đặc điểm nhân vật trong truyện ngắn stendhal - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN

NGUYỄN CHÚC LÝ
MSSV: 6116188

ĐẶC ĐIỂM NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN
STENDHAL

Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ Văn

Cán bộ hướng dẫn: TS.ThS.GV. LÊ NGỌC THÚY

Cần Thơ - 11/2014


ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
1. Lí do chọn đề tài
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3. Đối tượng nghiên cứu
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
CHƯƠNG 1. THỜI ĐẠI, TÁC GIẢ, TÁC PHẨM
1.1 Thời đại
1.1.1 Hoàn cảnh lịch sử xã hội Pháp nửa đầu thế kỷ XIX
1.1.2 Bối cảnh văn hóa tinh thần
1.2 Tác giả
1.2.1 Cuộc đời
1.2.2 Sự nghiệp sáng tác (sẽ nhấn mạnh đối tượng nghiên cứu của mình là truyện ngắn)

1. lí do chọn đề tài
Thế kỷ XIX văn học phương Tây xuất hiện hai trào lưu văn học chủ yếu là chủ
nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực phê phán (réalisme), trên dòng phát triển của
nền văn học nghệ thuật hiện thực thế giới, chủ nghĩa hiện thực phê phán thế kỷ XIX đã
là bước phát triển cao nhất trong thời đại tư bản chủ nghĩa, và nó được xem như “tiền
thân trực tiếp” của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Cho tới ngày nay, nó đã cung
cấp cho kho tàng văn học loài người hàng loạt những tác gia và tác phẩm xuất sắc, hết
sức phong phú và đa dạng, đặc biệt là về thể loại tiểu thuyết.
Balzac và Stendhal hai đại biểu cho hai dòng tiểu thuyết phong tục và tiểu
thuyết tâm lý, có thể được coi như những điển hình tập trung của nền văn học phê phán
cổ điển của phương Tây. Engels thì gọi Balzac là “một bậc thầy của chủ nghĩa hiện
thực”. Tuy nhiên, Stendal lại được coi như người mở đầu cho chủ nghĩa hiện thực phê
phán, bậc thầy lớn của tiểu thuyết tâm lý, một trong những kiện tướng của trào lưu chủ
nghĩa hiện thực phê phán trong văn học thế giới. Nói về Stendhal, nhà đại văn hào hiện
thực xã hội chủ nghĩa Macxim Gorki viết: “Nếu có thể so sánh tác phẩm của Stendhal
với những bức thư, có lẽ đúng hơn phải gọi những tác phẩm đó là những bức thư cho
tương lai”.
Stendhal đã gặt hái thành công nhiều trên văn đàn với những tác phẩm tên tuổi
sống mãi với thời gian mà trong đó điển hình là tác phẩm “Đỏ và Đen” đã đánh dấu
cho sự xuất hiện của ông trên văn đàn thế giới, rồi đến “Tu viện thành Parmơ” cùng
nhiều những tác phẩm khác. Bên cạnh đó ông cũng thử sức mình với vĩnh vực truyện
ngắn và cũng gặt hái được thành công không kém những tác phẩm kinh điển của ông,
với những thành công ấy đã để lại trong lòng người đọc một Stendhal đầy tài năng,
Stendhal đã tái hiện một cách chân thật và sinh động xã hội quý tộc, tư sản lúc bấy giờ.
Bằng nghệ thuật xây dựng nhân vật “vỡ mộng” Stendhal đã để lại ký ức rất sâu sắc
trong người đọc về tác phẩm của mình.
Để góp phần tri ân đến những cống hiến thầm lặng mà nhà văn đã đem lại
những hương thơm cho cuộc đời cũng như biết thêm nhiều về Stendhal và các tác

3

phẩm Đỏ và Đen gần gũi với ông, tuy tác phẩm có những điều khiến ông chưa thật hài

4


lòng; sự gần gũi giữa hai nhà hiện thực lớn này chính là ở tài năng và mối quan tâm thể
hiện quá trình tâm lý của nhân vật. Hoạt động của thế giới bên trong con người được
khám phá và miêu tả chính xác, sinh động, những tâm hồn cùng phong phú, phức tạp,
hoặc cùng chất phác, đơn sơ, nhưng đa dạng về sắc thái cá nhân, sắc thái giai cấp như
Giuy-liêng và Ma-tin, bà Đơ Rê-nan và Phu-kê, những tính cách thô lỗ, tham lam, quỷ
quyệt đủ loại của gã quý tộc Đơ Rê-nan, tên trưởng giả Va-lơ-nô, lão thợ xẻ Xô-ren;
chỉ riêng giới tu sĩ đã có bao nhiêu tâm trạng, bao nhiêu tính cách, từ Sê-lăng, Pi-ra đến
Fri-le, Ca-xta-nét, từ vị giám mục quyền thế đến gã sinh đồ khốn khổ… Điều này cho
thấy nghệ thuật xây dựng nhân vật của ông rất đa dạng và phong phú, nhân vật trong
tác phẩm xuất hiện ở nhiều tầng lớp khác nhau, ngoại hình và tính cách vô cùng phong
phú và có nhiều điểm riêng nổi bật không bị trùng lấp vào nhau.
Tác giả nhận xét về nhân vật “Niềm say mê làm việc, sự rèn luyện gần như quân
sự và lối nói thẳng của trường Bách khoa khiến anh hoàn toàn không biết màu mè và
giả tạo” [4; tr.273,274]. Gương mặt trẻ trung của Luy-xiêng toát ra sự bồng bột ngay
thẳng và một “điều không tha thứ được trong thời đại kiểu cách này là anh có vẻ nhẹ
dạ, vô tư lự”. Nhưng Stendhal không lý tưởng hóa nhân vật, ông để Luy-xiêng tự phân
tích, để nhiều người nhận xét, đánh giá về anh, từ góc độ của họ. Tính cách Luy-xiêng
được rọi sáng từ nhiều phía, bộc lộ mọi mâu thuẫn. Bên cạnh đó thì nhân vật Giuyliêng lại là một tính cách độc đáo. Vẻ ưu tú, nước da xanh xao, thân hình mảnh dẻ
khiến anh như chú vịt con xấu xí “bị tất cả mọi người trong nhà khinh bỉ”. Nhưng bên
trong chàng thanh niên mười chín tuổi có vẻ ngoài như đứa trẻ rụt rè, yếu đuối lại sôi
sục một nghị lực lớn lao, đó là sức mạnh của đầu óc mẫn tuệ, của tính cách kiêu hãnh
và tâm hồn nhạy cảm. Goóc-ki nói rằng: “Giuy-liêng Xô-ren là thủy tổ của những nhân
vật khi bước vào đời, đã tin rằng trình độ phát triển cao về trí tuệ sẽ đảm bảo cho mình
một địa vị xã hội, cũng như sự độc lập và tự do trong tư tưởng, trong hành động” [4;
tr.268]. Stendhal và các nhân vật của ông như Giuy-liêng Xô-ren, Luy-xiêng lơ-oen

khẳng định những nét mới mẻ và sự đóng góp ở phương diện xây dựng nhân vật
của Stendhal cho nền văn học nước Pháp cũng như của toàn thế giới nói chung.

4. Phạm vi nhiên cứu
Trong phạm vi luận văn, chúng tôi có tìm hiểu nhiều tác phẩm của Stendhal
nhưng do yêu cầu của đề tài nên chỉ tập trung khảo sát ở mảng truyện ngắn của ông mà

6


tiêu biểu “Mối tình không tưởng” trong quyển tập cùng tên và “Vanina Vanini”, “Nữ
trưởng tu viện Caxtrô” trong quyển tập truyện ngắn Pháp.

5. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
Tìm hiểu các loại hình nhân vật trong truyện ngắn của Standhal chỉ ra những nét
tiêu biểu của các loại hình nhân vật này.
Khẳng định tài năng của nhân vật.
Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp so sánh.
Phương pháp lịch sử.
Phương pháp phân tích và tổng hợp.
Phương pháp thống kê và phân loại.

7


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. THỜI ĐẠI, TÁC GIẢ, TÁC PHẨM
1.1 Thời đại
1.1.1 Hoàn cảnh lịch sử xã hội pháp nữa đầu thế kỷ XIX

những thế lực phản động châu Âu liên kết lại, nhưng chẳng bao lâu Napôlêông trở
thành kẻ độc tài, lên ngôi hoàng đế, thiết lập nền Đế chính thứ nhất (1804-1815) và
cầm quân xâm lược các nước châu Âu.
Cho tới năm 1815, các thế lực phản động châu Âu đánh bại Napôlêông ở trận
Oateclô (Waterloo), thiết lập Liên minh thần thánh là đưa dòng họ Buôcbông
(Bourbons) về khôi phục lại nền quân chủ ở nước Pháp. Luy XVIII (Louis XVIII), do
quân đội nước ngoài đưa về nước Pháp “trong một chuyến xe chở hàng”, thiết lập nền
Trùng-hưng (1815-1830). Các lực lượng phản động trong nước, từ giai cấp quí tộc đến
nhà thờ cơ đốc giáo, được cơ hội ngóc đầu dậy, chống lại giai cấp tư sản, đàn áp nhân
dân lao động và âm mưu khôi phục lại mọi đặc quyền đặc lợi xưa kia của chúng, nhất
là dưới thời Saclơ X (Charles X), nối ngôi Luy XVIII từ năm 1824, nhưng dù sao
chúng không thể thủ tiêu những thành quả cơ bản của cách mạng, chế độ gia trưởng
phong kiến lỗi thời bị thanh toán và được thay thế vĩnh viễn bằng chế độ tư sản.
Song mãi tới năm 1830, giai cấp tư sản mới hoàn toàn đánh bại vĩnh viễn được
giai cấp quý tộc, dựa vào nhân dân lao động, họ lật đổ nền Trùng-hưng trong những
ngày tháng bảy “vinh quang” và thiết lập nền quân chủ tháng Bảy (1830-1848), thực
chất là nền dân chủ tư sản, bọn đại tư sản tài chính và ngân hàng, lên nắm quyền chính
quyền với “ông vua của bọn con buôn”, Luy Philip (louis Philippe) ở ngai vàng, và tên
chủ ngân hàng Laphitơ ( Laffite) làm thủ tướng. Đánh bại được giai cấp quý tộc, giai
cấp tư sản quay ra đối phó với nhân dân lao động, nhất là với phong trào công nhân
phát triển mạnh từ những năm 30 trở đi, khi nước Pháp đi vào con đường công nghiệp
hóa. Giai cấp tư sản đã không ngần ngại đàn áp thẳng tay giai cấp công nhân trong
những cuộc nổi dậy liên tiếp của họ, như ở Lyôn (1831, 1834) hay ở Paris (1832,
1834), và nhất là trong những ngày đẫm máu tháng Sáu 1848, sau cuộc cách mạng
tháng Hai đưa bọn tư sản công nghiệp lên nắm chính quyền.
Như vậy rỏ ràng là từ 1789 đến 1848, xã hội Pháp trãi qua những cơn bảo táp
cách mạng dữ dội chưa từng thấy, qua đó đấu tranh giai cấp biến chuyển đi từ những

9




Tất cả những nhà văn lớn của thế kỷ XVIII có thể được gọi là những “Nhà văn
chính trị” và muốn hiểu được họ, và khám phá ra ba trình độ về chính trị là: chính trị lý
thuyết chính trị lan tỏa trong phong tục tập quán, chính trị thực hành. Voltaire chống
lại “sự ti tiện” với tư cách là nhà thơ, người kể chuyện, nhà triết học, nhà bách khoa
Diderot muốn trở nên vừa là nhà văn, triết gia, vừa là cố vấn chính trị ông đã tìm ra con
đường tiểu thuyết. Nhưng với ý nghĩa sâu sắc của từ này phải kể đến Montesquieu vad
Rousseau là “những nhà văn chính trị” xuất sắc, đã có những khám phá về chính trị, đã
đặt chính trị vào trung tâm hoạt động văn học mà không phải là khống chế văn học
theo nhu cầu chính trị. Họ đã có công mang lại một hình ảnh mới về quan hệ giữa
người và xã hội, làm sâu sắc của mối quan hệ nguy hiểm nhưng luôn luôn phong phú,
thống nhất chính trị và văn học, viết và suy tưởng, các nhà văn ánh sáng tranh đấu cho
mọi công dân và cho các nhà văn; họ là lá cờ đầu của “sự sáng tạo tự do”
Từ những năm 30, chế độ tư bản chiếm địa vị thống trị, phong trào công nhân
bắt đầu lớn mạnh, “Quan hệ đã đơn giản hóa đến mức chỉ còn có những người cố ý
nhắm mắt lại mới thấy rằng cuộc đấu tranh giữa ba giai cấp lớn ấy (quí tộc, tư sản,
công nhân-HN) và sự xung đột vì lợi ích của họ là động lực của toàn bộ lịch sử cận
đại” (Karl Marx và Engels) [6; tr.19]. Cách mạng tháng 2 năm 1848 là “cuộc xung đột
đầu tiên giữa tư bản và vô sản”, chủ nghĩa hiện thực Pháp ra đời, chia làm hai giai
đoạn, ranh giới phân chia là cách mạng 1848. “Nếu đức hạnh sa ngã, nếu tật hư thắng
thế, tư tưởng của các tác phẩm không có gì đáng nghi ngờ: phải kết án xã hội” (tựa
Tấn trò đời, xuất bản 1853). Khác với phương pháp lãng mạn cường điệu tác dụng chủ
quan của nghệ sĩ, phương pháp hiện thực chú trọng tính khách quan của sự thể hiện
nghệ thuật, nghệ thuật là ước lệ, nhưng tiểu thuyết ít tính chất ước lệ hơn cả so với các
loại tiểu thuyết, tiểu thuyết hiện thực Pháp là đỉnh cao của tiểu thuyết Tây Âu. “Đối với
tôi là một nhà văn, nền văn học lớn của Pháp với Stendhal, Balzac, Flaubert…đã có
một ảnh hưởng giáo dục thực sự và sâu sắc” (Gorki) [6; tr.20]. Cuộc đảo chính tháng
12 năm 1851 thủ tiêu Cộng hòa. Đế chế Napoléon III kiểm soắt gắt gao văn chương,
báo chí, củng cố chế độ bằng chiến tranh và phát triển kinh tế, công xã Pari bị đàn áp.

bảy tuổi, ông đã sung vào quân đội và theo Napôlêông tham gia nhiều chiến dịch như ở
Ý, ở Đức, và cả ở Nga năm 1812. Lúc đầu ông tin tưởng ở Bônapactơ, cho ông ta là
người kế tục sự nghiệp của cách mạng. Khi đó quân đội Napôlêông đặt chân vào những
nước chậm tiến như Đức hay Ý có tác động là hướng dẫn những dân tộc ấy theo con

12


đường phát triển tư sản tiến bộ, điều này không khỏi gây ảo tưởng cho một số đầu óc
tiên tiến đương thời như Stendhal trong một thời kỳ nhất định. Cho nên Stendhal đã lý
tưởng hóa Napôlêông trong một số tác phẩm của ông, tuy nhiên sau khi Napôlêông lên
ngôi hoàng đế nước Pháp, ông nhận ra dần tính chất chuyên chế của Napôlêông và
nhìn thấy mối nguy cơ cho tinh thần cách mạng chân chính. Ông thở than: “sung
sướng thay những vị anh hùng chết trước năm 1804!” [13; tr.12]. Đặc biệt, cuộc hành
quân của Napôlêông sang đất Nga đã cho ông thấy hết bản chất chính trị của
Napôlêông. Trong thời gian này ông viết “Mỗi ngày cách mạng lại mất đi một điều tốt
lành”, vì thế cho nên Stendhal không hề đau khổ khi Napôlêông sụp đổ và cũng không
theo phục vụ ông ta trong thời kỳ “Một trăm ngày”. Tuy vậy, Stendhal cũng biết rằng
sau khi dòng họ Buôcbông trở lại nắm quyền thì nhân dân càng khổ cực hơn, cho nên
khoảng những năm 20 ông thường đối lập Napôlêông với bọn chính trị khách thời
Trung – hưng và vẫn còn những nhận xét tốt về ông ta.
Sau khi Napôlêông sụp đổ và triều đại Buôcbông được khôi phục, Stendhal rời
Pháp sang ở nước Ý một thời gian dài, chỉ thỉnh thoảng mới về nước. Ông rất yêu nước
Ý, nước này có vai trò không nhỏ trông sự hình thành nhân sinh quan của nhà văn, đời
sống xã hội sôi sục ở nước Ý lôi cuốn ông, và làm ông quen với các chiến sĩ của phong
trào cách mạng dân chủ carbonari chống lại “Liên minh thần thánh” của bọn phản động
Mettecnich (Metternich), nhằm giải phóng dân tộc và thống nhất nước Ý. Thời kỳ sống
trên đất Ý đã để lại nhiều vết tích trong sáng tác của Stendhal. Ông say sưa nghiên cứu
nghệ thuât, hội họa, âm nhạc Ý và viết một loạt tác phẩm lớn của ông sau này là tiểu
thuyết Tu viện thành Pacmơ (la chart reuse de Parme).

thuật như “Đời sống Rooxxini” (Vie de Rossini, 1824); “Dạo chơi ở Romơ”
(Promenades dans Rome, 1829), những tác phẩm trên đây chỉ như là sự chuẩn bị cho
một cuộc hoạt động văn học quan trọng hơn của Stendhal.
Về tiểu thuyết, tác phẩm đầu tiên của ông là “Acmăngxơ Romance” (1827)
trong đó ông phân tích tâm lý của lớp thanh niên quý tộc thời Trùng-hưng, hai thiên
tiểu thuyết kiện tác của Stendhal là “Đỏ và Đen” (1813) và “Tu viện thành Pacmơ”
(1893) đã xếp Stendhal vào hàng những bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực phê phán.
Ngoài ra Stendhal còn viết một loạt những “Ký sự ở nước Ý”, cuốn truyện tự thuật

14


“Đời sống của Hăngri Bruyla” (La vie de Hanry Bruland) và một số tác phẩm khác nữa
bỏ dở.
Nhưng ông lại thành công hơn với tiểu thuyết tâm lý và xu hướng hiện thực
đang phát triển với tác phẩm nhiều sức thuyết phục, một số tác phẩm như “Nữ trưởng
tu viện Caxtrô” và một số truyện khác có tên chung “Biên niên nước Ý". Bên cạnh đó
ông cũng viết những truyện vừa trong đó có tác phẩm đặc sắc “Vanina Vanini” (1829)
kể về câu truyện tình yêu trái khoáy giữa một chiến sĩ kiên cường của phong trào cách
mạng Cacbonari với một phụ nữ quý tộc kiêu hãnh và tự phụ.

15


CHƯƠNG 2. SỰ ĐA DẠNG VỀ NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN
NGẮN STENDHAL
2.1 Sự đa dạng về tầng lớp
2.1.1 Tầng lớp thượng lưu quý tộc
Tầng lớp quý tộc được Stendhal đề cập nhiều trong các tác phẩm của ông điển
hình qua ba tác phẩm nghiên cứu. Trong “Mối tình không tưởng”, tuýp nhân vật này

là một nhà quý tộc giàu có nhất xứ, phu nhân của ông lại là một địa chủ lớn trong
vương quốc Na-plơ. Con trai của họ Fabiô một thanh niên rất tự hào về dòng dõi của
mình. Tất cả họ chỉ qua lại với những người giàu sang thuộc tầng lớp thượng lưu quý
tộc, còn với những người thuộc tầng lớp khác chỉ một cái nhìn thôi với họ cũng là một
sự xúc phạm nặng nề. Nhà thơ nổi tiếng Xêxinô với những vần thơ bất hữu đã được
mời về dạy thêm cho Hêlen. Vị lãnh chúa của dòng họ Côlona. Giáo chủ Xăngti-Catrô
người nắm trong tay quyền quyết định ai sẽ trở thành tu viện trưởng thế nhưng ông lại
vì lợi ích cá nhân mà bán chức vị của Thiên Chúa, đúng là một cái tội không hề nhỏ tí
nào.
2.1.2 Tầng lớp tư sản
Stendhal đề cập đến rất ít nhân vật trong các tác phẩm nói về tầng lớp tư sản của mình.
Tiêu biểu là cha của nàng Vanina - một vị chủ ngân hàng trứ danh đại diện cho tầng
lớp đại tư sản giàu có bậc nhất thành La Mã, bên cạnh đó ông cũng không quên nhân
vật đại diện cho tiểu tư sản như chị hầu phòng cũ của nhà Vanina đã thôi việc lấy
chồng và buôn bán nhỏ ở Phoocli nhưng chị vẫn rất nặng tình nặng nghĩa, sẵn lòng
giúp đỡ nàng Vanina không ngại nguy khó. Hay trong “Mối tình không tưởng” thì bà
Gramer chủ quán trọ thiếu thốn vật chất nhưng lại giàu tình cảm, phẩm chất cao
thượng.
2.1.3 Tầng lớp bình dân
Đến với “Mối tình không tưởng” ta thấy được tinh thần lạc quan, yêu đời luôn
phấn đấu vì tương lai của mình ở đứa tớ trai Dubois tuy đã ở độ tuổi 40. Hay đứa tớ gái
của Vanina trong tác phẩm cùng tên. Và linh mục Cari tốt bụng luôn giúp đỡ Vanina và
Mitxirili. Hơn thế với “Nữ trưởng tu viện Caxtrô” thì nhiều nhân vật xuất hiện,
Ranuyxơ người bạn thân thiết của Giuyn luôn bên chàng những khi gặp khó khăn hay

17


cho chàng những lời khuyên tốt đẹp. Cô Marietta cũng vậy, luôn xuất hiện những lúc
quan trọng nhất để giúp cho Hêlên và Giuyn được an toàn. Đức con yêu của nàng

gặpcả câu chuyện, cả cuộc đời của một người lại nằm trong sự sắp đặt, tính toán trước
của nhân vật phản diện mà Stendhal đã tạo nên.
Từng bước đi sâu vào mỗi tác phẩm thì nhân vật phản diện ngày một rõ hơn trong
tư tưởng người đọc, nhân vật Bà Larcay trong “Mối tình không tưởng” là một phu
nhân. “Phu nhân này là người giàu nhứt và dễ thương nhứt trong vùng. Bà ta thường
tiếp khách, với tác phong sang trọng, nghiêm trang và vui vẻ vừa phải, tóm lại, không
chỗ chê được.” [5; tr.16]. Đó là tất cả những gì mà người khác nhìn nhận về bà phu
nhân giàu có Larcay, nhưng trong mắt của nàng Mina thì bà Larcay lại rất tầm thường
và khuôn khổ, giả tạo như bao người thuộc giới thượng lưu của Pháp. Quý phu nhân
này thích được người khác chú ý đến mình bằng vẻ bề ngoài đẹp, sang trọng, giàu có
hơn là được chú trọng tính cách con người bên trong. Bà Larcay và chồng là Alfred đã
đến trú ngụ tại khách sạn sang trọng nhấtt: A La Croix de Savoie,nhưng lại chê bai
rằng khách sạn này quá ồn ào, chi bằng tìm một biệt thự nho nhỏ ở sát bờ hồ, để bà
thêm phần khẳng định bản thân mình đối với tầng lớp thượng lưu quý tộc, bà tỏ ra rất
thích thú với việc tham dự các buổi hợp đêm, dạ hội mỗi tối tại khu nghĩ dưỡng.
Những buổi tiệc ấy chỉ mang tính chất kheo mẽ, thường dành cho những người thuộc
giới sang trọng tụ họp dập dìu với mục đích khoe của cải, khoe quyền thế. Bà Larcay
lại có tính khó hiểu nỗi là “Hễ ai tỏ ra thành thật siêng năng thì bà ta lại khinh” [5;
tr.25] bà ta có những cử chỉ hành động không đẹp và cao sang như chính thân phận của
bà. Bà Larcay quả là người tầm thường!
Bà vốn dĩ không để tâm đến những cử chỉ của đứa tớ gái Niken và chồng bà, bà
chỉ nghĩ nàng làm như vậy là bổn phận của đứa tôi tớ, mà chỉ lo trưng diện và vui chơi
ở các đêm hội, cho đến khi một ngày bà trông đứa tớ gái ấy ngày càng xinh đẹp, gương
mặt biến đổi lại thường đàn ông nào thấy mà không thèm thuồng thì bà lại nỗi cơn
ghen tức. Bà Larcay đã đặt thêm chuyện nói xấu về Mina trước mặt của nhiều người
đăc biệt là với ông Alfred và bà Gramer, bà nói xa nói gần để chồng bà và mọi người
tin rằng: “đứa tớ gái mang tên Aniken trong nhà chỉ là phường “Trốn chúa lộn chồng”
vì bị pháp luận truy nã nên tới xứ này mà ẩn lánh, nó sẵn sàng bôn tẩu khi tình nhân
nhiều vàng bạc đến rước đúng hẹn” [5;tr.31], điều này làm Mina lo sợ nhiều. Bà


thương. Bá tước càng tỏ ra mình yêu thương nàng Mina thì càng bị Mina nắm lấy
nhược điểm và biến bá tước Ruppert thành một tay sai, quân cờ cho Mina lợi dụng

20


trong kế hoạch trả thù của nàng, nếu làm tốt theo lời nàng phần hưởng sẽ là bá tước
được cưới nàng đồng nghĩa với việc sở hữu toàn bộ tài sản mà nàng đang có. Đó là
phần hưởng đúng với ý của bá tước Ruppert đang mong muốn nên làm sao mà bá tước
này không đồng ý với Mina được, bá tước không như các đấng nam nhi khác mạnh mẽ,
quyết đoán và có chủ ý cá nhân mà ngược lại bá tước luôn nghe lời Mina hay nói đúng
hơn là “ngoan ngoãn” theo như lời Mina nói. Ngài chỉ biết làm theo lời và hướng đến
mục đích cuối cùng có lợi cho bản thân. Bá tước càng tỏ ra quyết tâm hơn mỗi khi bị
Mina mỉa mai, khiêu khích để chứng tỏ tài năng và khả năng làm được việc mà nàng
Mina giao phó, bá tước Ruppert đã không phụ lòng nàng Mina ngược lại còn làm rất
tốt, tuy bị thương hơi nặng nhưng với những gì Mina đền công rất xứng đáng bằng tất
cả tài sản bên Đức mà cô có thì Ruppert rất hài lòng không tí câu nệ. Đó là tất cả hoàn
toàn con người của bá tước Ruppert, bá tước không hề yêu ai, chỉ yêu bản thân mình và
làm sao để có nhiều tài sản đáp ứng nhu cầu ăn xài xa xĩ của hắn như thế là trên hết,
không màng và quan tâm đến phẩm chất, đạo lý con người sống phải thế nào, chỉ cần
có cuộc sống xa hoa đầy đủ là hơn cả mọi thứ trên đời.
Stendhal tiếp tục xây dựng nhân vật phản diện trong “Nữ trưởng tu viện Caxtrô”
với cách thể hiện khác, bằng việc xây dựng một gia đình thuộc tầng lớp thượng lưu quý
tộc với những thành viên khác nhau về cách nghĩ cũng như tính cách thì từ đó nhà văn
tài hoa của chúng ta đã xây dựng nên nội dung câu chuyện độc đáo và cuốn hút nhiều
người đọc bên cạnh đó cũng để lại nhiều ấn tượng trong họ. Với ba nhân vật cùng trong
một gia đình mang tính cách khác biệt nhau như mục đích chung vẫn là ngăn cản tình
yêu của Hêlen với chàng trai nghèo nàn, đó là điều sĩ nhục đối với dòng tộc Căngpirêli.
Vị lãnh chúa Đơ Căngpirêly ấy được tiếng là người phong nhã và giàu lòng từ
thiện, nhưng rất thiếu thông minh, bật thiệp. Con trai của ông cũng vậy chàng Fabiô là

khắc nghiệt cho hai người Giuyn Băngxifoóc và Fabiô gặp nhau và quyết chiến máu
lửa để rồi Fabiô chèn ép Giuyn Băngxifoóc tột cùng khiến chàng phải ra một nhát kiếm
đoạt mạng Fabiô càng đẩy câu chuyện lên kịch tính cao trào. Fabiô không ngừng
buông ra những lời lẽ miệt thị, kinh bỉ Giuyn Băngxifoóc một cách tệ bạt, mắng nặng
nè sâu sắc của tính được sinh ra và lớn lên trong gia tộc giàu có bề thế tự cao tự đại,
không xem ai ra gì để rồi tự gieo cái chết vào bản thân. “Đồ vô lại, tao còn lại gì mày!
Mày kiếm tiền như thế đấy để thay bộ quần áo rách của mày” [2; tr.79] hay “Mày đã
nhặt được mảnh áo mắt lưới của mày ở cống rãnh nào vậy? Fabiô thét vào mặt

22


Giuyn” [2; tr.79]. Việc làm ấy đã khiến vị lãnh chúa Đơ Căngpirêly càng thêm thù
hằng Giuyn và treo giá cao cho những ai giết chết được Giuyn Băngxifoóc.
Cả cuộc đời của Hêlen đã tin và yêu một người mà suốt cuộc đời Hêlen đã rất ân
hận đó chính là người mẹ vĩ đại nhất trong cả đời nàng, Hêlen đã non nớt nghĩ điều đó.
Bà Vich-toa là một mẫu mực về tính thận trọng và sự thông minh, nhưng với tất cả sự
tài trí của mình, bà vẫn không ngăn ngừa được sự sụp đổ của gia đình bà, bằng tình
thương yêu của một bà mẹ luôn hiểu và chia sẻ cùng con gái, bà luôn xuất hiện đúng
những lúc quan trọng quyết định cả cuộc đời Hêlen. Khi Hêlen đang rất nguy hiểm
trong cơ thịnh nộ vô bờ bến của người cha không biết chuyện gì sẽ đến với nàng, thì
mẹ nàng bà Vich-toa đã nói với giọng rất nhẹ nhàng của người mẹ hiểu tâm lí con gái
và gởi vây cho nàng rất nhanh chóng. Bà làm cho Hêlen cảm giác rất an toàn khi bên
cạnh bà và nói thật lòng với bà mọi chuyện mà Hêlen đang hết lòng cất giấu. “Đây là
tập thư của con, mẹ không muốn đọc con đã thấy chúng ta sấp nguy khốn vì những bức
thư ấy chưa! Ở vào thế của con, mẹ sẽ đốt đi. Cầu chúa phù hộ cho con, con hãy hôn
mẹ nào” [2; tr.61]. Bà đã dần dần lấy được lòng tin tưởng không giới hạn của cô con
gái với hành động đẹp, cao cả của bà là giải cứu Hêlen cùng những bức thư tình mà bà
không hề đọc đến đồng thời cho nàng một lời khuyên rất hữu ích. Và cuối cùng nàng
cũng làm theo lời mẹ. Với sự thông minh, nắm bắt được tâm lý con gái mình bà đã xuất

cho được niềm phấn khởi của nàng khi bóc thư, cũng như nỗi buồn sâu sắc sau khi đọc
thư. Chính bà Vich-to rất thông minh đã chế tạo ra nó, ý đồ của bà là bắt đầu cuộc trao
đổi thư tín bằng bảy, tám bức thư cháy bỏng tình yêu; bằng cách đó bà chuẩn bị tư
tưởng cho Hêlen tiếp những thư sau, trong đó tình yêu sẽ có vẻ như tàn lụi dần, đó là
sự sắp đặt thông minh có mưu tính tỉ mỉ và hoàn hảo từ trước. Bà đã giúp con mình đạt
ý nguyện trở thành nữ viện trưởng. Nhưng chỉ có việc là bà đã dấu nàng Hêlen về sự
thật Giuyn vẫn còn tồn tại với cái tên Lizara trong suốt mười hai năm và đến phút cuối
bà đã nói sự thật ấy, nhưng cũng chính sự thật từ bà đã là lý do lớn nhất khiến nàng
Hêlen tìm đến cái chết hơn là gặp Giuyn trong sự nhục nhã không xứng đáng với
chàng. Và kết chuyện, chính sự thông minh, muốn điều khiển cả cuộc đời con gái mình
và cơn bệnh nghiện trị vì ấy đã làm bà thật sự thất bại, dù bà có thông minh như thế
nào cũng không nào ngờ trước hết được sự việc, bà đã đưa con gái mình người thân
duy nhất còn lại với bà cũng tìm đến cái chết vì bà, gia đình tiêu tan, sụp đổ hoàn toàn
bà chính là người tự làm cho mình rơi vào hoàn cảnh khốn cùng nhất không một người

24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status