TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
----
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 2010 – 2014
Đề tài:
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH – THỰC
TIỄN TẠI HUYỆN HÒA BÌNH THUỘC
TỈNH BẠC LIÊU
Giảng viên hướng dẫn:
Ths. Diệp Thành Nguyên
Bộ môn: Luật Hành chính
Sinh viên thực hiện:
Võ Chúc Phương
Mssv: 5106084
Lớp: Luật Hành chính – K36
Cần Thơ, Tháng 11/2013
LỜI CẢM ƠN
Người viết xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Cha Mẹ và gia đình
đã luôn hỗ trợ, động viên và tạo điều kiện tốt nhất để tôi có thể phấn đấu và theo
đuổi ước mơ của mình.
Xin gửi lời cám ơn đến các Anh, Chị đang công tác tại Phòng Tư pháp
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
Cần Thơ, ngày ……. tháng …… năm 2013
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU..............................................................................................................1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ
TỊCH
1.1 Khái niệm hộ tịch ...................................................................................................4
1.2 Phân biệt “Quản lý hộ tịch” và “Quản lý hộ khẩu” .............................................6
1.3 Vị trí, vai trò của quản lý hộ tịch ..........................................................................8
1.4 Đối tượng, phạm vi, nội dung quản lý nhà nước về hộ tịch .................................9
1.5 Quy phạm pháp luật và quan hệ pháp luật về quản lý hộ tịch .......................... 11
1.5.1 Quy phạm pháp luật về quản lý hộ tịch ........................................................ 11
1.5.2 Quan hệ pháp luật về quản lý hộ tịch ........................................................... 12
2.1.2.6 Công chức Tư pháp – hộ tịch.................................................................31
2.2 Phương thức quản lý hộ tịch ............................................................................... 32
2.2.1 Thủ tục đăng ký hộ tịch ................................................................................ 32
2.2.2 Sổ bộ hộ tịch và chế độ quản lý “sổ kép”...................................................... 33
2.2.3 Giấy tờ hộ tịch............................................................................................... 34
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH
Ở HUYỆN HÒA BÌNH THUỘC TỈNH BẠC LIÊU
VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
3.1 Thực tiễn quản lý nhà nước về hộ tịch ở huyện Hòa Bình thuộc tỉnh Bạc Liêu37
3.1.1 Tổng quan về huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu ............................................. 37
3.1.2 Thực trạng quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn huyện Hòa Bình
thuộc tỉnh Bạc Liêu ...................................................................................................37
3.1.3 Đánh giá việc thực hiện quản lý Nhà nước về hộ tịch trên địa bàn cấp
xã ................................................................................................................................ 41
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về hộ tịch ở huyện Hòa Bình
thuộc tỉnh Bạc Liêu ....................................................................................................48
3.2.1 Mục tiêu, yêu cầu đối với quản lý nhà nước về hộ tịch ................................ 48
3.2.2 Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước nhà nước về hộ tịch ở
huyện Hòa Bình thuộc tỉnh Bạc Liêu ......................................................................... 50
3.2.2.1 Hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với hộ tịch ..................... 50
3.2.2.2 Nâng cao năng lực bộ máy đăng ký, quản lý hộ tịch .............................. 52
3.2.2.3 Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về hộ tịch trên địa
bàn các xã thuộc huyện Hòa Bình ................................................................................ 52
3.2.2.4 Xây dựng đội ngũ công chức quản lý hộ tịch trên địa bàn cấp xã theo
hướng chuyên nghiệp ...................................................................................................53
3.2.2.5 Cải cách các thủ tục hành chính trong việc thực hiện đăng ký
hộ tịch.......................................................................................................................... 55
3.2.2.6 Tăng cường phối hợp các cơ quan, tổ chức trong quản lý
hộ tịch.......................................................................................................................... 56
3.2.2.7 Đẩy mạnh công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện quản lý
trình nhận thức ở từng thời điểm, Nhà nước mà trực tiếp là Chính phủ chưa bao quát
hết và dự liệu được tất cả mọi vấn đề nảy sinh trong thực tiễn quản lý hộ tịch cũng như
xu hướng vận động của các vấn đề hộ tịch. Nhiều sự kiện hộ tịch phức tạp phát sinh ở
cơ sở không thể hoặc không được giải quyết do pháp luật chưa quy định. Những quy
định của pháp luật cũng chưa bám sát thực tiễn hoàn toàn, còn bộc lộ nhiều “kẽ hở”,
quy định đơn giản, sơ sài, không thống nhất, gây phiền hà cho người dân cũng như khó
khăn cho chính những cán bộ, công chức thừa hành khi áp dụng pháp luật.
Khắc phục những hạn chế trên, với tinh thần hướng mạnh về cơ sở, Chính phủ
đã ban hành Nghị định số 158/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 27/12/2005 về đăng
ký và quản lý hộ tịch (sau đây gọi là Nghị định 158/2005/NĐ-CP). Nghị định
158/2005/NĐ-CP đã tạo ra bước chuyển mạnh mẽ trong tiến trình cải cách nền hành
chính quốc gia, thể hiện sự đổi mới trong tư duy quản lý của Nhà nước về quản lý dân
GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên
1
SVTH: Võ Chúc Phương
Đề tài: Quản lý nhà nước về hộ tịch – thực tiễn tại huyện Hòa Bình thuộc tỉnh Bạc Liêu
cư. Nhà nước đã đưa ra nhiều quy định mới tạo thuận lợi cho người dân khi thực hiện
quyền và nghĩa vụ của mình, phân cấp mạnh mẽ hơn cho cơ sở, đơn giản hoá, công
khai hoá thủ tục, rút ngắn thời hạn giải quyết, quy định văn hoá công vụ của công chức
khi giải quyết thủ tục cho dân. Mặc dù vậy, trong quá trình vận dụng và triển khai thực
hiện, Nghị định còn bộc lộ nhiều hạn chế cố hữu, gây ra nhiều khó khăn cho cả cán bộ,
công chức và người dân. Nghị định 158/2005/NĐ-CP vẫn chưa khắc phục được sự rắc
rối về thủ tục; dù đã quy định khá chi tiết nhưng Nghị định vẫn còn thiếu những quy
định cụ thể, rõ ràng về từng sự kiện hộ tịch. Nhiều thuật ngữ pháp lý sử dụng không
chính xác và cách hành văn thiếu mạch lạc; một số quy định thực sự gây khó khăn cho
SVTH: Võ Chúc Phương
Đề tài: Quản lý nhà nước về hộ tịch – thực tiễn tại huyện Hòa Bình thuộc tỉnh Bạc Liêu
Phân tích thực trạng quản lý hộ tịch ở huyện Hòa Bình. Qua đó, đề ra một số
giải pháp hoàn thiện trong việc quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn huyện.
3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận cũng như thực tiễn của hoạt động
quản lý nhà nước về hộ tịch ở huyện Hòa Bình thông qua các văn bản quy phạm pháp
luật. Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hộ tịch
trên địa bàn huyện. Vì nguyên nhân khách quan, nên người viết không đề cập chi tiết
đến nội dung đăng ký và quản lý hộ tịch. Mà chỉ nghiên cứu các vấn đề chung liên
quan đến lĩnh vực quản lý hộ tịch.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, người viết đã sử dụng phương thức thống kê,
tổng hợp, phân tích, so sánh kết hợp và thực tiễn để giải quyết các vấn đề đặt ra.
Ngoài ra, người viết còn tham khảo ý kiến của các chuyên gia, các nhà nghiên
cứu có kinh nghiệm liên quan đến đề tài nghiên cứu.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, mục lục và phụ lục, nội dung
của luận văn thể hiện ở ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận quản lý nhà nước về hộ tịch
Trong chương này chủ yếu đề cập đến các vấn đề lý luận hình thành chế độ
quản lý hộ tịch, các khái niệm liên quan đến quản lý hộ tịch. Đồng thời cũng nêu rõ vị
trí, vai trò, đối tượng, phạm vi và nội dung quản lý hộ tịch.
Chương 2: Quản lý nhà nước về hộ tịch theo quy định của pháp luật hiện
hành
Ở chương này, chủ yếu nói về quyền hạn và nhiệm vụ của các cơ quan quản lý
loại thì đây là một danh từ thuộc nhóm danh từ chỉ khái niệm trừu tượng.2 Nếu tìm
hiểu riêng từng thành tố thì có thể thấy, các từ điển hiện nay khá thống nhất trong cách
hiểu từng từ đơn này. Theo đó từ “Hộ” khi sử dụng là danh từ có nhiều nghĩa khác
nhau, nhưng trong đó có một nghĩa trực tiếp là “dân cư” hoặc “nhà ở” hiểu rộng ra là
“đơn vị để quản lý dân số, gồm những người cùng ăn ở với nhau”. Tương tự từ “tịch”
có nghĩa là “sổ sách” hoặc là “sổ đăng ký quan hệ lệ thuộc”. Tuy nhiên việc tổ hợp hai
từ đơn này thành danh từ “Hộ tịch” lại là một trường hợp rất đặc biệt về mặc ngôn ngữ
và được sử dụng với thuộc tính kết hợp hạn chế (hạn chế về việc sử dụng và khả năng
tổ hợp của từ ngữ).3 Chính do tính chất đặc biệt ấy nên khảo cứu qua các từ điển tiếng
Việt thì thấy có nhiều cách giải nghĩa từ “hộ tịch” khác nhau. Dưới đây là một số cách
giải nghĩa:
“Hộ tịch: Quyển sổ của Chính phủ biên chép số người, chức nghiệp và tịch
quán của từng người”;4
“Hộ tịch: Quyển sổ ghi chép tên tuổi, quê quán, nghề nghiệp, của mọi người
trong một địa phương”;5
“Hộ tịch: Sổ biên dân số có ghi rõ tên họ, quê quán và chức nghiệp của từng
người”;6
“Hộ tịch: Sổ biên nhận số một địa phương hoặc cả toàn quốc, trong có ghi rõ
tên họ, quê quán và chức nghiệp của từng người”;7
“Hộ tịch: Sổ ghi chép tên, họ, nghề nghiệp dân cư ngụ trong xã phường”.8
1
Huỳnh Tịnh Paulus Của: Đại Nam Quấc âm tự vị, Sài Gòn, 1895, quyển I, tr.425.
Nguyễn Tài Cẩn: Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1975, tr.211.
3
Viện Ngôn ngữ học (Hoàng Phê chủ biên): Từ điển tiếng Việt, in lần thứ năm, Nxb. Đà Nẵng, 1998, tr.9.
4
Đào Duy Anh: Giản yếu Hán - Việt từ điển, quyển thượng, Nxb. Khoa học xã hội, 1992, tr.384.
5
Nguyễn Lân (chủ biên): Từ điển từ và ngữ Hán - Việt, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1989, tr.321.
văn bản. Và việc sử dụng nó trong đời sống xã hội vẫn chưa phổ biến.
Theo pháp luật hiện hành, “Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng
nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết đi” được quy định tại Điều 1 Nghị
định 158/2005/NĐ-CP. Ngoài khái niệm trên, Nghị định 158/2005/NĐ-CP còn nêu ra
khái niệm “đăng ký hộ tịch” theo đó: “Đăng ký hộ tịch là hành vi của cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền: xác nhận các sự kiện sinh; kết hôn; tử; nuôi con nuôi; giám hộ;
nhận cha, mẹ, con; thay đổi họ, tên, chữ đệm, cải chính họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng,
năm sinh; xác định lại dân tộc; đăng ký khai sinh, khai tử quá hạn; đăng ký lại việc
sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi”.
Trước Nghị định 158/2005/NĐ-CP ra đời, Bộ luật Dân sự năm 1995 cũng đã có
quy phạm định nghĩa về đăng kí hộ tịch tại Điều 54 như sau: “Đăng ký hộ tịch là việc
cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận sự kiện sinh, kết hôn, tử, ly hôn, giám hộ,
nuôi con nuôi, thay đổi họ, tên, quốc tịch, xác định dân tộc, cải chính hộ tịch và các sự
kiện khác theo quy định của pháp luật về hộ tịch”.
Như vậy, chúng ta phải kết hợp giữa hai định nghĩa về hộ tịch và đăng ký hộ
tịch mới có thể hiểu một cách đầy đủ về khái niệm “hộ tịch”. So với Nghị định
83/1998/NĐ-CP thì Nghị định 158/2005/NĐ-CP có bổ sung thêm vấn đề “Xác định lại
8
Bửu Kế: Từ điển Hán-Việt từ nguyên, Nxb. Thuận Hóa, Thành phố Hồ Chí Minh, 1999, tr.814.
Viện Ngôn ngữ học (Hoàng Phê chủ biên): Từ điển tiếng Việt, in lần thứ năm, Nxb. Đà Nẵng, 1998, tr.442.
10
Nguyễn Văn Đạm: Từ điển tường giải và liên tưởng tiếng Việt, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 1999,
tr.385.
11
Nguyễn Như Ý (chủ biên): Đại từ điển tiếng Việt, Nxb. Văn hóa - Thông tin, 1998, tr.835.
9
GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên
quản lý hộ tịch quan tâm đến các đặc điểm nhân thân có tính bền vững của cá nhân,
những đặc điểm này chỉ có thể thay đổi trong những trường hợp đặc biệt, theo một thủ
tục pháp lý chặt chẽ. Trong khi đó, đặc điểm về nơi cư trú của cá nhân - đối tượng
quản lý hộ khẩu - là đặc điểm nhân thân có tính “động” dễ bị thay đổi.
- Về phương diện bảo vệ quyền nhân thân thì quản lý hộ khẩu chỉ là biện pháp
bảo vệ quyền tự do cư trú hợp pháp của cá nhân, còn quản lý hộ tịch là phương tiện để
mỗi cá nhân thực hiện tổng thể rất nhiều quyền nhân thân cơ bản của mình.
- Đơn vị “hộ” được dùng làm đơn vị quản lý dân cư của cả quản lý hộ tịch và
quản lý hộ khẩu, nhưng trong quản lý hộ tịch mối quan hệ giữa các thành viên trong hộ
chỉ có thể là mối quan hệ gia đình hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân, huyết thống
hoặc nuôi dưỡng; còn trong quản lý hộ khẩu, không nhất thiết các thành viên trong
một đơn vị hộ khẩu phải có quan hệ gia đình với nhau mà chỉ cần ở chung một nhà
cũng có thể cùng đăng ký theo một đơn vị hộ khẩu.
GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên
6
SVTH: Võ Chúc Phương
Đề tài: Quản lý nhà nước về hộ tịch – thực tiễn tại huyện Hòa Bình thuộc tỉnh Bạc Liêu
Hoặc một đơn vị hộ khẩu tập thể quân nhân hoặc hộ khẩu tập thể Công an nhân
dân bao gồm những người cùng công tác trong một đơn vị.
Ví dụ: Điều 12 Luật Cư trú năm 2006 quy định về “nơi cư trú của công dân”
như sau:
“1. Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh
sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc tạm trú.
Chỗ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú.
Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức,
7
SVTH: Võ Chúc Phương
Đề tài: Quản lý nhà nước về hộ tịch – thực tiễn tại huyện Hòa Bình thuộc tỉnh Bạc Liêu
1.3 Vị trí, vai trò của quản lý hộ tịch
Trong một xã hội ngày càng phát triển như hiện nay thì khái niệm quyền con
người được coi như một giá trị chung của nhận loại, hầu hết các quốc gia đều nhận
thức đúng đắn về tầm quan trọng của việc quản lý hộ tịch. Nếu như hoạt động quản lý
dân cư được xem là nội dung quan trọng hàng đầu trong tổng thể hoạt động quản lý xã
hội thì quản lý hộ tịch, với các lợi ích và giá trị tiềm tàng của nó, được coi là mắt khâu
nằm ở vị trí trung tâm của hoạt động quản lý dân cư.
Về mặt lý luận, hoạt động quản lý hộ tịch là lĩnh vực thể hiện sâu sắc chức năng
xã hội của Nhà nước qua ba phương diện cơ bản như sau:
Thứ nhất, quản lý hộ tịch là cơ sở để Nhà nước hoạch định các chính sách phát
triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và tổ chức thực hiện có hiệu quả
các chính sách đó. Một hệ thống quản lý dữ liệu đầy đủ, chính xác, được cập nhật kịp
thời, thường xuyên sẽ là nguồn tài sản thông tin hết sức quý giá luôn sẵn sàng hỗ trợ
đắc lực cho việc hoạch định các chính sách xã hội một cách chính xác, có tính khả thi,
tiết kiệm chi phí xã hội.
Ví dụ: Trên địa bàn một đơn vị cấp xã, khi cần triển khai các chính sách cộng
đồng liên quan đến dân cư: bảo vệ sức khỏe nhân dân, chăm sóc y tế đối với bà mẹ và
trẻ em, phổ cập giáo dục, hôn nhân gia đình chính quyền thường căn cứ vào sổ hộ tịch
đăng ký khai sinh, khai tử, kết hôn để xác định đối tượng và triển khai các biện pháp
phù hợp với đặc điểm dân cư trong xã.
Ngoài ra, đối với quốc gia có kết cấu dân cư đa dạng về thành phần dân tộc như
Việt Nam, quản lý hộ tịch còn góp phần rất quan trọng vào việc thực hiện chính sách
dân tộc và chính sách phát triển kinh tế, xã hội của các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng
được Nhà nước tôn trọng và có trách nhiệm bảo hộ. Nhìn vào lịch sử có thể thấy, các
triều đại phong kiến Việt Nam không tổ chức quản lý hộ tịch vì mối quan hệ giữa
vương quyền (vua) với các “thần dân” của mình về cơ bản là mối quan hệ một chiều,
người dân chỉ có nghĩa vụ đối với triều đình. Do đó, đối với nhà nước phong kiến việc
tổ chức quản lý hộ tịch không được quan tâm.
Thứ ba, quản lý hộ tịch có vai trò to lớn đối với việc bảo đảm trật tự xã hội. Hệ
thống sổ bộ hộ tịch có thể truy nguyên nguồn gốc của cá nhân một cách dễ dàng. Các
chứng thư hộ tịch do người có thẩm quyền lập theo thủ tục chặt chẽ có giá trị là sự
khẳng định của nhà nước về vị thế của một cá nhân trong gia đình và xã hội.
Trong lĩnh vực hoạt động tư pháp khi cần đánh giá năng lực chủ thể của một cá
nhân các cơ quan tiến hành tố tụng luôn cần đến giấy khai sinh của người đó. Giấy
khai sinh chứa đựng các dữ liệu gốc của cá nhân như ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh,
dân tộc, quốc tịch, họ tên cha mẹ. Do đó khi được sử dụng với tư cách là chứng cứ, các
thông tin thể hiện trên giấy khai sinh có thể giúp cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá
nhiều vấn đề trong các vụ án hình sự, dân sự, hành chính.
Bởi ý nghĩa quan trọng như vậy nên trong sự phát triển của mỗi quốc gia, vấn
đề xây dựng hệ thống quản lý hộ tịch và khai thác hiệu quả của nó phục vụ cho công
tác quản lý nhà nước luôn được quan tâm.
1.4 Đối tượng, phạm vi, nội dung quản lý nhà nước về hộ tịch
Là một hoạt động quản lý con người, hoạt động quản lý hộ tịch hướng đến đối
tượng quản lý là các đặc điểm nhân thân làm nên căn cước của mỗi cá nhân. Tuy nhiên
các yếu tố thuộc về căn cước của mỗi người rất phong phú và là đối tượng của nhiều
hoạt động quản lý khác nhau. Do vậy để phân biệt đối tượng của quản lý hộ tịch với
đối tượng quản lý của một số hoạt động quản lý thuộc phạm trù quản lý căn cước của
con người như quản lý hộ khẩu, quản lý lý lịch tư pháp, quản lý chứng minh nhân dân
cần xem xét, xác định phạm vi của quản lý hộ tịch.
Căn cước của mỗi cá nhân được hình thành từ rất nhiều đặc điểm nhân thân gắn
liền cá nhân đó như: họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, dân tộc, tôn giáo, quốc
GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên
- Quản lý việc thay đổi hộ tịch; cải chính hộ tịch; bổ sung điều chỉnh hộ tịch;
xác định lại giới tính; xác định lại dân tộc;
- Quản lý sự thay đổi các đặc điểm nhân thân do các sự kiện ly hôn; xác định
cha, mẹ, con; thay đổi quốc tịch; chấm dứt nuôi con nuôi.
So sánh nội dung quản lý nhà nước về hộ tịch của Nhà nước ta hiện nay (tính từ
năm 1998, khi Chính Phủ ban hành Nghị định 83/1998/NĐ-CP đến nay) với thời kỳ
trước đây (thời kỳ thực hiện điều lệ hộ tịch năm 1961) có thể thấy nội dung quản lý hộ
tịch ngày càng được mở rộng hơn (theo điều lệ hộ tịch 1961 thì nội dung quản lý hộ
tịch rất đơn giản, chỉ giới hạn trong các loại việc cơ bản như sinh, tử, kết hôn ghi chú
các thay đổi về hộ tịch). Đây là một bước tiến quan trọng cho thấy hoạt động quản lý
con người ngày càng được quan tâm một cách toàn diện. Tuy nhiên, sự mở rộng phạm
vi và nội dung quản lý cũng đặt ra rất nhiều vấn đề phức tạp đòi hỏi hoạt động quản lý
hộ tịch phải được nâng lên một trình độ cao hơn.
GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên
10
SVTH: Võ Chúc Phương
Đề tài: Quản lý nhà nước về hộ tịch – thực tiễn tại huyện Hòa Bình thuộc tỉnh Bạc Liêu
1.5 Quy phạm pháp luật và quan hệ pháp luật về quản lý hộ tịch
Hiện nay, trong các văn bản pháp luật và các tài liệu sách báo pháp lý, thuật
ngữ “pháp luật về hộ tịch” được sử dụng khá phổ biến. Tuy nhiên việc sử dụng thuật
ngữ này trong các nghiên cứu chỉ mang tính ước định và tùy từng trường hợp, nội hàm
của nó được xác định theo nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp có sự khác nhau cơ bản. Theo
những cách hiểu khác nhau đó việc xác định các quy phạm pháp luật và các quan hệ
pháp luật về hộ tịch cũng có sự khác nhau.
Hiểu theo nghĩa rộng thì pháp luật về hộ tịch bao gồm toàn bộ hệ thống quy
11
SVTH: Võ Chúc Phương
Đề tài: Quản lý nhà nước về hộ tịch – thực tiễn tại huyện Hòa Bình thuộc tỉnh Bạc Liêu
phạm về quản lý hộ tịch còn được tìm thấy trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau.
Sự tản mạn của các quy phạm pháp luật về quản lý hộ tịch như trên đã ảnh hưởng đến
hiệu quả của việc áp dụng pháp luật về hộ tịch. Xét từ khía cạnh giá trị pháp lý có thể
thấy, hiện nay các quy phạm pháp luật về quản lý hộ tịch có thứ bậc không cao trong
thang giá trị quy phạm. Các quy phạm có giá trị cao nhất mới dừng lại ở mức độ quy
phạm trong Nghị định; một bộ phận không nhỏ quy phạm do Bộ Tư pháp ban hành
trong các Thông tư mang tính chất hướng dẫn nghiệp vụ. Bởi vậy tính ổn định của
pháp luật về quản lý hộ tịch còn chưa cao, có thể bị sửa đổi, bổ sung trong một thời
gian ngắn. Thực tiễn này được lý giải bởi hai lý do của hoạt động xây dựng pháp luật
về hộ tịch, đó là:
Thứ nhất, trong suốt một thời gian hơn 30 năm (từ khi ban hành Điều lệ đăng
ký hộ tịch năm 1961 đến trước khi Chính Phủ ban hành Nghị định số 184/CP ngày
30/11/1994) hoạt động xây dựng pháp luật về hộ tịch gần như trong tình trạng đóng
băng, không có sự vận động nào đáng kể. Chỉ từ khi bị tác động trực tiếp bởi sự ra đời
của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và tiếp đó là Bộ Luật Dân sự năm 2005 thì
hoạt động xây dựng pháp luật về hộ tịch mới được thúc đẩy vận động tích cực để phù
hợp, thích ứng với những yêu cầu mới mà hai văn bản luật quan trọng nói trên đặt ra.
Thứ hai, về mặt chủ quan do tính chất tác động xã hội của các quy phạm pháp
luật về quản lý hộ tịch rất rộng lớn và liên quan đến các phạm trù nhạy cảm như quyền
con người, quyền công dân nên hoạt động điều chỉnh lĩnh vực này được tiến hành rất
cẩn trọng, dè dặt. Chỉ có thể xây dựng các quy phạm pháp luật về quản lý hộ tịch có
giá trị cao khi điều kiện cần và đủ cho nó là nền tảng pháp luật dân sự, pháp luật hôn
nhân và gia đình đã được thiết lập và vận hành một cách ổn định.
việc Uỷ ban nhân dân cấp xã đăng ký kết hôn là một quan hệ hành chính, gắn liền với
việc xác lập quan hệ hôn nhân giữa hai cá nhân. Một số quan hệ đăng ký hộ tịch như
đăng ký khai sinh, kết hôn, khai tử được thiết lập không phải từ đề nghị của chính cá
nhân được khai sinh, kết hôn, khai tử mà từ những người có quyền và nghĩa vụ theo
quy định của pháp luật.
Quan hệ đăng ký hộ tịch không chỉ diễn ra giữa cơ quan có thẩm quyền đăng ký
hộ tịch với một cá nhân mà có thể diễn ra giữa cơ quan có thẩm quyền đăng ký hộ tịch
với cùng lúc nhiều cá nhân có chung mục đích xác lập quan hệ hành chính đó.
Ví dụ: Trường hợp cơ quan đăng ký hộ tịch thực hiện việc đăng ký kết hôn,
đăng ký nuôi con nuôi.
1.6 Quá trình phát triển hoạt động quản lý hộ tịch ở nước ta
Quản lý nhà nước về hộ tịch là lĩnh vực thể hiện chức năng xã hội của Nhà
nước, là cơ sở để Nhà nước hoạch định các chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã
hội, an ninh quốc phòng; là một trong những phương thức để Nhà nước bảo đảm
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đồng thời góp phần bảo đảm trật tự an toàn
xã hội. Không những thế chế độ quản lý hộ tịch còn thể hiện nét đặc thù về truyền
thống, tập quán trong đời sống xã hội của dân tộc.
Dựa trên các thông tin lịch sử và một số tài liệu pháp lý khác, có thể thấy rằng
chế độ quản lý hộ tịch ở nước ta phát triển qua các giai đoạn như sau:
- Thời kỳ phong kiến;
- Thời kỳ Pháp thuộc ở miền Nam Việt Nam và chế độ cộng hòa miền Nam
Việt Nam trước năm 1975;
- Thời kỳ Việt Nam dân chủ cộng hòa và cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
1.6.1 Khái quát chế độ quản lý đinh thời kỳ phong kiến
Qua các tài liệu về quản lý hộ tịch ta có thể thấy quản lý hộ tịch trong thời kỳ
phong kiến vẫn còn rất đơn giản. Cụ thể, ở thời Nhà Lý chủ yếu là củng cố sức mạnh
về quân sự và thu thuế. Do đó, triều đình chỉ quản lý những dân đinh từ 18 tuổi trở lên
là nam. Sang Nhà Trần thì việc quản lý hộ tịch có sự phức tạp hơn là quản lý phân
GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên
không thể ẩn lậu được, mà công việc binh chính tài chính cứ chiếu sổ là biết được,
không mắc cái tệ quá nặng quá nhẹ, là vì đã biết rõ được số hộ khẩu rồi. Quy chế đã
thành nền nếp, trải các đời đều theo như thế, người trên cứ thế mà làm, không phiền
nhiễu gì, người dưới cũng yên tâm, không ngờ việc gì, số người tăng thêm hay hao đi,
không thể lọt ra ngoài sự soi xét, chẳng phải là phép hay ru”13.
Đến đời vua Lê Cung Hoàng, thời kỳ huy hoàng, thái bình của Nhà Lê chấm
dứt, Nhà Mạc chiếm ngôi đưa đến lịch sử gần sáu chục năm chiến tranh Nam triều –
Bắc triều (1527 - 1599), tiếp theo đó là thời kỳ ly loạn, giữa hai tập đoàn phong kiến
Trịnh - Nguyễn phân tranh (1600 - 1788). Lịch sử không ghi lại nhiều vấn đề quản lý
dân cư trong thời kỳ này, nhưng theo Phan Huy Chú thì trong thời kỳ Nam triều – Bắc
triều, nhà Mạc (Bắc triều) tiếp tục duy trì chế độ kiểm soát hộ tịch đã có từ thời Hồng
12
13
Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, t.2, tr.220.
Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, t.2, tr.222.
GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên
14
SVTH: Võ Chúc Phương
Đề tài: Quản lý nhà nước về hộ tịch – thực tiễn tại huyện Hòa Bình thuộc tỉnh Bạc Liêu
Đức. Vào thời kỳ Tây Sơn, sau khi đại phá quân Thanh, vua Tây Sơn Quang Trung
Nguyễn Huệ đã nung nấu mục đích mở rộng bờ cõi về phương Bắc. Để thực hiện mục
đích đó, việc xây dựng, củng cố tiềm lực quân sự để có một đạo quân hùng hậu14 là
nhiệm vụ trọng yếu được nhà vua quan tâm ngay sau khi lên ngôi hoàng đế. Để ngăn
khái quát như sau:
14
Vũ Văn Mẫu, Lê Đình Chân: Danh từ và tài liệu dân luật và hiến luật, Tủ sách Đại học Sài Gòn, 1968, tr.154.
GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên
15
SVTH: Võ Chúc Phương
Đề tài: Quản lý nhà nước về hộ tịch – thực tiễn tại huyện Hòa Bình thuộc tỉnh Bạc Liêu
Một là, gia đình được tổ chức theo mô hình đại gia đình, bao gồm nhiều thế hệ
từ các bậc tôn như cụ, ông, bà, chú, bác, đến hạng ty thuộc con, cháu, chắt. Cách tổ
chức này có sự liên hệ rất chặt chẽ với nền tảng của chế độ phong kiến.
Hai là, đứng đầu và điều hành gia đình theo một nguyên tắc rất nghiêm ngặt đó
là gia trưởng. Việc tuân thủ theo người đứng đầu gia tộc không chỉ là vấn đề đạo đức
mà còn được bảo vệ bởi luật phong kiến.
Gia phả là một khái niệm chung để chỉ một quyển ghi chép đầy đủ, thứ tự, liên
tục từ đời này sang đời khác và những điều cần thiết liên quan đến cá nhân trong gia
tộc qua các đời. Thông tin cá nhân trong gia phả có thể coi là một bản lý lịch rút gọn
với đầy đủ các đặc điểm nhân thân và sự nghiệp của cá nhân đó, bao gồm: tên; thứ
hạng trong gia đình; thân thế sự nghiệp, công danh; năm sinh năm mất, ngày giỗ, nơi
để phần mộ; nguyên quán, nơi cư trú khi còn sống; tên vợ (chồng), con cái; đặc điểm
về cách ăn ở, đối nhân xử thế. Bên cạnh đó, việc ghi chép gia phả còn được thực hiện
một cách nghiêm ngặt, chỉ có có gia trưởng mới được phép ghi gia phả; các thông tin
trong gia phả phải chính xác, rõ ràng, trong đó đặc biệt là việc phân thứ bậc là điểm
quan trọng nhất; giấy viết cũng phải là loại giấy sắc truyền thống; chữ viết phải viết
kiến.
1.6.2 Chế độ quản lý hộ tịch thời kỳ pháp thuộc và ở miền nam Việt Nam trước
năm 1975
Sau sự kiện buộc triều đình nhà Nguyễn ký hiệp ước ngày 25.8.1883, thực dân
Pháp thiết lập chế độ thuộc địa ở miền Nam Việt Nam và chế độ bảo hộ ở miền Bắc và
miền Trung. Để thi hành chính sách thuộc địa và nhằm biến nước ta thành một phần
lãnh thổ hải ngoại của nước Pháp, một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của
Chính phủ bảo hộ là kiểm soát chặt chẽ dân cư. Cùng với việc thay thế toàn bộ hệ
thống pháp luật của triều Nguyễn, thực dân Pháp đã áp dụng ở Nam Kỳ chế độ quản lý
hộ tịch theo nước Pháp. Chỉ hơn một tháng sau khi hiệp ước nhượng địa được ký kết,
chính quyền thuộc địa đã ban hành Sắc lệnh ngày 03.10.1883 quy định về việc lập sổ
hộ tịch cho người Việt Nam. Sắc lệnh này được coi là nền tảng thiết lập chế độ quản lý
hộ tịch ở Việt Nam - thực chất là sự du nhập mô hình quản lý hộ tịch của dân luật
Pháp. Bởi vậy, Sắc lệnh ngày 03.10.1883 còn được gọi tên là Bộ Dân luật giản yếu.
Sắc lệnh này được duy trì trong một thời gian dài, chỉ được sửa đổi hai lần bởi Sắc
lệnh ngày 10.02.1893 và Sắc lệnh ngày 23.7.1931.
Ở miền Bắc và miền Trung, sau khi thực dân Pháp thiết lập chế độ bảo hộ đối
với triều đình phong kiến bù nhìn - tay sai thì việc quản lý hộ tịch cũng được triển
khai. Tại miền Bắc, việc quản lý hộ tịch được thực hiện theo quy định từ Điều 18 đến
Điều 48 Bộ Dân luật Bắc Kỳ ngày 30.3.1931. Tại miền Trung, việc quản lý hộ tịch
được thực hiện theo quy định từ Điều 18 đến Điều 50 Bộ Hoàng Việt Trung Hộ Luật
do triều đình Nhà Nguyễn ban hành ngày 13.7.1936.
Đặc điểm nổi bậc của quản lý hộ tịch thời kỳ thuộc Pháp là do ảnh hưởng sâu
sắc bởi hệ thống pháp luật Pháp nên các vấn đề về hộ tịch luôn được coi là một chế
định cơ bản của dân luật. Chế độ quản lý hộ tịch được thiết lập ở miền Nam sớm hơn ở
miền Bắc và miền Trung hàng chục năm và được thực hiện hết sức chặt chẽ nhằm
phục vụ cho mục đích củng cố chính quyền thuộc địa. Nội dung quản lý chỉ bao gồm
ba loại hộ tịch cơ bản: sinh, tử, giá thú. Phương thức quản lý bằng sổ bộ hộ tịch và
chứng thư hộ tịch được thực hiện rất nghiêm ngặt, nhằm bảo đảm mục đích ưu tiên
hàng đầu là tính chính xác của các thông tin về hộ tịch. Hiệu quả quản lý hộ tịch được
Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Chính phủ lâm thời của Nhà
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đã rất quan tâm
đến việc xây dựng nền hành chính. Trong hoàn cảnh sự nghiệp cách mạng đang phải
đối phó với trăm mối lo thù trong, giặc ngoài, chưa thể tập trung xây dựng bộ máy nhà
nước và hệ thống pháp luật thống nhất, Chính phủ lâm thời đã rất linh hoạt trong việc
áp dụng giải pháp tình thế để quản lý đất nước. Ngày 10.10.1945, sau khi thảo luận
thống nhất trong Hội đồng Chính phủ tại phiên họp ngày 04.10.1945, Chủ tịch Hồ Chí
Minh - với tư cách Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ký ban
hành Sắc lệnh cho phép tạm thời duy trì hiệu lực các luật lệ của chế độ cũ theo nguyên
tắc các luật lệ này chỉ có giá trị thi hành nếu “không trái với nền độc lập của nước Việt
Nam và chính thể dân chủ cộng hòa”.17 Theo đó, thể lệ đăng kí hộ tịch đã được quy
định trong Bộ Dân luật giản yếu (áp dụng ở Nam Kỳ), Hoàng Việt hộ luật (áp dụng ở
Trung Kỳ), Dân luật Bắc Kỳ (áp dụng ở miền Bắc) vẫn tiếp tục được thi hành trong
suốt thời gian hơn 10 năm sau đó.
Sự điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực hộ tịch của Nhà nước ta được đánh dấu
bằng bản Điều lệ đăng ký hộ tịch đầu tiên được ban hành kèm theo Nghị định số
764/TTg ngày 08.5.1956 của Thủ tướng Chính phủ. Bản Điều lệ này gồm 34 điều quy
định các vấn đề cơ bản về việc đăng ký khai sinh, đăng ký kết hôn, đăng ký khai tử,
việc sửa chữa và ghi chú các thay đổi về hộ tịch, việc công nhận và đăng ký hộ tịch đối
với ngoại kiều và Việt kiều về cư trú ở trong nước. Các quy định của bản Điều lệ đăng
ký hộ tịch này đã thay thế toàn bộ các thể lệ đăng ký hộ tịch của chế độ cũ vẫn được áp
16
Phạm Mạnh Doanh: Đây… Tòa án, Hộ tịch cẩm nang, Nhà sách Khai trí, Sài Gòn, (sách không ghi năm xuất
bản).
17
Điều 12 Sắc lệnh ngày 10.10.1945 của Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa.
GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên
hành Pháp lệnh Hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài,
nhưng thực chất đối tượng điều chỉnh của Nghị định chính là việc đăng ký hộ tịch có
yếu tố nước ngoài.
Ngày 10/10/1998, Chính phủ ban hành Nghị định 83/1998/NĐ-CP về đăng ký
hộ tịch. Nghị định này đã chấm dứt thời kỳ gần 40 năm tồn tại của Điều lệ đăng ký hộ
tịch được ban hành kèm theo Nghị định số 04/CP ngày 16/01/1961.
Có thể nói, sự ra đời của Nghị định 83/1998/NĐ-CP là một dấu mốc quan trọng
trong sự phát triển của công tác quản lý hộ tịch ở nước ta. Trên cơ sở văn bản pháp
luật có vai trò là “nguồn chủ đạo” của pháp luật về quản lý hộ tịch này, công tác quản
lý nhà nước về hộ tịch đã thực sự chuyển biến một cách rõ rệt, và thể hiện nhiều sắc
thái đổi mới tích cực. Tiếp sau đó, ngày 10/7/2002, Chính phủ đã ban hành Nghị định
mới thay thế Nghị định số 184/CP là Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002
quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 về
18
Theo Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp 1992 gọi là Ủy ban nhân dân các cấp.
Trong quá trình lịch sử nước ta từ năm 1945 đến nay tên gọi, chức năng, nhiệm vụ của Bộ Nội vụ có những
thay đổi nhất định.
19
GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên
19
SVTH: Võ Chúc Phương
Đề tài: Quản lý nhà nước về hộ tịch – thực tiễn tại huyện Hòa Bình thuộc tỉnh Bạc Liêu
quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Mặc dù có tên gọi là Nghị định
chuyển biến đáng kể đáp ứng yêu cầu của sự phát triển đời sống xã hội. Có thể nói
trong giai đoạn này, hoạt động xây dựng thể chế về quản lý hộ tịch gần như đóng
băng. Hệ quả trực tiếp của tình trạng này là sự bất cập của hoạt động quản lý hộ tịch
suốt nhiều năm trước đây. Tuy nhiên, từ sau khi nhiệm vụ quản lý hộ tịch được chuyển
giao từ Ngành Công an sang Ngành Tư pháp và hệ thống Ủy ban nhân dân các cấp
GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên
20
SVTH: Võ Chúc Phương