LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Đầu tư phát triển CSHT là vấn đề tất yếu mà bất kỳ đô thị nào cũng phải
thực hiện. Muốn thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một đô thị thì vấn
đề cần phải giải quyết đầu tiên chính là vấn đề đầu tư phát triển CSHT. Tăng
tốc xây dựng đồng bộ CSHT, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng hiện đại hóa nhằm phát triển nhanh kinh tế xã hội đòi hỏi rất nhiều
vốn. Thành phố Việt Trì cần phải đề ra và thực hiện các giải pháp huy động
vốn một cách hiệu quả từ nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài,
khơi dậy nguồn lực to lớn trong dân, cổ vũ các nhà kinh doanh thuộc các
thành phần kinh tế ra sức làm giàu cho mình, cho địa phương và cho đất nước.
Tuy nhiên, tại TP.Việt Trì trong giai đoạn 2006-2010, nguồn vốn huy
động cho hoạt động đầu tư phát triển CSHT đô thị chưa ổn định, còn thấp so
với điều kiện, tiềm năng, nhu cầu phát triển của Thành phố. Việc thu hút các
nguồn vốn phục vụ cho hoạt động đầu tư phát triển CSHT đô thị còn nhiều
hạn chế. Vì sao lại như vây? Thực trạng tình hình huy động vốn cho đầu tư
phát triển CSHT đô thị của Thành phố như thế nào? Và một số giải pháp cho
vấn đề này. Đây chính là những vấn đề cấp thiết đang đặt ra. Cũng từ những
yêu cầu đó, em đã chọn nghiên cứu đề tài “MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN
THIỆN CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ
TẦNG ĐÔ THỊ TẠI TP.VIỆT TRÌ”.
2. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận huy động vốn, mối quan hệ giữa đầu
tư và tăng trưởng kinh tế, kinh nghiệm của một số nước, một số thành phố
trong việc huy động vốn đầu tư, chuyên đề đi sâu phân tích và đánh giá tổng
quan thực trạng huy động vốn đầu tư phát triển CSHT đô thị trên địa bàn
TP.Việt Trì giai đoạn 2006-2010. Đây là giai đoạn quan trọng, giai đoạn mà
SVTH: Đào Mạnh Hoàng Lớp: Kinh tế Quản lý đô thị 49
1
Thành phố có những bước khởi sắc rõ rệt trong phát triển kinh tế - xã hội.
Dựa theo mục tiêu phát triển và các chỉ tiêu theo quy hoạch phát triển kinh tế
đã tận tình chỉ bảo em trong quá trình thực hiện chuyên đề này.
SVTH: Đào Mạnh Hoàng Lớp: Kinh tế Quản lý đô thị 49
3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan nội dung chuyên đề đã viết là do bản thân thực hiện,
không sao chép, cắt ghép các báo cáo hoặc luận văn của người khác; nếu sai
phạm tôi xin chịu kỷ luật với Nhà trường.
Hà Nội, ngày 26 tháng 11 năm 2010
Sinh viên
Đào Mạnh Hoàng
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG
VỐN CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG ĐÔ THỊ
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ SỞ HẠ TẦNG ĐÔ THỊ
1.1.1. Khái niệm cơ sở hạ tầng đô thị
SVTH: Đào Mạnh Hoàng Lớp: Kinh tế Quản lý đô thị 49
4
CSHT đô thị là những tài sản vật chất và các hoạt động hạ tầng có liên
quan dùng để phục vụ các nhu cầu kinh tế - xã hội của cộng đồng dân cư đô
thị.
Với khái niệm trên thì toàn bộ các công trình giao thông vận tải, bưu
điện, thông tin liên lạc, dịch vụ xã hội như: đường giao thông, sân bay, nhà
ga, xe lửa, hệ thống điện, đường ống xăng dầu, giáo dục phổ thông và chuyên
nghiệp, y tế, dịch vụ ăn uống công cộng, nghỉ ngơi, du lịch v...v được gọi là
CSHT đô thị.
1.1.2. Vai trò, ý nghĩa cơ sở hạ tầng đô thị
Vai trò: sự phát triển CSHT đô thị có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát
triển của nền sản xuất xã hội, dịch vụ xã hội và việc nâng cao hiệu quả của nó,
cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, vai trò của CSHT không ngừng
tăng lên. Do đó, hình thành CSHT vật chất mới hiện đại tiên tiến hơn, đảm
+ CSHT đô thị phát triển thấp
1.2. KHÁI NIỆM VỀ ĐẦU TƯ VÀ CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ
1.2.1 Khái niệm về đầu tư:
- Đầu tư là sự chi tiêu vốn cùng với các nguồn lực khác trong hiện tại để
tiến hành một hoạt động nào đó ( tạo ra, khai thác, sử dụng một tài sản ) nhằm
thu về các kết quả có lợi trong tương lai.
- Đầu tư là sự bỏ ra, sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại ( tiền, của cải,
công nghệ, đội ngũ lao động , trí tuệ, bí quyết công nghệ, … ), để tiến hành
một hoạt động nào đó ở hiện tại, nhằm đạt kết quả lớn hơn trong tương lai.
1.2.2. Các hình thức đầu tư:
Hoạt động đầu tư có thể được phân loại theo những tiêu thức khác nhau,
mỗi cách phân loại đều có ý nghĩa riêng trong việc theo dõi, quản lý và thực
hiện các hoạt động đầu tư.
Theo các lĩnh vực của nền kinh tế ở tầm vĩ mô, hoạt động đầu tư có thể
chia thành:
- Đầu tư tài chính: Là hình thức đầu tư dưới dạng cho vay hoặc mua các
chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước ( gửi tiền vào các ngân hàng,
mua trái phiếu… ) hoặc hưởng lãi suất tuỳ theo kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của công ty hiện hành ( cổ phiếu cty, trái phiếu công ty ). Đầu tư
SVTH: Đào Mạnh Hoàng Lớp: Kinh tế Quản lý đô thị 49
6
tài chính không trực tiếp tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật mới cho nền kinh tế
song đây là một trong những nguồn cung cấp vốn quan trọng cho hoạt động
đầu tư phát triển. Do đó đầu tư tài chính còn gọi là sự đầu tư di chuyển.
- Đầu tư thương mại: Là hình thức đầu tư dưới dạng bỏ tiền vốn mua hàng
hóa để bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá mua và giá
bán. Đầu tư thương mại nói chung không tạo ra tài sản cho nền kinh tế, song
lại có vai trò rất quan trọng đối với quá trình lưu thông hàng hoá, thúc đẩy sản
xuất kinh doanh, thúc đẩy các hoạt động đầu tư phát triển .
- Đầu tư phát triển: là hoạt động đầu tư mà trong đó người có tiền bỏ tiền
địa điểm xây dựng đảm bảo các yêu cầu về an ninh quốc phòng, phải phù hợp
với kế hoạch, quy hoạch bố trí tại nơi có điều kiện thuận lợi, để khai thác lợi
thế so sánh của vùng, quốc gia, đồng thời phải đảm bảo được sự phát triển cân
đối của đô thị, của vùng lãnh thổ .
- Liên quan đến nhiều ngành: hoạt động đầu tư phát triển CSHT đô thị
rất phức tạp liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực. Diễn ra không những
ở phạm vi một địa phương mà còn nhiều địa phương với nhau. Vì vậy khi tiến
hanh hoạt động này, cần phải có sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành, các cấp
trong quản lý quá trình đầu tư, bên cạnh đó phải qui định rõ phạm vi trách
nhiệm của các chủ thể tham gia đầu tư, tuy nhiên vẫn phải đảm bảo được tính
tập trung dân chủ trong quá trình thực hiện đầu tư.
1.4. LÝ LUẬN VỀ VỐN VÀ CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN
1.4.1. Khái niệm về vốn và công tác huy động vốn
Khái niệm về vốn: Vốn là một khối lượng tiền tệ nào đó được đưa vào
lưu thông với mục đích kiếm lời. Số tiền đó được sử dụng muôn hình muôn
vẻ nhưng suy cho cùng là để mua sắm tư liệu sản xuất và để trả công cho
SVTH: Đào Mạnh Hoàng Lớp: Kinh tế Quản lý đô thị 49
8
người lao động nhằm hoàn thành công việc sản xuất kinh doanh hoặc dịch vụ
nào đó với mục đích là thu về số tiền lớn hơn.
Vốn đầu tư chính là tiền tích luỹ của xã hội của các cơ sở sản xuất kinh
doanh, dịch vụ là vốn huy động của dân và vốn huy động từ các nguồn khác,
được đưa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm
lực sẵn có và tạo tiềm lực mới cho nền sản xuất xã hộ
Nguồn vốn chính là nơi mà từ đó có thể khai thác được một số lượng
vốn nào đó để phục vụ cho nhu cầu của các hoạt động kinh tế xã hội
Huy động vốn: là việc tìm ra một nguồn tiền dùng để thực hiện một ý
tưởng hay dự án nào đó.
1.4.2. Các yếu tố tác động đến công tác huy động vốn đầu tư:
1.4.2.1. Mối quan hệ giữa thu nhập và tiết kiệm
tiết kiệm cho đầu tư kế tiếp với quy mô lớn hơn.
- Để tiết kiệm biến thành đầu tư có nhiều nhân tố tác động suy cho cùng
có hai nhân tố cơ bản là an toàn và lợi ích. Đồng thời đầu tư là cơ sở để tạo ra
tiết kiệm với quy mô lớn hơn cũng bị hai nhân tố cơ bản nói trên chi phối và
quyết định.
- Hoạt động tiết kiệm và đầu tư trong những trường hợp cụ thể có thể độc
lập với nhau vì tiết kiệm bị động phụ thuộc vào yếu tố khác nữa.
1.4.2.3. Yếu tố giao lưu giữa các dòng vốn.
Quá trình đi tìm các biện pháp rút ngắn khoảng cách để người tiết kiệm và
người đầu tư gặp nhau trực tiếp hoặc gián tiếp, tiến hành mua bán quyền sử
dụng vốn, sau khi thoả thuận với nhau về giá cả của vốn và các điều kiện ràng
buộc khác dẫn đến hình thành và phát triển thị trường tài chính là một yếu tố
khách quan của nền kinh tế thị trường. Nó đóng vai trò quan trọng thúc đẩy
giao lưu vốn để phát triển kinh tế xã hội. Vai trò của thị trường tài chính :
SVTH: Đào Mạnh Hoàng Lớp: Kinh tế Quản lý đô thị 49
10
- Đóng vai trò to lớn trong việc thu hút, hoạt động các nguồn tài chính
nhàn rỗi để tài trợ cho nhu cầu vốn đang bị thiếu hụt của những người chi tiêu
hay đầu tư góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.
- Đóng vai trò quan trọng thúc đẩy nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn
tài chính tạo điều kiện cho việc giao lưu vốn từ khu vực kinh doanh hay chi
tiêu kém hiệu quả sang lĩnh vực có hiệu quả hơn.
- Góp phần tạo điều kiện giao lưu vốn trong nước với nước ngoài đồng
thời có thể thu hút được vốn đầu tư từ nước ngoài vào.
1.4.3. Các nguồn huy động vốn đầu tư
1.4.3.1. Nguồn vốn trong nước
1.4.3.1.1. Nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước
Về hình thức: Ngân sách Nhà nước là một bảng tổng hợp các khoản thu
và các khoản chi của Nhà nước trong một năm tài chính theo dự toán ngân
sách đã duyệt.
chính sách thuế. Cải cách thuế có tác động trực tiếp tới ngân sách Nhà nước.
Việc miễn giải thuế cần đi đôi với việc mở rộng phạm vi và đối tượng nộp
thuế nhằm bảo đảm quy mô của ngân sách Nhà nước.
1.4.3.1.2. Nguồn vốn huy động từ các doanh nghiệp Nhà nước
Đây là nguồn vật lực to lớn nhất của Nhà nước, nguồn vốn này do các
DNNN quản lý. Ngoài ra nguồn tài sản công ở dạng tiềm năng là tài sản Nhà
nước do các cơ quan hành chính sự nghiệp, đơn vị lực lượng vũ trang, cơ
quan Đảng đoàn thể quản lý. DNNN quản lý những tài nguyên quốc gia nơi
SVTH: Đào Mạnh Hoàng Lớp: Kinh tế Quản lý đô thị 49
12
có giá trị to lớn. Để huy động được nguồn vốn này thì đòi hỏi phải có sự quản
lý hiệu quả ở các DNNN.
Hiện nay nguồn tích luỹ từ các doanh nghiệp còn rất hạn chế bởi lẽ các
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hiệu quả còn thấp công nghệ chưa được
đổi mới, chất lượng của sản phẩm chưa cao nên khả năng tiết kiệm cho đầu tư
chưa nhiều. Mặt khác vốn khấu hao chưa được quản lý nghiêm ngặt và đầy
đủ. Vì thế để huy động được nguồn vốn lớn trong DNNN thì đòi hỏi Nhà
nước phải tiến hành sửa đổi và ban hành các chính sách để khuyến khích
doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, để có thể đầu tư phát triển sản xuất.
1.4.3.1.3. Nguồn vốn huy động từ tư nhân:
Nguồn vốn từ khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần
tích luỹ của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã. Theo đánh giá sơ
bộ, khu vực kinh tế ngoài Nhà nước vẫn sở hữu một lượng vốn tiềm năng rất
lớn mà chưa được huy động triệt để.
Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, một bộ phận không nhỏ
trong dân cư có tiềm năng về vốn do có nguồn thu nhập gia tăng hay do tích
luỹ truyền thống. Nhìn tổng quan nguồn vốn tiềm năng trong dân cư không
phải là nhỏ, tồn tại dưới dạng vàng, ngoại tệ, tiền mặt … nguồn vốn này xấp
xỉ bằng 80% tổng nguồn vốn huy động của toàn bộ hệ thống ngân hàng. Vốn
của dân cư phụ thuộc vào thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình. Quy mô
Mặc dù có tính ưu đãi cao, song sự ưu đãi cho loại vốn này thường di
kèm các điều kiện và ràng buộc tương đối khắt khe (tính hiệu quả của dự án,
thủ tục chuyển giao vốn và thị trường…). Vì vậy, để nhận được loại tài trợ
hấp dẫn này với thiệt thòi ít nhất, cần phải xem xét dự án trong điều kiện tài
chính tổng thể. Nếu không việc tiếp nhận viện trợ có thể trở thành gánh nặng
SVTH: Đào Mạnh Hoàng Lớp: Kinh tế Quản lý đô thị 49
14
nợ nần lâu dài cho nền kinh tế. Điều này có hàm ý rằng, ngoài những yếu tố
thuộc về nội dung dự án tài trợ, còn cần có nghệ thuật thoả thuận để vừa có
thể nhận vốn, vừa bảo tồn được những mục tiêu có tính nguyên tắc.
1.4.3.2.2. Vốn FDI
Nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài có đặc điểm cơ bản khác nguồn vốn
nước ngoài khác là việc tiếp nhận nguồn vốn này không phát sinh nợ cho
nước tiếp nhận. Thay vì nhận lãi suất trên vốn đầu tư, nhà đầu tư sẽ nhận
được phần lợi nhuận thích đáng khi dự án đầu tư hoạt động có hiệu quả. Đầu
tư trực tiếp nước ngoài mang theo toàn bộ tài nguyên kinh doanh vào nước
nhận vốn nên có thể thúc đẩy phát triển ngành nghề mới, đặc biệt là những
ngành đòi hỏi cao về trình độ kỹ thuật, công nghệ hay cần nhiều vốn. Vì thế
nguồn vốn này có tác dụng cực kỳ to lớn đối với quá trình công nghiệp hoá,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng trưởng nhanh ở các nước nhận đầu tư .
1.4.3.2.3. Nguồn tín dụng từ các ngân hàng thương mại
Điều kiện ưu đãi dành cho loại vốn này không dễ dàng như đối với
nguồn vốn ODA. Tuy nhiên, bù lại nó có ưu điểm rõ ràng là không có gắn với
các ràng buộc về chính trị, xã hội. Mặc dù vậy, thủ tục vay đối với nguồn vốn
này thường là tương đối khắt khe, thời gian trả nợ nghiêm ngặt, mức lãi suất
cao là những trở ngại không nhỏ đối với các nước nghèo.
Do được đánh giá là mức lãi suất tương đối cao cũng như sự thận trọng
trong kinh doanh ngân hàng (tính rủi ro ở nước đi vay, của thị trường thế giới
và xu hướng lãi suất quốc tế), nguồn vốn tín dụng của các ngân hàng thương
mại thường được sử dụng chủ yếu để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu và thường là
hoạt động đầu tư nên cũng có những vai trò chung của hoạt động đầu tư như:
SVTH: Đào Mạnh Hoàng Lớp: Kinh tế Quản lý đô thị 49
16
tác động đến tổng cung và tổng cầu, tác động đến sự ổn định, tăng trưởng và
phát triển kinh tế, tăng cường khả năng khoa học và công nghệ của đất nước.
Ngoài ra với tính chất đặc thù của mình, đầu tư phát triển CSHT đô thị
là điều kiện trước tiên và cần thiết cho phát triển nền kinh tế đô thị, có những
ảnh hưởng vai trò riêng đối với nền kinh tế đô thị và với từng cơ sở sản xuất.
Đó là:
- Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đô thị đảm bảo tính tương ứng giữa cơ
sở vật chất kỹ thuật và phương thức sản xuất.
- Mỗi phương thức sản xuất từ đặc điểm sản phẩm , yếu tố nhân lực, vốn
và điều kiện về địa điểm, … lại có đòi hỏi khác biệt về máy móc thiết bị; nhà
xưởng. đầu tư phát triển CSHT đô thị đã giải quyết vấn đề này.
- Đầu tư phát triển CSHT đô thị là điều kiện phát triển các ngành kinh tế
và thay đổi tỷ lệ cân đối giữa chúng .
Khi đầu tư phát triển CSHT đô thị được tăng cường , cơ sở vật chất kỹ
thuật của các ngành tăng sẽ làm tăng sức sản xuất vật chất và dịch vụ của
ngành. Phát triển và hình thành những ngành mới để phục vụ nền kinh tế quốc
dân. Như vậy đầu tư phát triển CSHT đô thị đã làm thay đổi cơ cấu và quy mô
phát triển của ngành kinh tế, từ đó nâng cao năng lực sản xuất của toàn bộ nền
kinh tế. Đây là điều kiện tăng nhanh giá trị sản xuất và tổng giá trị sản phẩm trong
nước, tăng tích luỹ đồng thời nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân
lao động, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cơ bản về chính trị, kinh tế - xã hội.
Như vậy đầu tư phát triển CSHT đô thị là hoạt động rất quan trọng: là
một khâu trong quá trình thực hiện đầu tư phát triển, nó có quyết định trực
tiếp đến sự hình thành chiến lược phát triển kinh tế từng thời kỳ; góp phần
làm thay đổi cơ chế quản lý kinh tế, chính sách kinh tế của nhà nước.
1.6. KINH NGHIỆM HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ Ở MỘT SỐ QUỐC GIA.
Nguồn vốn luôn là một vấn đề đặt ra hàng đầu cho mọi nền kinh tế. Tuy
SVTH: Đào Mạnh Hoàng Lớp: Kinh tế Quản lý đô thị 49
18
sang. Sau đó sử dụng nguồn vốn này để phát triển kinh tế, cải tổ bộ máy, cuối
cùng đã trở thành một nước phát triển như hiện nay.
1.6.3. Kinh nghiệm ở Anh
Học thuyết Mác đã nhận định sự tích lũy tư bản nguyên thủy nhất thiết
phải diễn ra trước khi có sự phát triển kinh tế. Cơ sở thực tiễn của học thuyết
này bắt nguồn từ thực tiễn kinh nghiệm phát triển kinh tế của nước Anh, nơi
mà buôn bán, bóc lột thuộc địa và một số hình thức khác đã tạo cho nước Anh
có được nguồn vốn tích lũy khổng lồ. Đến cuối thế kỷ XVIII nguồn vốn tích
lũy của nước Anh biến thành tư bản đầu tư vào công nghiệp. Từ thực tiễn đó
cho thấy, trước cách mạng công nghiệp nước Anh đã trải qua chủ nghĩa tư
bản thương mại hàng thế kỷ. Như vậy thì con đường và giải pháp cơ bản để
tạo dựng vốn đầu tư cho các hoạt động phát triển kinh tế là phát triển tự do
thương mại nhằm tạo ra tích lũy nội bộ nền kinh tế kết hợp với sự cướp bóc từ
các nước thuộc địa.
1.6.4. Những bài học vận dụng vào VIệt Nam, vào hệ thống đô thị của
Việt Nam
Kinh nghiệm huy động vốn từ các nước rất đa dạng không theo một
khuôn mẫu định trước nào. Điểm chung có thể rút ra là để thành công trong
việc huy động vốn thì các chính sách đều phải tuân thủ những quy luật kinh tế
cơ bản, tận dụng tối đa các lợi thế so sánh của nước mình và tính đến một
cách cặn kẽ các điều kiện tự nhiên, điều kiện địa lý, các nguồn lực tự nhiên
cũng như phong tục tập quán, tâm lý của người dân. Tuy nhiên có những
điểm riêng đáng chú ý của từng quốc gia được nghiên cứu có thể mang lại
nhiều lợi ích cho quá trình huy động vốn ở nước ta.
Kinh nghiệm ở một số nước còn cho thấy quỹ đầu tư còn là một định chế
tài chính trung gian tương đối thích hợp để huy động và sử dụng nguồn vốn
lớn. Đây là một mô hình kinh tế bổ ích cho quá trình phát triển kinh tế, vì vậy
chính quyền đô thị nên tiến hành công tác nghiên cứu nó một cách tỉ mỷ, tìm
SVTH: Đào Mạnh Hoàng Lớp: Kinh tế Quản lý đô thị 49
20
nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng, các tuyến đường vận chuyển ngày
càng được nâng cấp.
Tiềm năng du lịch tại TP.Việt Trì là rất lớn và chưa được khai thác một
cách triệt để. TP.Việt Trì nổi tiếng với khu du lịch di tích lịch sử Đền Hùng,
ngoài khu di tích này, còn có các tài nguyên du lịch khác ví dụ như suối nước
khoáng nóng ở Thanh Thủy,… nếu khai thác tốt các tài nguyên du lịch này,
TP.Việt Trì sẽ thu hút được số lượng du khách rất lớn. Đền Hùng là một di
tích lịch sử mang rất nhiều tính nhân văn và cội nguồn, đó là cái nôi tâm linh
của nhân dân cả nước.
2.1.2. Điều kiện KTXH giai đoạn 2006 -2010
Thời gian qua, nền kinh tế TP.Việt Trì phát triển đúng hướng, phù hợp với
đường lối phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Trong giai đoạn
2006 -2010, nhịp độ tăng trưởng bình quân đạt 10,3%, qui mô của nền kinh tế
tăng 2,2 lần, GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 633,2 USD, tăng 2,2 lần
so với năm 2004. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ, phù hợp với
định hướng phát triển của tỉnh, năm 2010: công nghiệp xây dựng chiếm
37,8%; dịch vụ chiếm 36,4% và nông lâm nghiệp chiếm 25,8%. Cơ cấu lao
động chuyển dịch theo hướng tăng tỉ lệ lao động trong công nghiệp và dịch
vụ, giảm lao động nông nghiệp.
Cơ cấu theo ngành và theo thành phần kinh tế chuyển dịch theo hướng
tích cực, tỉ trọng công nghiệp chế biến, công nghiệp ngoài quốc doanh tăng
nhanh. Đã hình thành một số khu, cụm công nghiệp, đóng vai trò quan trọng
trong việc thu hút các dự án đầu tư vào tỉnh. Dịch vụ phát triển cả về qui mô
và ngành nghề. Tốc độ tăng bình quân 15,4/năm và tăng gấp 2,04 lần so với
năm 2006. Trình độ công nghệ và chất lượng dịch vụ được chú trọng. Dịch vụ
thương mại, vận tải, kho bãi, tín dụng ngân hàng, bưu chính viễn thông phát
SVTH: Đào Mạnh Hoàng Lớp: Kinh tế Quản lý đô thị 49
21
2.2.1. Tình hình huy động nguồn vốn trong nước.
2.2.1.1. Nguồn từ Ngân sách.
Ba
̉
ng 2- Vốn ngân sách giai đoạn 2006 – 2010
Đơn vị: tỷ đồng
2006 2007 2008 2009 Ước
2010
2006-2010
Tổng số 2312 2774,4 3323 3655,3 3774,3 15.839
Tỷ lệ (%) (100) (100) (100) (100) (100) (100)
Vốn ngân sách 1301,66 1502,06 2001,44 2206 1984,15 8995,31
(56,3) (54,14) (60,23) (60,35) (52,57) (56,79)
Biểu 2- Vốn ngân sách giai đoạn 2006 – 2010
(Nguồn: Ban quản lý dự án xây dựng công trình hạ tầng TP Việt Trì)
SVTH: Đào Mạnh Hoàng Lớp: Kinh tế Quản lý đô thị 49
23
Nhận rõ phát triển CSHT đô thị là khâu trọng yếu trong chương trình
phát triển kinh tế - xã hội của TP.Việt Trì. Trong những năm gần đây, cùng
với việc tập trung nâng cấp một hạng mục công trình CSHT trọng điểm,
nguồn vốn ngân sách còn hỗ trợ đầu tư phát triển, xây mới nhiều công trình
mới, cụ thể là đầu tư cải tạo, xây mới hệ thống đường giao thông, các công
trình công cộng trên địa bàn Thành phố.
Hàng năm Ngân sách Nhà nước và địa phương đều dành một khoản
vốn đầu tư không nhỏ cho CSHT đô thị, trong đó vốn được đặc biệt chú ý đến
phát triển hệ thống CSHT giao thông đô thị. Tỷ lệ vốn ngân sách đầu tư cho
CSHT đô thị so với tổng lượng vốn huy động được ở TP.Việt Trì chiếm
khoảng 50-60%. Vốn đầu tư cho giao thông tăng lên qua các năm, năm 2006
vốn đầu tư từ ngân sách 1301,66 tỷ đồng, tới năm 2009 con số đó là 2206 tỷ
đồng. Ước tính năm 2010 vốn huy động từ ngân sách khoảng 1984,15 tỷ đồng.
quân của DNNN là 10,7%. Trong năm 2008 do phải đối mặt với cuộc khủng
SVTH: Đào Mạnh Hoàng Lớp: Kinh tế Quản lý đô thị 49
25