Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Đầu tư phát triển CSHT là vấn đề tất yếu mà bất kỳ đô thị nào cũng phải
thực hiện. Muốn thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một đô thị thì vấn
đề cần phải giải quyết đầu tiên chính là vấn đề đầu tư phát triển CSHT. Tăng
tốc xây dựng đồng bộ CSHT, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng hiện đại hóa nhằm phát triển nhanh kinh tế xã hội đòi hỏi rất nhiều
vốn. Thành phố Việt Trì cần phải đề ra và thực hiện các giải pháp huy động
vốn một cách hiệu quả từ nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài,
khơi dậy nguồn lực to lớn trong dân, cổ vũ các nhà kinh doanh thuộc các
thành phần kinh tế ra sức làm giàu cho mình, cho địa phương và cho đất nước.
Tuy nhiên, tại TP.Việt Trì trong giai đoạn 2006-2010, nguồn vốn huy
động cho hoạt động đầu tư phát triển CSHT đô thị chưa ổn định, còn thấp so
với điều kiện, tiềm năng, nhu cầu phát triển của Thành phố. Việc thu hút các
nguồn vốn phục vụ cho hoạt động đầu tư phát triển CSHT đô thị còn nhiều
hạn chế. Vì sao lại như vây? Thực trạng tình hình huy động vốn cho đầu tư
phát triển CSHT đô thị của Thành phố như thế nào? Và một số giải pháp cho
vấn đề này. Đây chính là những vấn đề cấp thiết đang đặt ra. Cũng từ những
yêu cầu đó, em đã chọn nghiên cứu đề tài “MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN
THIỆN CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ
TẦNG ĐÔ THỊ TẠI TP.VIỆT TRÌ”.
2. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận huy động vốn, mối quan hệ giữa đầu
tư và tăng trưởng kinh tế, kinh nghiệm của một số nước, một số thành phố
trong việc huy động vốn đầu tư, chuyên đề đi sâu phân tích và đánh giá tổng
quan thực trạng huy động vốn đầu tư phát triển CSHT đô thị trên địa bàn
SVTH: Đào Mạnh Hoàng Lớp: Kinh tế Quản lý đô thị 49
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
TP.Việt Trì giai đoạn 2006-2010. Đây là giai đoạn quan trọng, giai đoạn mà
giúp đỡ tận tình của các cô chú, anh chị trong “Ban Quản lý dự án xây dựng
công trình hạ tầng Thành phố Việt Trì” cùng với sự hướng dẫn của Thạc sĩ
Bùi Thị Hoàng Lan. Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Bùi Thị Hoàng Lan
đã tận tình chỉ bảo em trong quá trình thực hiện chuyên đề này.
SVTH: Đào Mạnh Hoàng Lớp: Kinh tế Quản lý đô thị 49
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan nội dung chuyên đề đã viết là do bản thân thực hiện,
không sao chép, cắt ghép các báo cáo hoặc luận văn của người khác; nếu sai
phạm tôi xin chịu kỷ luật với Nhà trường.
Hà Nội, ngày 26 tháng 11 năm 2010
Sinh viên
Đào Mạnh Hoàng
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG
VỐN CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG ĐÔ THỊ
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ SỞ HẠ TẦNG ĐÔ THỊ
1.1.1. Khái niệm cơ sở hạ tầng đô thị
SVTH: Đào Mạnh Hoàng Lớp: Kinh tế Quản lý đô thị 49
4
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
CSHT đô thị là những tài sản vật chất và các hoạt động hạ tầng có liên
quan dùng để phục vụ các nhu cầu kinh tế - xã hội của cộng đồng dân cư đô
thị.
Với khái niệm trên thì toàn bộ các công trình giao thông vận tải, bưu
điện, thông tin liên lạc, dịch vụ xã hội như: đường giao thông, sân bay, nhà
ga, xe lửa, hệ thống điện, đường ống xăng dầu, giáo dục phổ thông và chuyên
nghiệp, y tế, dịch vụ ăn uống công cộng, nghỉ ngơi, du lịch v...v được gọi là
CSHT đô thị.
- Theo tính chất phục vụ có thể phân ra:
+ CSHT đô thị phục vụ sản xuất vật chất
+ CSHT phục vụ nhu cầu văn hóa, tinh thần
- Theo trình độ phát triển có thể phân ra:
+ CSHT đô thị phát triển cao
+ CSHT đô thị phát triển trung bình
+ CSHT đô thị phát triển thấp
1.2. KHÁI NIỆM VỀ ĐẦU TƯ VÀ CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ
1.2.1 Khái niệm về đầu tư:
- Đầu tư là sự chi tiêu vốn cùng với các nguồn lực khác trong hiện tại để
tiến hành một hoạt động nào đó ( tạo ra, khai thác, sử dụng một tài sản ) nhằm
thu về các kết quả có lợi trong tương lai.
- Đầu tư là sự bỏ ra, sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại ( tiền, của cải,
công nghệ, đội ngũ lao động , trí tuệ, bí quyết công nghệ, … ), để tiến hành
một hoạt động nào đó ở hiện tại, nhằm đạt kết quả lớn hơn trong tương lai.
1.2.2. Các hình thức đầu tư:
Hoạt động đầu tư có thể được phân loại theo những tiêu thức khác nhau,
mỗi cách phân loại đều có ý nghĩa riêng trong việc theo dõi, quản lý và thực
hiện các hoạt động đầu tư.
Theo các lĩnh vực của nền kinh tế ở tầm vĩ mô, hoạt động đầu tư có thể
chia thành:
- Đầu tư tài chính: Là hình thức đầu tư dưới dạng cho vay hoặc mua các
chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước ( gửi tiền vào các ngân hàng,
mua trái phiếu… ) hoặc hưởng lãi suất tuỳ theo kết quả hoạt động sản xuất
SVTH: Đào Mạnh Hoàng Lớp: Kinh tế Quản lý đô thị 49
6
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
kinh doanh của công ty hiện hành ( cổ phiếu cty, trái phiếu công ty ). Đầu tư
tài chính không trực tiếp tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật mới cho nền kinh tế
song đây là một trong những nguồn cung cấp vốn quan trọng cho hoạt động
năm tháng với nhiều biến động xảy ra.
- Có giá trị sử dụng lâu dài: Các thành quả của hoạt động đầu tư phát
triển CSHT đô thị đa số là các công trình xây dựng do vậy có giá trị sử dụng
lâu dài.
- Cố định: Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển CSHT đô thị là
các công trình xây dựng sẽ hoạt động ở ngay nơi mà nó được tạo dựng cho
nên các điều kiện về địa lý, địa hình có ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện
đầu tư, cũng như việc phát huy kết quả đầu tư . Vì vậy cần được bố trí hợp lý
địa điểm xây dựng đảm bảo các yêu cầu về an ninh quốc phòng, phải phù hợp
với kế hoạch, quy hoạch bố trí tại nơi có điều kiện thuận lợi, để khai thác lợi
thế so sánh của vùng, quốc gia, đồng thời phải đảm bảo được sự phát triển cân
đối của đô thị, của vùng lãnh thổ .
- Liên quan đến nhiều ngành: hoạt động đầu tư phát triển CSHT đô thị
rất phức tạp liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực. Diễn ra không những
ở phạm vi một địa phương mà còn nhiều địa phương với nhau. Vì vậy khi tiến
hanh hoạt động này, cần phải có sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành, các cấp
trong quản lý quá trình đầu tư, bên cạnh đó phải qui định rõ phạm vi trách
nhiệm của các chủ thể tham gia đầu tư, tuy nhiên vẫn phải đảm bảo được tính
tập trung dân chủ trong quá trình thực hiện đầu tư.
1.4. LÝ LUẬN VỀ VỐN VÀ CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN
1.4.1. Khái niệm về vốn và công tác huy động vốn
Khái niệm về vốn: Vốn là một khối lượng tiền tệ nào đó được đưa vào
lưu thông với mục đích kiếm lời. Số tiền đó được sử dụng muôn hình muôn
SVTH: Đào Mạnh Hoàng Lớp: Kinh tế Quản lý đô thị 49
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
vẻ nhưng suy cho cùng là để mua sắm tư liệu sản xuất và để trả công cho
người lao động nhằm hoàn thành công việc sản xuất kinh doanh hoặc dịch vụ
nào đó với mục đích là thu về số tiền lớn hơn.
Vốn đầu tư chính là tiền tích luỹ của xã hội của các cơ sở sản xuất kinh
nhu cầu đầu tư, sẽ hạn chế đến quá trình mở rộng hoạt động đầu tư và rất khó
hoặc không thể đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế mong muốn. Tiết kiệm
quá nhiều tạo ra lực cản với quá trình mở rộng đầu tư. Cần phải có sự phù hợp
giữa tiết kiệm, đầu tư tăng trưởng của từng nước và từng giai đoạn phát triển
của đất nước.
- Đầu tư sẽ tạo ra cơ sở để mở rộng nguồn tiết kiệm vì bất kỳ người đầu
tư nào khi cảm thấy cơ hội đầu tư có lợi hay có hiệu quả về kinh tế - xã hội thì
người ta sẵn sàng đầu tư không phân biệt đầu tư đó thuộc loại hình sở hữu nào
và đầu tư theo hình thức trực tiếp hay đầu tư gián tiếp. Hiệu quả của đầu tư
đạt được do kết quả đầu tư mang lại sẽ là cơ hội để huy động được các nguồn
tiết kiệm cho đầu tư kế tiếp với quy mô lớn hơn.
- Để tiết kiệm biến thành đầu tư có nhiều nhân tố tác động suy cho cùng
có hai nhân tố cơ bản là an toàn và lợi ích. Đồng thời đầu tư là cơ sở để tạo ra
tiết kiệm với quy mô lớn hơn cũng bị hai nhân tố cơ bản nói trên chi phối và
quyết định.
- Hoạt động tiết kiệm và đầu tư trong những trường hợp cụ thể có thể độc
lập với nhau vì tiết kiệm bị động phụ thuộc vào yếu tố khác nữa.
1.4.2.3. Yếu tố giao lưu giữa các dòng vốn.
Quá trình đi tìm các biện pháp rút ngắn khoảng cách để người tiết kiệm và
người đầu tư gặp nhau trực tiếp hoặc gián tiếp, tiến hành mua bán quyền sử
SVTH: Đào Mạnh Hoàng Lớp: Kinh tế Quản lý đô thị 49
10
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
dụng vốn, sau khi thoả thuận với nhau về giá cả của vốn và các điều kiện ràng
buộc khác dẫn đến hình thành và phát triển thị trường tài chính là một yếu tố
khách quan của nền kinh tế thị trường. Nó đóng vai trò quan trọng thúc đẩy
giao lưu vốn để phát triển kinh tế xã hội. Vai trò của thị trường tài chính :
- Đóng vai trò to lớn trong việc thu hút, hoạt động các nguồn tài chính
nhàn rỗi để tài trợ cho nhu cầu vốn đang bị thiếu hụt của những người chi tiêu
hay đầu tư góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.
lành mạnh, thu hút vốn đầu tư và định hướng đầu tư của khu vực doanh
nghiệp.
- Thứ hai: Điều tiết thị trường giá cả, chống lạm phát. Nhà nước sẽ can
thiệp vào thị trường thông qua các khoản chi của ngân sách Nhà nước dưới
hình thức tài trợ vốn, trợ giá và sử dụng các quỹ Nhà nước về hàng hoá và tài
chính.
- Thứ ba: Điều tiết thu nhập để thực hiện công bằng xã hội bằng cách áp
dụng mức thuế thu nhập.
Nguồn ngân sách bao gồm: Nguồn thu trong nước và nguồn thu bổ sung từ
bên ngoài (chủ yếu thông qua nguồn vốn ODA và một số ít là vay nợ nước ngoài).
Do thuế là một nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước (chiếm hơn
90%) cho nên việc huy động vốn ngân sách Nhà nước phụ thuộc rất nhiều vào
chính sách thuế. Cải cách thuế có tác động trực tiếp tới ngân sách Nhà nước.
Việc miễn giải thuế cần đi đôi với việc mở rộng phạm vi và đối tượng nộp
thuế nhằm bảo đảm quy mô của ngân sách Nhà nước.
1.4.3.1.2. Nguồn vốn huy động từ các doanh nghiệp Nhà nước
SVTH: Đào Mạnh Hoàng Lớp: Kinh tế Quản lý đô thị 49
12
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Đây là nguồn vật lực to lớn nhất của Nhà nước, nguồn vốn này do các
DNNN quản lý. Ngoài ra nguồn tài sản công ở dạng tiềm năng là tài sản Nhà
nước do các cơ quan hành chính sự nghiệp, đơn vị lực lượng vũ trang, cơ
quan Đảng đoàn thể quản lý. DNNN quản lý những tài nguyên quốc gia nơi
có giá trị to lớn. Để huy động được nguồn vốn này thì đòi hỏi phải có sự quản
lý hiệu quả ở các DNNN.
Hiện nay nguồn tích luỹ từ các doanh nghiệp còn rất hạn chế bởi lẽ các
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hiệu quả còn thấp công nghệ chưa được
đổi mới, chất lượng của sản phẩm chưa cao nên khả năng tiết kiệm cho đầu tư
chưa nhiều. Mặt khác vốn khấu hao chưa được quản lý nghiêm ngặt và đầy
đủ. Vì thế để huy động được nguồn vốn lớn trong DNNN thì đòi hỏi Nhà
nền kinh tế. Đây được coi là một lợi thế mà không một phương thức huy động
nào có thể làm được.
1.4.3.2. Nguồn vốn nước ngoài
1.4.3.2.1. Vốn ODA
Vốn ODA: bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn
lại hoặc tín dụng ưu đãi của các chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ
chức phi chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liên Hợp Quốc, các tổ chức
tài chính quốc tế dành cho các nước đang và chậm phát triển. Đây là nguồn
vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các chính phủ nước ngoài cung cấp
với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển. So với các hình thức tài trợ
khác, ODA mang tính ưu đãi cao hơn bất cứ nguồn vốn ODF nào khác. Ngoài
các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay tương đối lớn, bao giờ trong
ODA cũng có yếu tố không hoàn lại (còn gọi là thành tố hỗ trợ) đạt ít nhất
25%.
SVTH: Đào Mạnh Hoàng Lớp: Kinh tế Quản lý đô thị 49
14
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Mặc dù có tính ưu đãi cao, song sự ưu đãi cho loại vốn này thường di
kèm các điều kiện và ràng buộc tương đối khắt khe (tính hiệu quả của dự án,
thủ tục chuyển giao vốn và thị trường…). Vì vậy, để nhận được loại tài trợ
hấp dẫn này với thiệt thòi ít nhất, cần phải xem xét dự án trong điều kiện tài
chính tổng thể. Nếu không việc tiếp nhận viện trợ có thể trở thành gánh nặng
nợ nần lâu dài cho nền kinh tế. Điều này có hàm ý rằng, ngoài những yếu tố
thuộc về nội dung dự án tài trợ, còn cần có nghệ thuật thoả thuận để vừa có
thể nhận vốn, vừa bảo tồn được những mục tiêu có tính nguyên tắc.
1.4.3.2.2. Vốn FDI
Nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài có đặc điểm cơ bản khác nguồn vốn
nước ngoài khác là việc tiếp nhận nguồn vốn này không phát sinh nợ cho
nước tiếp nhận. Thay vì nhận lãi suất trên vốn đầu tư, nhà đầu tư sẽ nhận
được phần lợi nhuận thích đáng khi dự án đầu tư hoạt động có hiệu quả. Đầu
đó là: Nhân lực, vật lực, tài lực (vốn), thông tin và sự quản lý. Nếu thiếu vốn
thì quá trình sản xuất sẽ không thể được tiến hành.
Vốn là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với các nước đặc biệt là đối với
nước đang phát triển như Việt Nam. Việt Nam là một nước tiến hành công
nghiệp hoá, hiện đại hoá muộn so với thế giới, mặt khác lại có xuất phát điểm
thấp, đó là những khó khăn cản trở sự phát triển kinh tế. Để khắc phục những
khó khăn này thì vốn đóng vai trò rất quan trọng. Nước ta cần phải có một
lượng vốn lớn để xây dựng và nâng cấp CSHT, đào tạo nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực và đổi mới thiết bị công nghệ… cho quá trình phát triển nền
kinh tế.
SVTH: Đào Mạnh Hoàng Lớp: Kinh tế Quản lý đô thị 49
16
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Vấn đề đặt ra là không phải tìm mọi cách để huy động cho được các
nguồn vốn mà phải coi trọng việc quản lý và sử dụng nguồn vốn ấy cho đầu
tư phát triển sao cho có hiệu quả để nguồn vốn ấy sinh sôi nảy nở và đạt được
hiệu quả kinh tế - xã hội đề ra.
1.5.2. Vai trò của đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đô thị
Nhìn một cách tổng quát: đầu tư phát triển CSHT đô thị trước hết là
hoạt động đầu tư nên cũng có những vai trò chung của hoạt động đầu tư như:
tác động đến tổng cung và tổng cầu, tác động đến sự ổn định, tăng trưởng và
phát triển kinh tế, tăng cường khả năng khoa học và công nghệ của đất nước.
Ngoài ra với tính chất đặc thù của mình, đầu tư phát triển CSHT đô thị
là điều kiện trước tiên và cần thiết cho phát triển nền kinh tế đô thị, có những
ảnh hưởng vai trò riêng đối với nền kinh tế đô thị và với từng cơ sở sản xuất.
Đó là:
- Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đô thị đảm bảo tính tương ứng giữa cơ
sở vật chất kỹ thuật và phương thức sản xuất.
- Mỗi phương thức sản xuất từ đặc điểm sản phẩm , yếu tố nhân lực, vốn
và điều kiện về địa điểm, … lại có đòi hỏi khác biệt về máy móc thiết bị; nhà
dân. Thông qua biện pháp này Nhật đã huy động được nguồn vốn rất lớn cho
phát triển kinh tế, phát triển CSHT đô thị.
1.6.2. Kinh nghiệm ở Hàn Quốc
Kinh tế Hàn Quốc bắt đầu cất cánh từ thập kỷ 60, kể từ kế hoạch phát
triển kinh tế xã hội 5 năm lần thứ nhất ra đời năm 1962, nền kinh tế đã duy trì
được tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh. Bình quân tốc độ tăng GDP hàng năm
là 9% cao hơn rất nhiều so với tốc độ tăng bình quân của thế giới. Để có
nguồn vốn cho các hoạt động đầu tư phát triển, Hàn Quốc đã tiến hành thu hút
vốn đầu tư từ các nguồn bằng cách:
SVTH: Đào Mạnh Hoàng Lớp: Kinh tế Quản lý đô thị 49
18
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Đối với vốn trong nước, Hàn Quốc sử dụng công cụ thuế và tăng cường
tiết kiệm chính phủ, sử dụng công cụ thuế như một công cụ kích thích đầu tư,
tăng cường sử dụng chính sách lãi suất thấp, chính phủ đưa ra các điều kiện
để hoàn lại vốn và trả lãi cho các nhà đầu tư.
- Đối với nguồn vốn ngoài nước: trong thời kỳ bước đầu phát triển kinh
tế, nền kinh tế Hàn Quốc đã vấp phải nhiều khó khăn như thiếu vốn, trình độ
lao động còn chưa cao. Trong hoàn cảnh đó, Hàn Quốc không chỉ sử dụng
nguồn vốn trong nước mà còn tiến hành thu hút các nguồn vốn từ nước ngoài
như vốn ODA, vốn FDI. Đặc biệt đã nhận một lượng vốn khổng lồ từ Mỹ đổ
sang. Sau đó sử dụng nguồn vốn này để phát triển kinh tế, cải tổ bộ máy, cuối
cùng đã trở thành một nước phát triển như hiện nay.
1.6.3. Kinh nghiệm ở Anh
Học thuyết Mác đã nhận định sự tích lũy tư bản nguyên thủy nhất thiết
phải diễn ra trước khi có sự phát triển kinh tế. Cơ sở thực tiễn của học thuyết
này bắt nguồn từ thực tiễn kinh nghiệm phát triển kinh tế của nước Anh, nơi
mà buôn bán, bóc lột thuộc địa và một số hình thức khác đã tạo cho nước Anh
có được nguồn vốn tích lũy khổng lồ. Đến cuối thế kỷ XVIII nguồn vốn tích
lũy của nước Anh biến thành tư bản đầu tư vào công nghiệp. Từ thực tiễn đó
2.1. TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, ĐIỀU KIỆN KTXH
CỦA TP.VIỆT TRÌ
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
Thành phố Việt Trì là trung tâm kinh tế, chính trị, xã hội của tỉnh Phú
Thọ. Việt Trì mang tên thành phố ngã ba sông, điều đó đã phần nào nói lên vị
trí địa lý và điều kiện tự nhiên của TP.Việt Trì. Việt Trì là một thành phố
trung du và là nơi hợp lưu của ba con sông lớn đó là sông Hồng, sông Thao và
sông Lô, đó là một thuận lợi cho việc phát triển kinh tế - xã hội của TP.Việt
Trì nói riêng và tỉnh Phú Thọ nói chung, chính điều kiện tự nhiên này tạo điều
kiện thuận lợi cho Thành phố trong việc vận chuyển hàng hoá bằng dường
thuỷ. Tỉnh Phú Thọ giáp ranh với nhiều tỉnh như tỉnh Yên Bái, tỉnh Tuyên
Quang, tỉnh Vĩnh Phúc,… các tỉnh này đều có tốc độ tăng trưởng ổn định, đó
SVTH: Đào Mạnh Hoàng Lớp: Kinh tế Quản lý đô thị 49
20
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
chính là thị trường rộng lớn cho các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố tiêu
thụ, cùng với đó là việc giao thông với các tỉnh thuận lợi.
TP.Việt Trì phát triển cả nông nghiệp và công nghiệp, là một thành phố
trung du miền núi với khí hậu miền núi mát mẻ, thuận lợi làm nhiều mùa vụ
nông nghiệp trong năm, phát triển nhiều loại hình chăn nuôi, là điều kiện tốt
cho các giống cây trồng .
TP.Việt Trì đã được chọn làm nơi xây dựng khu công nghiệp hiện đại
đầu tiên của đất nước vào năm 1962 bởi vì điều kiện tự nhiên thuận lợi, tài
nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng, các tuyến đường vận chuyển ngày
càng được nâng cấp.
Tiềm năng du lịch tại TP.Việt Trì là rất lớn và chưa được khai thác một
cách triệt để. TP.Việt Trì nổi tiếng với khu du lịch di tích lịch sử Đền Hùng,
ngoài khu di tích này, còn có các tài nguyên du lịch khác ví dụ như suối nước
khoáng nóng ở Thanh Thủy,… nếu khai thác tốt các tài nguyên du lịch này,
TP.Việt Trì sẽ thu hút được số lượng du khách rất lớn. Đền Hùng là một di
bản địa sống lâu đời ở địa phương với đồng bào các tỉnh khác đến xây dựng
quê hương mới qua các thời kỳ lịch sử, từ thời phong kiến, thời Pháp thống trị
cho đến thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Đến nay đã phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở trên toàn địa
bàn Thành phố. Tỷ lệ người biết chữ đạt 98,3% dân số.
CSHT đô thị là một trong những điều kiện cơ bản có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng đối với phát triển kinh tế xã hội ở đô thị. Phát triển CSHT đô thị
không chỉ có tác dụng tích cực đến sự đi lại, vận chuyển hàng hoá và thông
SVTH: Đào Mạnh Hoàng Lớp: Kinh tế Quản lý đô thị 49
22
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
thương giữa các vùng mà nó còn là cầu nối quan trọng trong quá trình thu hút đầu
tư giữa các đô thị trong nước và các nước khác trong khu vực và trên thế giới .
2.2. THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ
SỞ HẠ TẦNG ĐÔ THỊ TẠI TP.VIỆT TRÌ
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính
sách nhằm xây dựng và phát triển CSHT đô thị. Phát triển CSHT đô thị trở
thành yêu cầu bức thiết khách quan trong tiến trình phát triển các đô thị theo
hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá. Bằng nhiều biện pháp chính sách hỗ trợ
kỹ thuật, tiền vốn, hướng dẫn huy động nguồn lực trong dân và các địa
phương cũng như thu hút các nguồn đầu tư từ nước ngoài, những năm gần
đây lĩnh vực đầu tư phát triển CSHT đô thị của TP Việt Trì đã có nhiều bước
tiến nổi bật. Và tình hình huy động vốn đầu tư cho CSHT đô thị được thể hiện.
2.2.1. Tình hình huy động nguồn vốn trong nước.
2.2.1.1. Nguồn từ Ngân sách.
Bảng 2- Vốn ngân sách giai đoạn 2006 – 2010
Đơn vị: tỷ đồng
Tổng số 2312 2774,4 3323 3655,3 3774,3 15.839
Tỷ lệ (%) (100) (100) (100) (100) (100) (100)
Vốn ngân sách 1301,66 1502,06 2001,44 2206 1984,15 8995,31
(Nguồn: Ban quản lý dự án xây dựng công trình hạ tầng TP Việt Trì)
Hiện nay trên địa bàn TP Việt Trì có 27 DNNN hoạt động, xét về mặt số
lượng chỉ chiếm khoảng 19% so với số lượng các doanh nghiệp có trên địa
bàn, nhưng hàng năm đóng góp từ 38-46% GDP. Các DNNN nắm giữ hầu hết
các nguồn lực cơ bản của Thành phố: 70,6% tổng vốn, 85% tài sản cố định,
SVTH: Đào Mạnh Hoàng Lớp: Kinh tế Quản lý đô thị 49
25