Giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai – thực tiễn tại thành phố huế, tỉnh thừa thiên huế ( giai đoạn 2013 2015)” - Pdf 36

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
------------------

NIÊN LUẬN
GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TRONG LĨNH VỰC
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI – THỰC
TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA
THIÊN HUẾ (GIAI ĐOẠN 2013-2015)

Họ và tên sinh viên: NGUYỄN THẢO DUNG

1


HUẾ, 03/2016
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
------------------

NIÊN LUẬN
KHÓA 37

GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TRONG LĨNH VỰC
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI – THỰC
TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA
THIÊN HUẾ (GIAI ĐOẠN 2013-2015)

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
TH.S NGUYỄN THỊ PHI YẾN



3


4


MỤC LỤC

5


A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất cung cấp
lương thực thực phẩm cho con người và cũng là nơi con người, sinh vật tồn
tại và phát triển. Với tốc độ gia tăng dân số như hiện nay, diện tích đất ngày
càng bị thu hẹp, vì vậy đất trở nên quý giá hơn bao giờ hết. Cùng với đó là sự
phát triển không ngừng của xã hội kèm theo đó là các quan hệ xã hội ngày
càng phức tạp hơn. Đồng thời yêu cầu về một xã hội dân chủ ngày càng được
quan tâm, quyền con người trong đó có quyền khiếu nại cũng được chú trọng
nhiều hơn. Chính vì những lẽ đó mà các tranh chấp, khiếu nại luôn tập trung ở
lĩnh vực đất đai. Ở Việt Nam, nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy
phạm pháp luật về khiếu nại, nhằm tạo cơ sở pháp lý để người dân bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tuy nhiên, khi đi vào thực tiễn thi hành
pháp luật còn nhiều vướng mắc.
Vì vậy, em chọn đề tài “ Giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực quản lý
nhà nước về đất đai – Thực tiễn tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế
( giai đoạn 2013-2015)” để làm đề tài nghiên cứu của mình. Thông qua hoạt
động thực tiễn trên địa bàn thành phố Huế để tìm hiểu nguyên nhân tồn tại

Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về khiếu nại, giải
quyết khiếu nại.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng đó là hoạt động trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại đất đai,
cụ thể là xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo của cán bộ và hoạt động khiếu nại tố
cáo của người dân. Cụ thể là cách thức mà cán bộ, công chức thực hiện việc
xử lý đơn khiếu nại, tố cáo như thế nào và có sai sót gì không; còn đối với
người dân thì xem xét họ có đang thực hiện quyền của mình đúng với quy
định của pháp luật không và cách thức thực hiện như thế nào.
Phạm vi nghiên cứu đó là: từ những quy định của pháp luật ( luật khiếu
nại 2011 và luật tố cáo 2011) và hiểu hiểu thực trạng cụ thể ở thành phố Huế,
để rút ra được những hạn chế, thiếu sót và cách khắc phục của hoạt động được
nghiên cứu.
7


4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được xây dựng trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngoài ra, tôi
còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như: phương pháp phân
tích, tổng hợp, phương pháp so sánh.
Để phục vụ cho bài làm của mình, em đã sử dụng các phương pháp
nghiên cứu như sau:
Phương pháp phân tích để nêu rõ các vấn đề được pháp luật quy định ở
phần chương 1 và phân tích làm rõ thực trạng cũng như hướng giải quyết ở
chương 2.
Phương pháp so sánh để làm rõ các đặc điểm một cách chi tiết nhất ở
phần khái niệm khiếu nại cũng như các quy định pháp luật liên quan.
Phương pháp thống kê tìm hiểu và thống kê các số liệu cụ thể được thể
hiện chủ yếu ở phần thực trạng.

của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan
hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ
cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi
ích hợp pháp của mình”.
Như vậy, so với khái niệm từ từ điển Tiếng Việt 2005 thì khái niệm khiếu
nại được quy định tại Luật khiếu nại 2011 được quy định cụ thể, rõ ràng và
được quy định ở một phạm vi hẹp hơn. [4]
1.1.2. Vai trò của khiếu nại
Khiếu nại là một trong những quyền cơ bản nhất của công dân đã được
Hiến pháp ghi nhận và được cụ thể hóa trong các văn bản luật liên quan [2].
Để việc giải quyết khiếu nại được triệt để, đúng pháp luật, bảo đảm quyền và
lợi ích của công dân, Quốc hội đã ban hành Luật khiếu nại, tố cáo ngày
02/12/1998, đã được sửa đổi bổ sung vào các năm 2004 và 2005. Nay được
thay thế bởi Luật khiếu nại năm 2011 và Luật tố cáo năm 2011, hai luật này
đều có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2012. Qua đó, ta chứng minh rằng
quyền khiếu nại đóng một vai trò hết sức quan trọng.
9


Thứ nhất, khiếu nại là một trong những biện pháp mà để công dân, cơ
quan, tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Khi có những căn cứ xác thực cho rằng quyền, lợi ích của mình bị xâm
phạm; khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, công dân thực hiện quyền
khiếu nại của mình, qua đó công dân, cơ quan, tổ chức yêu cầu chấm dứt
quyết định hành chính, quyết định kỷ luật cán bộ, công chứng, hành vi hành
chính trái pháp luật xâm hại. Đồng thời, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của mình họ có thể yêu cần khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại do chính
những quyết định hành chính, quyết định kỷ luật cán bộ, công chứng, hành vi
hành gây ra.
Như vậy, khi công dân thực hiện quyền khiếu nại sẽ phản ánh trung thực

nhân dân trước Đảng và nhà nước, góp phần siệt chặt thêm mối quan hệ giữa
Đảng, nhà nước và nhân dân.
Thứ tư, quyền khiếu nại góp phần tích cực phát huy quyền dân chủ của
nhân dân, phòng chống tệ tham nhũng.
Việc thực hiện quyền khiếu nại là một trong những hình thức biểu hiện
nền dân chủ. Với phương châm: “ Dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra”.,
việc thực hiện quyền khiếu nại sẽ giúp nhân dân thực hiện quyền làm chủ của
mình và là một điều kiện để nhân dân tham gia vào quản lý nhà nước. Bên
cạnh đó, việc thực hiện quyền khiếu nại sẽ giúp cơ quan nhà nước có thẩm
quyền nhanh chóng phát hiện những hành vi trục lợi, tham nhũng của một số
cán bộ công chức tha hóa đạo đức, góp phần phòng tham nhũng – một trong
những vấn đề nóng hổi và cấp bách hiện nay.
1.2. Người khiếu nại, đối tượng bị khiếu nại, người bị khiếu nại
1.2.1. Người khiếu nại
So với luật tố các năm 1998 ( sửa đổi, bổ sung năm 2004 và năm 2005 )
khái niệm người khiếu nại được quy định tại Điều 2 Khoản 2 Luật khiếu nại
2011 không có gì thay đổi “ Người khiếu nại là công dân, cơ quan, tổ chức
hoặc cán bộ công chức thực hiện quyền khiếu nại”.[3]
Căn cứ theo quy định tại Khoản 2 này thì người khiếu nại chỉ là công
dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức thực hiện quyền khiếu nại. Tuy
nhiên, căn cứ vào Điều 3 Khoản 1 Luật khiếu nại năm 2011: “ Khiếu nại của
11


cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam và việc giải quyết khiếu
nại được dựng theo quy định của Luật này, trừ trường hợp điều ước quốc tế
mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác”[4].
Như vậy, người khiếu nại còn bao gồm cả cá nhân, cơ quan, tổ chức nước
ngoài đang cư trú và hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam.
1.2.2. Đối tượng bị khiếu nại

Đối tượng khiếu nại ngoài quyết định hành chính, hành vi hành chính
còn có quyết định kỷ luật cán bộ, công chức.
Quyết định kỷ luật cán bộ, công chức được quy định tại Điều 2 Khoản
10 Luật khiếu nại 2011 như sau: “ Quyết định kỷ luật là quyết định bằng văn
bản của người đứng đầu cơ quan, tổ chức để áp dụng một trong các hình
thức kỷ luật đối với cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý của mình theo quy
định của pháp luật về cán bộ, công chức”.[4]
Cần phân biệt quyết định kỷ luật cán bộ, công chức với các quyết định
kỷ luật khác như quyết định kỷ luật lao động. Đối với quyết định kỷ luật lao
động, nếu người lao động không đồng ý thì khiếu nại theo quy định của pháp
luật về lao động; đối với quyết định kỷ luật viên chức thì khiếu nại theo luật
viên chức; đối với kỷ luật của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội thì có
thể khiếu nại theo quy định của điều lệ tổ chức đó.
1.2.3. Người bị khiếu nại
Điều 2 Khoản 5 Luật khiếu nại 2011 đưa ra khái niệm người bị khiếu nại
như sau: “ Người bị khiếu nại là cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có
thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước có quyết định hành chính,
hành vi hành chính bị khiếu nại; cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có
quyết định kỷ luật cán bộ, công chức bị khiếu nại”.[4]
Với phạm vi nghiên cứu của đề tài thì người khiếu nại bao gồm:
- Cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan
hành chính nhà nước có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại.
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có quyết định kỷ luật cán bộ,
công chức bị khiếu nại.
Như vậy, người bị khiếu nại ở đây phải là cá nhân, cơ quan, tổ chức nhà
nước mang quyền lực nhà nước có ban hành quyết định hành chính, hành vi
hành chính, quyết định kỷ luật cán bộ công chức. Theo quy định của pháp luật
13





các quyết định, hành vi sai trái, khắc phục thiệt hại xảy ra. Bên cạnh đó, có một
thời gian hợp lý để người khiếu nại suy nghĩ, cân nhắc và quyết định có khiếu
nại hay không. Nếu thời gian ngắn quá không đủ người khiếu nại bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm, nhưng khoảng thời gian quá dài
thì hầu hết các quyết định hành chính đã được thi hành, như vậy sẽ rất khó
khăn để xem xét, giải quyết và khắc phục hậu quả. Đồng thời quy định này vừa
thể hiện tính linh hoạt, mềm dẻo khi trong quy định dự trù những trường hợp
ốm đau, thiên tai hay các trở ngại khách quan khác. Chính vì vậy, quy định này
vừa đảm bảo tính khả thi, tính ổn định, liên tục trong quản lý hành chính nhà
nước, vừa đảm bảo được quyền cơ bản của công dân.
1.4. Khiếu nại về đất đai
1.4.1. Khái niệm khiếu nại về đất đai
Khiếu nại về đất đai là việc công dân, tổ chức, cơ quan đề nghị cơ quan
nhà nước có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính hoặc hành vi hành
chính trong quá trình quản lý đất đai khi có căn cứ cho rằng các quyết định,
hành vi hành chính đó xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Ở nước ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở
hữu, thay mặt nhân dân thực hiện hoạt động quản lý đất đai đảm bảo cho việc
sử dụng đất đai hợp lý, phục vụ lợi ích cho chủ sở hữu, cũng như lợi ích và
quyền của người sử dụng đất. Vì vậy, bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào khi
có đủ căn cứ đều có quyền khiếu nại và được nhà nước bảo đảm giải quyết
bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Các loại khiếu nại đất đai thường gặp là:
Quyết định hành chính như: quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất,
trưng dụng đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất; các quyết định bồi thường, hỗ
trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư; cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất; quyết định gia hạn thời hạn sử dụng đất và các khiếu nại khác.
Các hành vi hành chính liên quan đến đất đai bị khiếu nại đó là các hành

đầu phải giải quyết lần hai ( nếu người khiếu nại lần hai mà không khởi kiện
vụ án hành chính ra Tòa án ). Trong trường hợp người khiếu nại không đồng ý
với quyết định giải quyết khiếu nị lần đầu của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì Bộ
trưởng quản lý ngành, lĩnh vực phải giải quyết ( nếu người khiếu nại lần hai
16


mà không khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án ). Trong trường hợp người
khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng
hoặc quá hạn mà khiếu nại không được giải quyết thì người khiếu nại có
quyền khiếu nại tiếp (chỉ có quyền khởi kiện tại Tòa án).
Do phạm vi nghiên cứu của đề tài nên trong phần thẩm quyền này tôi tập
trung vào thẩm quyền giải quyết khiếu nại ở chính quyền cấp tỉnh.
Thẩm quyền giải quyết khiếu nại ở chính quyền cấp tỉnh được quy định
trong Luật khiếu nại 2011 như sau:
Thủ trưởng cơ quan thuộc sở và cấp tương đương có thẩm quyền giải
quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của
mình, của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp.
Giám đốc sở và cấp tương đương có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần
đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của cán bộ,
công chức do mình quản lý trực tiếp. Giải quyết khiếu nại lần hai đối với
quyết định hành chính, hành vi hành chính của Thủ trưởng cơ quan thuộc sở
và cấp tương đương đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại
lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết khiếu nại
lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình. Giải
quyết khiếu nại làn hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện,Giám đốc sở và cấp tương đương đã
giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần
đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có
quyền khiếu nại lần hai đến Thủ tướng cấp trên trực tiếp của người có thẩm
quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa
án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.
Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết
khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải
quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của
Luật tố tụng hành chính.
2. Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Bộ trưởng,
Thủ tướng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ (sau đây
18


gọi chung là Bộ trưởng) thì người khiếu nại khiếu nại đến Bộ trưởng hoặc
khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành
chính.
Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết
khiếu nại của Bộ trưởng hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không
được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy
định của Luật tố tụng hành chính.
3. Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy
ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là
cấp tỉnh) thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật
tố tụng hành chính.
Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết
khiếu nại lần đầu của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh howcj hết thời hạn
quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai
đến Bộ trưởng quản lý ngành, lĩnh vực hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại

TẠI THÀNH PHỐ HUẾ - TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
(GIAI ĐOẠN 2013-2015)
2.1. Thực trạng công tác giải quyết khiếu nại trên địa bàn thành phố Huế
Trong những năm gần đây, khiếu nại nói chung và khiếu nại đất đai nói
riêng liên tục xảy ra với số lượng và tính chất phức tạp ngày càng tăng. Công
tác giải quyết khiếu nại nói chung và giải quyết khiếu nại đất đai nói riêng đạt
nhiều thành quả, qua đó góp phần ổn định an ninh, chính trị, trật tự và an toàn
xã hội, thúc đẩy nền kinh tế tỉnh phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, tình hình đơn
thư khiếu nại ngày càng tăng về số lưng và tính chất ngày càng phức tạp. Số
vụ kiện tồn đọng còn nhiều, một số trường hợp chưa được giải quyết thấu tình
đạt lý gây bức xúc cho nhân dân mà điểm nóng trong những năm qua đó là
khiếu nại về đất đai.
Trong 3 năm gần đây, thành phố Huế đã tiếp nhận tổng số đơn thư khiếu
nại cụ thể như sau: Năm 2013: số đơn thư khiếu nại là 89 đơn; Năm 2014 là
110 đơn; Năm 2015 là 174 đơn
Cụ thể:
Năm 2013, theo báo cáo của các huyện, sở, ngành, trong năm 2013, Ủy
ban nhân dân tỉnh và Thủ trưởng các cấp, các ngành đã tiếp nhận 2.712 đơn,
trong đó khiếu nại 293 đơn; tố cáo 65 đơn; tăng 29,7% so với cùng kỳ năm
2012. Tổng số đơn tồn năm 2012 chuyển qua 35 đơn, trong đó có 32 đơn
khiếu nại, 03 đơn tố cáo.
Nội dung đơn khiếu nại chủ yếu các quyết định hành chính trong quản
lý đất đai như quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyết định
thu hồi đất, quyết định về bồi dưỡng, hỗ trợ và tái định cư, khiếu nại xin lại
nhà do Nhà nước quản lý.
Kết quả phân loại xử lý đơn có 199 đơn thuộc thẩm quyền giải quyết các
cấp, các ngành, trong đó có 174 đơn khiếu nại và 25 đơn tố cáo.
21





Năm 2014 có 19 đơn khiếu nại liên quan đến nội dung bồi thường giá
đất, trình tự thủ tục và tái định cư. Trong đó:
- 08 trường hợp khiếu nại nội dung không bồi thường giá đất và bồi
thường không đúng diện tích đất nhà nước đã thu hồi.
- 05 trường hợp khiếu nại nội dung giá đất bồi thường.
- 01 trường hợp khiếu nại nội dung tái định cư.
- 05 trường hợp khiếu nại hai nội dung: trình tự thủ tục và tái định cư[6].
Năm 2015, công tác tiếp dân đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh,
Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố Huế; thủ trưởng các
cấp, các ngành quan tâm thực hiện nghiêm túc. Trong năm, các cấp, các
ngành đã tiếp 1.661 lượt với 3.476 lượt công dân; đồng thời tiếp nhận 502
đơn ( khiếu nại 459 đơn, tố cáo 43 đơn ), giảm 21% so với cùng kỳ năm
trước.
Kết quả phân loại xử lý có 127 đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của các
cấp, các ngành; trong đó có 115 đơn khiếu nại, 12 đơn tố cáo. Trên cơ sở đó,
đã giải quyết 84/115 đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền, đạt tỷ lệ 73% và 12/12
đơn tố cáo thuộc thẩm quyền, đạt tỷ lệ 100%[7].
Riêng khiếu nại liên quan đến thu hồi đất và giải phóng mặt bằng những
năm gần đây thì năm 2013 có 50 trường hợp; năm 2014 có 31 trường hợp và
năm 2015 có 32 trường hợp.
2.2. Những thành tựu đạt được trong quá trình giải quyết khiếu nại
đất đai
Trong những năm qua, thành phố Huế đã đặt công tác giải quyết tranh
chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác quản
lý đất đai. Thành phố Huế đã đổi mới công tác tiếp dân, kiện toàn bộ máy và
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tiếp công dân và giải quyết
tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai.
Việc đùn đẩy trách nhiệm giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo đã

lý do chính đáng hoặc không rõ ràng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
sai sót về chủ sở hữu, thửa đất. Quá trình giải quyết lại diễn ra chậm, phiền
hà, gây khó khăn cho người sử dụng.
Thứ ba, khiếu nại về việc giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà
nước.
24


Các khiếu nại này khá phức tạp, gồm nhiều khiếu nại xung quanh việc
giải quyết khiếu nại của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, như giải quyết
khiếu nại về giải quyết tranh chấp thừa kế mà di sản để lại là quyền sử dụng
đất, thừa kế về di sản để lại là tài sản gắn liền trên đất. Điển hình là các khiếu
nại của ông Lê Phú Vẽ, bà Hà Thị Bích tại La Chữ, huyện Hương Trà, ông
Vĩnh Nguyện trú tại Đà Nẵng.
Quá trình giải quyết khiếu nại, tranh chấp đất đai người có thẩm quyền
chưa tổ chức gặp gỡ, đối thoại theo quy định của pháp luật, chưa kết hợp
đồng giữa các giải pháo vận động thuyết phục, giáo dục, đối thoại với việc xử
lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật, chưa phát huy hiệu quả các
phương tiện thông tin đại chúng, các kênh thông tin tuyên truyền phục vụ cho
công tác giải quyết khiếu nại.
Thứ tư, khiếu nại các quyết định xử phạt hành chính về vi phạm chế độ
quản lý và sử dụng đất đai.
2.4. Nguyên nhân phát sinh khiếu nại về đất đai
Qua thực tiễn giải quyết khiếu nại cho thấy, có rất nhiều nguyên nhân
dẫn đến khiếu nại đất đai nhưng chủ yếu khiếu nại phát sinh từ các nguyên
nhân chủ yếu sau:
Thứ nhất, sự bất cập của hệ thống chính sách pháp luật về đất đai.
Hệ thống pháp luật đất đai trong thời gian dài đã tránh né việc giải quyết
một số quan hệ về đất đai, dẫn tới tồn đọng một số vụ việc cần giải quyết và
gấy ra sự vận dụng khác nhau giữa các địa phương khi giải quyết những vấn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status