáo viên thành lập Hội đồng tự quản của lớp. Lần lượt từ cao xuống thấp
giáo viên lựa chọn tương ứng những học sinh bạo dạn, tự tin, khả năng giao tiếp
bằng tiếng việt tốt hơn. Giao nhiệm vụ cụ thể cho từng cá nhân theo vị trí đã
được phân công, hằng ngày hướng dẫn các em thực hiện tự quản để dần dần
hình thành thói quen.
Sau một thời gian tổ chức thực hiện, khi đã nắm bắt chắc chắn về đối
tượng học sinh, giáo viên điều chỉnh phù hợp: Điều chỉnh Hội đồng tự quản,
việc điều chỉnh này có thể lấy ý kiến dân chủ từ học sinh để chọn ra các thành
viên xứng đáng thực hiện nhiệm vụ trong Hội đồng tự quản. Hội đồng tự quản
không nên thay đổi nhiều trong năm học. Chỉ nên điều chỉnh nhân sự cho hợp lý
theo học kì. Hằng ngày thực hiện nhiệm vụ như vậy chắc chắn sẽ hình thành
được thói quen, kết hợp với dẫn dắt của giáo viên, các em sẽ có được các kĩ
năng tự quản cần thiết theo yêu cầu.
Đối với các Ban học tập, nên lựa chọn các em cùng sở thích vào một Ban.
Thường xuyên thay đổi vai trò nhiệm vụ của cá nhân trong một Ban. Các thành
viên trong Ban phải được trải nghiệm (Trưởng ban, phó ban, báo cáo viên của
ban...) tất cả đều phải hợp tác tương tác trong tự quản và trong học tập. Để thực
hiện điều này giáo viên phải là người tổ chức hướng dẫn các em thực hiện. Ban
đầu chắc chắn gặp khó khăn với học sinh dân tộc, đòi hỏi giao viên kiên nhẫn

Toàn bộ học sinh trong lớp phải thực hiện tích cực các nhiệm vụ học tập
khi được yêu cầu.
Cách thức tiến hành như vậy được lặp đi lặp lại hằng ngày, hằng tuần học để
tạo thành thói quen tự quản cho các em. Trong quá trình thực hiện học sinh phải
được luôn phiên đảm nhiệm các nhiệm vụ tự quản khác nhau trong nhóm. Đối với
17


những học sinh còn rụt rè nhút nhát giáo viên cần cho học sinh trải nghiệm dần
dần, tuyệt đối không bỏ mặc các em, không để học sinh khác thay thế.
2.2.3. Khuyến khích học sinh tham gia tự quản thông qua các hoạt động
giáo dục:
Để hình thành kĩ năng tự quản, tự học cho học sinh không chỉ giáo viên
chủ nhiệm mà cần có sự tham gia của tất cả giáo viên dạy chuyên, giáo viên
tổng phụ trách Đội.
Hoạt động giáo dục đạo đức: Đây là hoạt động hết sức quan trọng, diễn ra
thường xuyên mọi nơi, mọi lúc mọi thời điểm. Thông qua hoạt động này có thể rèn
thói quen tự quản rất tốt cho học sinh. Trên cơ sở các hoạt động thực hành các chuẩn
mực hành vi đạo đức, học sinh có thể tự tổ chức các trò chơi sắm vai, tự bầy tỏ thái độ
trước một tình huống đạo đức cụ thể. Trong quá trình hoạt động phải huấn luyện để
các em tự tổ chức, tự thể hiện, giáo viên chỉ đóng vai trò định hướng giúp đỡ.
Hoạt động giáo dục âm nhạc: Rèn cho các em thói quen mạnh dạn tự tin
thể hiện trước đám đông. Tạo điều kiện dẫn dắt để học sinh tự tổ chức và biểu
diễn các bài hát, các động tác phụ họa đã học. Giáo viên có thể xây dựng kịch
bản để các em tự biểu diễn các tiết mục đơn giản, phù hợp với chương trình lớp
học. Gợi dẫn học sinh tự giới thiệu về bản thân, về tiết mục sẽ trình bày. Yêu
cầu các đối tượng học sinh đều phải mạnh dạn tham gia.
Hoạt động giáo dục mĩ thuật: Tổ chức cho học sinh tự trình bày về sản
phẩm mĩ thuật của bản thân. Trình bày các nhận xét đánh giá về các tác phẩm mĩ
thuật được xem hoặc nhận xét bài vẽ của các bạn. Định hướng cho học sinh nói

Rèn kĩ năng đọc hiểu cần được thực hiện ngay từ lớp đầu cấp học, bắt đầu
thực hiện từ khi các em nhận biết từ ngữ giáo viên cần chú trọng đặc biệt việc
dạy cho các em hiểu nghĩa từ. Để giúp các em hiểu và ghi nhớ khắc sâu, khi dạy
giáo viên phải gắn với thực tế cuộc sống hằng ngày của các em.
Trong quá trình học ở các lớp tiếp theo, giáo viên cũng cần chú trọng đặc biệt về kĩ
năng đọc hiểu. Trước hết cần dạy học sinh đọc đúng, rõ ràng các văn bản. Sau đó hướng
dẫn các em đọc ghi nhớ nội dung văn bản. Cần làm đi làm lại nhiều lần để học sinh hiểu
được nghĩa từ, câu, đoạn và toàn bộ văn bản. Với cách dạy học thiết thực tới từng đối
tượng học sinh, trong cả quá trình lâu dài học sinh sẽ biết được cách học đúng và sẽ dẫn
đạt được yêu cầu thực theo chuẩn kiến thức và kĩ năng các môn học.
2.3.2. Rèn kĩ năng giao tiếp:
19


Ngoài việc dạy học việc giáo dục là nhiệm vụ rất quan trọng của giáo viên
đối với học sinh. Rèn kĩ năng giao tiếp cho học sinh là một trong những nhiệm vụ
đó. Rèn kĩ năng giao tiếp cho học sinh được thực hiện hằng ngày trong các giờ học
ngoài giờ học, trong tất cả các hoạt động giáo dục ở nhà trường.
Giáo viên cần thường xuyên uốn nắn cách sử dụng Tiếng việt trong quá trình
tương tác giữa học sinh với giáo viên và giữa học sinh với học sinh. Lưu ý từ cách
dùng từ, nói câu thế nào là đúng. Cách xưng hô đúng với người đối diện, với hoàn
cảnh giao tiếp. Khi học sinh giao tiếp chưa đúng cần sửa ngay cho các em. Như vậy
sẽ giúp các em thực hiện nhiệm vụ tự quản tốt hơn.
Thường xuyên tổ chức các hoạt động tập thể trong môi trường lớp học để
các em học sinh có cơ hội rèn luyện khả năng giao tiếp. Yêu cầu các em luôn sử
dụng Tiếng việt trong học tập, trong vui chơi và trong cuộc sống hằng ngày. Kết
hợp với phụ huynh học sinh để rèn khả năng giao tiếp bằng Tiếng việt cho các em,
phụ huynh cần giao tiếp với các em bằng Tiếng việt nhiều hơn khi các em ở nhà.
2.3.3. Thường xuyên tổ chức các chuyên đề thảo luận về cách rèn kĩ năng tự
quản tự học cho học sinh:

Trong quá trình vận dụng đổi mới phương pháp và hình thức dạy học theo
cách tự quản, tự học của Mô hình Dự án VNEN, phương pháp chủ yếu là học
sinh tự học theo hướng dẫn của tài liệu và định hướng của giáo viên; hình thức
cơ bản là tự học theo nhóm. Để có thể áp dụng phương pháp dạy học theo nhóm
thành công và hình thức học nhóm trở thành một yếu tố tích cực trong cấu trúc
của một giờ dạy, chúng ta cần quan tâm một số yêu cầu:
* Đảm bảo nguyên tắc “Dạy học thông qua cách tổ chức các hoạt động học
tập của học sinh”:
Chúng ta đều biết mỗi phương pháp dạy học đều có một lợi thế nhất định. Việc
dạy học theo nhóm nhỏ cho phép học sinh có nhiều cơ hột hơn để diễn đạt và khám
phá ý tưởng của mình, mở rộng suy nghĩ, rèn luyện kĩ năng nói, kĩ năng giao tiếp. Học
sinh phát huy được vai trò trách nhiệm cá nhân vừa có cơ hội để học tập từ các bạn
qua cách làm việc hợp tác giữa các thành viên trong nhóm. Như vậy, tổ chức cho học
sinh làm việc theo nhóm chính là đã tạo điều kiện cho tất cả học sinh tham gia vào bài
học một cách chủ động và tạo được một môi trường xã hội thuận lợi để trẻ hình thành
tính cách đồng thời phát triển kĩ năng sống của mình.
* Đảm bảo phát triển kĩ năng sử dụng ngôn ngữ và khả năng giao tiếp cho
21


mọi đối tượng học sinh:
Kết luận của nhóm sau khi đã thống nhất là sản phẩm của nhóm, đó là quá
trình trao đổi, trình bày ý kiến của từng thành viên trong nhóm. Khi mà mỗi
thành viên trong nhóm đều phải đưa ra ý kiến thì đó chính là các em đã nói với
nhau, nghe lẫn nhau và đáp lại lời của bạn hay nói cụ thể là việc thảo luận nhóm
này đã làm cho tất cả học sinh đều phải đưa ra được chính kiến của mình. Điều
này đã góp phần rèn luyện cho học sinh ngôn ngữ nói, cách giao tiếp, cách diễn
đạt một vấn đề. Đây là điểm còn yếu của học sinh dân tộc.
* Đảm bảo rèn luyện và phát triển “năng lực hợp tác” cho học sinh - một
trong những mục tiêu giáo dục hàng đầu hiện nay.

- Việc nhận xét quá trình làm việc của nhóm cũng không nên qua loa, đại
khái. Càng đưa ra nhận định cụ thể càng giúp học sinh tích lũy nhiều kinh
nghiệm cho những lần làm việc sau. Những tiêu chí nhận xét cần thiết phải có:
- Sự phân công trong nhóm
- Tinh thần thái độ làm việc của các thành viên trong quá trình thảo luận.
- Kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao.
- Kĩ năng trình bày kết quả hoặc giải thích chất vấn trước lớp.
Cần khen ngợi những học sinh biết lắng nghe và đưa ra những câu hỏi thắc
mắc phù hợp.
* Đảm bảo khi xếp mô hình lớp học cần phải:
- Phù hợp yêu cầu tổ chức hoạt động dạy học.
- Đảm bảo có lối di chuyển để giáo viên có thể tiếp cận giúp đỡ các cá nhân và các nhóm.
- Học sinh có thể xoay trở dễ dàng, không bị ngồi sai tư thế.
- Không cố định vị trí của học sinh hoặc cố định nhóm để học sinh có cơ
hội thay đổi hướng nhìn.
3. Những kết quả đạt được:
Sau một thời gian không dài vừa áp dụng đổi mới vừa tìm tòi sáng
tạo các giải pháp các cách làm hay để áp dụng rèn kĩ năng tự quản tự học
cho học sinh lớp 2,3 và 4,5 theo Mô hình VNEN. Đề tài đã đạt được
những thành công nhất định, đã được kiểm chứng qua thực tế dạy và học
tại khối 2,3 và 4,5 trường tiểu học Xam Măn. Tập trung áp dụng nhiều tại
lớp 2A4 và lớp 4A1, kết quả đạt được như sau:
Lớp 2A4:
23


STT

1
2

Cà Thị Tỉnh
Quàng Văn Quyền
Cà Văn Dũng
Lò Mạnh Quỳnh
Quàng Văn Huy
Quàng Thị Thêm
Lò Văn Phòng
Quàng Văn Anh
Lò Văn Hạo
Lò Văn Quyết
Tòng Văn Vũ
Lường Thị Hơn
Tòng Thị Lan Tuyết
Tòng Thị Thảo
Tòng T. Hương Giang

Lường T. Bích Ngọc
Cà Thị Linh

Kết quả tự quản
Tốt
Bình
Chưa
thườn
tốt
g
x
x
x
x

x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x

So sánh với đầu năm học:
Tự quản: Tốt = 13 em(Tăng 10 em); Bình thường = 09 em(Tăng 0 em);
Chưa tốt = 01 em(Giảm 10 em).
Tự học: Tốt = 11 em(Tăng 10 em); Bình thường = 11 em(Tăng 5 em);
Chưa tốt = 01 em(Giảm 15 em).
Lớp 4A1:
STT

Tên học sinh


x

x
24

x

Chưa tốt


5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24

x
x
x
x

x
x
x
x
x
x

x
x
x

x
x

x
x
x

x
x
x

x
x
x

Thông qua các Hội thảo chuyên đề cấp trường và cấp cụm trong năm học vừa
qua, đề tài đã triển khai thực nghiệm trên tất cả giáo viên của nhà trường. Qua trao đổi
thảo luận có thể kết luận cơ bản giáo viên đã nắm bắt được tinh thần và nội dung đổi
25


Trích đoạn nghĩa của đề tài:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status