Chơng I.
Những vấn đề lý luận cơ bản về
cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc .
I. Công ty cổ phần:
Công ty cổ phần là doanh nghiệp có trong đó các cổ đông đóng góp vốn
kinh doanh và chịu trách nhiệm trong phạm vi phần góp vốn của mình trên cơ
sở tự nguyện để tiến hành các hoạt động kinh doanh nhằm thu lợi nhuận.
Công ty cổ phần ra đời từ thế kỷ XVI ở các nớc phát triển, đến nay đã có
lịch sử phát triển mấy trăm năm. Công ty cổ phần là sự hình thành một kiểu tổ
chức doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng. Nó ra đời không nằm trong ý
muốn chủ quan của bất cứ lực lợng nào mà là một quá trình kinh tế khách quan.
Cùng với sự phát triển của xã hội ở mỗi thồi kỳ cũng nh ở mỗi quốc gia
có quan niệm về công ty cổ phần khác nhau. Theo luật doanh nghiệp công ty cổ
phần là doanh nghiệp trong đó: Vốn điều lệ đợc chia làm nhiều phần bằng nhau
gọi là cổ. Cổ đông chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của
doanh nghiệp. Cổ đông có quyền chuyển nhợng cổ phần của mình cho ngời
khác, cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân. Số lợng cổ đông tối thiểu là ba và
không hạn chế số lợng tối đa.
1. Vai trò và đặc điểm của công ty cổ phần trong sự phát triển nền kinh tế
thị trờng.
1.1. Vai trò của công ty cổ phần.
Công ty cổ phần đã đóng vai trò lịch sử hết sức to lớn trong sự phát triển
nền kinh tế thị trờng. Có thể hình dung vai trò của nó ở một số đặc điểm.
- Công ty cổ phần là sản phẩm của xã hội hoá sở hữu, phản ánh quá trình tích
tụ và tập trung t bản. Công ty cổ phần ra đời góp phần đẩy nhanh quá trình
này về tốc độ và quy mô, làm xuất hiện những xí nghiệp mà với t bản riêng
lẻ không thể nào thiết lập đợc. Mác đã đánh giá: Nếu cha phải chờ cho đến
khi tích luỹ làm cho một số t bản riêng lẻ lớn lên đến mức có thể đảm đơng
đợc việc xây dựng đờng sắt, thì có lẽ đến ngày nay thế giới vẫn cha có đờng
1
sắt. Ngợc lại , qua các công ty cổ phần sự tập trung đã thực hiện việc đó
đã đầu t vào công ty mà thôi. Nhờ đặc điểm này nó đã khắc phục đợc trở ngại
quan trọng mà hình thái doanh nghiệp khác không mấy khi dám mạo hiểm để
2
thực hiện các dự án kinh doanh lớn. Bằng cách bán các cổ phiếu, trái phiếu cho
những ngời có vốn muốn đầu t để tăng thu nhập, nó làm cho những ngời này
không phải e ngại những hậu quả tài chính có thể xẩy ra với toàn bộ gia sản của
họ.
Mệnh giá cổ phiếu của công ty thờng định giá rất thấp để có khả năng
khai thác đợc ngay cả những số tiền tiết kiệm nhỏ nhất trong công chúng .
+ Xét về mặt huy động vốn .
Về mặt này công ty cổ phần đã giải quyết hết sức thành công. Bởi vì
những số tiền nhỏ dành dụm của nhiều gia đình nếu để riêng không đủ để thành
lập một doanh nghiệp nhỏ và do đó không thể đem ra kinh doanh đợc thì rõ
ràng sự có mặt của công ty cổ phần đã tạo điều kiện cho họ có cơ hội .
Các khoản tiền nhỏ có thể gửi ở ngân hàng hay mua trái phiếu. Song hình
thức cổ phần có sức hấp dẫn riêng mà các hình thức khác khác không thể thay
thế đợc.
Thứ nhất: Việc mua cổ phiếu không những đem lại cho cổ đông lợi tức cổ
phần ( bằng hoặc cao hơn lãi suất tiền gửi ngân hàng) mà còn hứa hẹn mang lại
cho cổ đông một khoản thu nhập ngầm nhờ việc gia tăng trị giá cổ phiếu khi
công ty làm ăn có hiệu quả.
Thứ hai: Các cổ đông có quyền đợc tham gia quản lý theo điều lệ của công
ty và đợc pháp luật bảo đảm điều đó trở nên cụ thể và có sức hấp dẫn hơn .
Hình thái công ty cổ phần đã thực hiện đợc việc tách quan hệ sở hữu
khỏi quá trình kinh doanh, tách quyền sở hữu với quyền quản lý và sử dụng tạo
nên một hình thái xã hội hoá sở hữu của đông đảo công chúng một bên, còn bên
kia là tầng lớp các nhà quản trị kinh doanh chuyên nghiệp sử dụng t bản xã hội
cho các công cuộc kinh doanh quy mô lớn.
Những ngời đóng vai trò sở hữu trong công ty cổ phần không trực tiếp
đứng ra kinh doanh mà uỷ thác chức năng đó cho bộ máy quản lý của công ty.
nhà nớc.
II. Doanh nghiệp nhà nớc.
1. Khái niệm doanh nghiệp nhà nớc.
Theo báo cáo tình hình xã hội thế giới , năm 1985 của liên hợp quốc ,
kinh tế quốc doanh ( hay còn gọi là kinh tế nhà nớc) đợc hiểu là khu vực kinh tế
bao gồm Những doanh nghiệp do nhà nớc nắm toàn bộ hoặc một phần sở hữu
4
và nhà nớc kiểm soát tới một mức độ nhất định quá trình ra quyết định của
doanh nghiệp . ở mỗi nớc đều có quy định khác nhau về doanh nghiệp nhà n-
ớc .
Theo luật doanh nghiệp nhà nớc ở nớc ta ( ngày 20 /04/95). Quy định :
doanh nghiệp nhà nớc là tổ chức kinh tế do nhà nớc đầu t vốn, thành lập và tổ
chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện
các mục tiêu kinh tế - xã hội do nhà nớc giao
Định nghĩa trên cho thấy doanh nghiệp nhà nớc có những đặc điểm sau:
Một là: Doanh nghiệp nhà nớc là tổ chức kinh tế đợc nhà nớcthành lập
để thực hiện những mục tiêu do nhà nớc giao.
Hai là: Doanh nghiệp nhà nớc do nhà nớc đầu t vốn nên tài sản trong
doanh nghiệp là thuộc sở hữu của nhà nớc, doanh nghiệp quản lý sử dụng tài
sản theo quy định của chủ sở hữu là nhà nớc.
Ba là: Doanh nghiệp nhà nớc có t cách pháp nhân vì có đủ các điều
kiện của pháp nhân theo quy định của pháp luật.
Bốn là: Doanh nghiệp nhà nớc là doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu
hạn, nghĩa là nó tự chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản trong phạm vi
số tài sản doanh nghiệp quản lý .
Doanh nghiệp nhà nớc có thể phân loại theo các tiêu chí sau .
- Theo mục đích hoạt động:
Doanh nghiệp nhà nớc đợc chia thành: doanh nghiệp nhà nớc hoạt động
kinh doanh và doanh nghiệp nhà nớc hoạt động công ích .
+ Doanh nghiệp nhà nớc hoạt động kinh doanh là doanh nghiệp nhà nớc hoạt
phụ thuộc, đơn vị sự nghiệp )và thực hiện các mục tiêu của chiến lợc phát triển
kinh tế xã hội trong từng thời kỳ.
Hình thành các tổng công ty nhà nớc nhằm mục đích thúc đẩy quá trình
tích tụ, tập trung, chuyên môn hoá và hợp tác hoá sản xuất để tạo ra những tập
đoàn kinh tế lớn.Tổng công ty nhà nớc đợc hình thành trong quá trình tổ chức
và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nớc, giải thể các xí nghiệp liên hợp và liên hiệp
các xí nghiệp. Tổng công ty nhà nớc đợc phân thành 2 loại: thành lập theo quyết
6
định 90/TTG ngày 7-3-1994 của thủ tớng chính phủ gọi tắt là tổng công ty 90,
loại thành lập theo quyết định 91/TTG ngày 6-4-1994 của thủ tớng chính phủ
thờng gọi tắt là tổng công ty 91 .
- Theo hình thức tổ chức quản lý:
Doanh nghiệp nhà nớc đợc chia ra thành:
+ Doanh nghiệp nhà nớc có Hội đồng quản trị, ban giám sát tổng giám đốc
hoặc giám đốc và bộ máy giúp việc.
+ Doanh nghiệp nhà nớc không có Hội đồng quản trị là doanh nghiệp mà trong
cơ cấu tổ trức quản lý không có Hội đồng quản trị, chỉ có giám đốc với bộ máy
giúp việc.
2. Tính cấp thiết của cải cách doanh nghiệp nhà nớc .
Trớc đây, nớc ta cũng nh các nớc xã hội chủ nghĩa thực hiện mô hình kế
hoạch hoá tập trung, lấy mở rộng và phát triển khu vực kinh tế nhà nớc bao
trùm toàn bộ nền kinh tế quốc dân là mục tiêu cho công cuộc cải tạo và xây
dựng chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, các doanh nghiệp nhà nớc đã đợc phát triển một
cách rộng khắp trên tất cả các lĩnh vực cơ bản với tỷ trọng tuyệt đối trong nền
kinh tế quốc dân, bất chấp hiệu quả đích thực mà chúng mang lại.
Sở hữu nhà nớc, doanh nghiệp nhà nớc và Chủ nghĩa xã hội đợc đồng
nhất với nhau. Nhiều dự án, kế hoạch và một số lợng rất lớn vốn đầu t của Nhà
nớc đợc dành cho những công trình đồ sộ về xây dựng các doanh nghiệp nhà n-
ớc trong các nghành khai khoáng, luyện kim, cơ khí chế tạo Đây là những
công trình tốn kém nhiều tiền của có thời gian xây dựng lâu dài, chậm thu hồi
xơ cứng không thích nghi với những biến động của nền kinh tế thị trờng. Tình
trạng làm chủ chung chung mà thực chất là vô chính phủ tồn tại một cách phổ
biến ở hầu hết các doanh nghiệp nhà nớc.
Mặc dù với số lợng nhân viên nhiều hơn hẳn các doanh nghiệp t nhân,
công tác thông tin từ doanh nghiệp nhà nớc cho chính phủ thờng với chất lợng
thấp, làm tăng tính chủ quan của nhà nớc trong việc can thiệp vào hoạt động
chính của doanh nghiệp kết hợp giữa quản lý yếu kém với công nghệ lạc hậu
của các doanh nghiệp nhà nớc, đã làm cho năng suất lao động và hiệu quả sản
xuất chỉ đạt ở mức thấp .
Bốn là, phân phối không dựa trên nguyên tắc phân phối theo lao động mà
chủ yếu nhằm phục vụ chính sách xã hội mang nặng tính bình quân chủ nghĩa,
không có tác dụng kích thích cán bộ quản lý và công nhân trong các doanh
nghiệp nhà nớc nâng cao hiệu suất lao động. Thêm vào đó, một bộ phận cán bộ
quản lý lỏng các doanh nghiệp nhà nớc không thạo kinh doanh, không đủ kiến
8
thức và kinh nghiệm cần thiết về quản lý nền kinh tế thị trờng, thiếu năng động
và không giám mạo hiểm trong kinh doanh để giành thắng lợi nhanh chóng.
III Giải pháp tài chính thúc đẩy tiến tình cổ phần hoá doanh
nghiệp nhà nớc .
1 . Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc.
Nhờ vai trò tính u việt của hình thái công ty cổ phần trong nền kinh tế thị
trờng mà xem cổ phần hoá là con đờng hữu hiệu nhất để cải tổ khu vực doanh
nghiệp nhà nớc nhằm phát huy vai trò chủ đạo của nó bằng cách di chuyển các
nguồn vốn cổ phần của mình vào các công ty cổ phần ở các lĩnh vực cần thiết
phải có sự điều tiết và kiểm soát của nhà nớc.
Cổ phần hoá theo nghĩa rộng là quá trình chuyển một doanh nghiệp từ các
hình thức tổ chức kinh doanh khác sang hình thái công ty cổ phần. Còn khái
niệm cổ phần hoá thông thờng ở nớc ta hiện nay đợc dùng để chỉ quá trình
chuyển một số doanh nghiệp nhà nớc thành công ty cổ phần. Nhiều ngời quan
niệm đồng nhất cổ phần hoá và t nhân hoá nhng về thực chất thì đây là hai khái
ớc là hai mục tiêu đầu tiên và trực tiếp. Thực hiện hai mục tiêu này sẽ góp
phần đạt đợc các mục tiêu của cải cách kinh tế và nâng cao hiệu quả của toàn
bộ nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, tuỳ theo hoàn cảnh của mỗi nớc mà có
quan điểm bổ sung.
ở các nớc t bản chủ nghĩa phát triển bổ sung thêm các chỉ tiêu :
- Xoá bỏ độc quyền đợc nhà nớc quy định cho một số doanh nghiệp nhà nớc.
- Tạo điều kiện để nhà nớc tập trung vào những nghành then chốt mũi nhọn đòi
hỏi lợng vốn lớn và trình độ khoa học công nghệ cao nâng cao sức cạnh
tranh của các sản phẩm quan trọng của đất nớc trên thị trờng thế giới.
- Thực hiện phân phối có lợi cho những ngời có thu nhập thấp tạo lập ổn định
xã hội trong giai đoạn nền kinh tế đang lâm vào giai đoạn trì trệ, khủng
hoảng
ở các nớc đang phát triển ngoài hai mục tiêu trên cần phải bổ sung
thêm :
- Giảm các khoản nợ nớc ngoài đang ngày càng tăng do phải bù đắp vào các
khoản thâm hụt ngân sách để trợ cấp cho các doanh nghiệp nhà nớc.
10
- Thu hút các nguồn đầu t nớc ngoài , đổi mới kỹ thuật và học tập quản lý, tạo
ra nền kinh tế mở cửa tăng sức cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nớc nâng
cao chất lợng hàng hoá dịch vụ trong nớc.
- Tạo dựng và phát triển một thị trờng tài chính trong nớc hoàn chỉnh, bao gồm
thị trờng t bản tài chính chứng khoán và tài chính tiền tệ.
Còn ở nớc ta chuyển doanh nghiệp nhà nớc thành công ty cổ phần
nhằm các mục tiêu sau ( Theo nghị định số 44/1998/NĐ-C P ngày 29-6 1998
của chính phủ ) :
- Huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm cá nhân, tổ chức kinh tế tổ chức xã
hội trong và ngoài nớc để đầu t và đổi mới công nghệ, tạo thêm việc làm, phát
triển doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh, thay đổi cơ cấu doanh nghiệp nhà
nớc.
- Tạo điều kiện để ngời lao động trong doanh nghiệp có cổ phần và ngời góp
trờng hỗn hợp cho phép đạt hiệu quả kinh tế xã hội cao. Chủ yếu có :
- Bán đấu giá hoặc bán trực tiếp các doanh nghiệp nhà nớc vừa và nhỏ hoạt
động trong các nghành thơng nghiệp và dịch vụ.
- Giữ nguyên phần vốn nhà nớc tại doanh nghiệp, phát triển cổ phiếu và bán
cho tất cả ai muốn mua thông qua cơ sở giao dịch chứng khoán. Qua đó thu
hút thêm vốn để đổi mới và phát triển doanh nghiệp. Hình thức này đợc sử
dụng để cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nớc có quy mô lớn.
- Bán một phần vốn cố định của doanh nghiệp nhà nớc cho một nhóm cá
nhân hoặc công ty mà họ có khả năng tài chính để cải cách hoạt động của
doanh nghiệp để cho có hiệu quả hơn.
- Bán với giá thấp hơn giá thị trờng cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nớc cho
cán bộ, công nhân viên chức làm việc tại các doanh nghiệp đó hoặc cho
những ngời nghèo khó có thu nhập thấp nhằm giải quyết những vấn đề xã
hội.
ở Việt Nam cổ phần hoá đợc tiến hành theo các hình thức sau đây.
1. Giữ nguyên giá trị thuộc vốn nhà nớc hiện có tại doanh nghiệp phát hành cổ
phiếu thu hút thêm vốn để phát triển doanh nghiệp.
2. Bán một phần giá trị thuộc vốn nhà nớc hiện có tại doanh nghiệp
3. Tách một bộ phận hiện có tại doanh nghiệp đủ điều kiện để cổ phần hoá .
12
4. Bán toàn bộ giá trị hiện có thuộc vốn nhà nớc tại doanh nghiệp để chuyển
thành công ty cổ phần .
1.2.3 Những nhân tố tác động đến quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n-
ớc ở nớc ta .
a. Yếu tố thuận lợi .
Điều kiện và môi trờng pháp lý về cơ bản đã đợc xác lập tại tất cả các doanh
nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trờng. Việc thực hiện thơng mại hoá các
hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế, là tiền đề cơ bản và cần thiết
để từng bớc thực hiện cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nớc.
- Chính phủ đã nhận thức đợc tầm quan trọng của vấn đề cổ phần hoá các doanh
- Ngoài ra, những kinh nghiệm thực tiễn phong phú của các nớc trên thế giới
trong quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc sẽ là những bài học bổ ích
và quý giá để nhà nớc tiến hành hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện
công việc cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nớc ở Việt Nam .
b. Các yếu tố khó khăn và cản trở .
- Khó khăn và cản trở lớn nhất trong quá trình t nhân hoá và cổ phần hoá ở
nhiều nớc đang phát triển là khu vực t nhân nhỏ bé và yếu ớt. Điều này cũng
đúng với Việt Nam, sự nhỏ bé yếu ớt của khu vực kinh tế t nhân phản ánh
trình độ chậm phát triển của kinh tế thị trờng trong đó hình thái doanh nghiệp
một chủ tự mình đứng ra kinh doanh là phổ biến . Hình thái công ty cổ phần
còn xa lạ với hầu hết mọi ngời. Điều này gây ra sự bỡ ngỡ cho cả ngời đầu t
lẫn ngời sử dụng vốn đầu t dới hình thái cổ phiếu và do đó, làm cho việc tiến
hành chơng trình cổ phần hoá ở nớc ta phải thực hiện trong một thời gian dài
song song với sự hình thành và phát triển hình thái công ty cổ phần cũng nh
xác lập môi trờng pháp lý tơng ứng
- Sự thiếu vắng một thị trờng tài chính thực sự trong đó có thị trờng chính
khoán ( thị trờng chính khoán là trung tâm phản ánh trạng thái hoạt động của
các công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trờng ). ở nớc ta sở giao dịch chứng
khoán đã đi vào hoạt động hơn một năm, nhng vẫn còn non nớt và cha phát
huy hết tác dụng của nó dẫn đến việc định giá doanh nghiệp để cổ phần hoá
phát hành và lu thông cổ phiếu, việc mua bán cổ phiếu còn gặp nhiều khó
khăn.
14
- Sự cha ổn định trong chính sách vĩ mô của nhà nớc về luật pháp, thuế
khoá, tiền tệ Chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro cho ng ời muốn đầu t lâu dài.
Nhiều chính sách ra đời chồng chéo mâu thuẫn lẫn nhau và thay đổi đột
ngột .
- Các doanh nghiệp nhà nớc hầu hết có trang bị máy móc cũ kỹ ,công nghệ
lạc hậu, biên chế cồng kềnh, khả năng cạnh tranh thấp ... Do đó khó có thể
tiến hành cổ phần hoá các doanh nghiệp này, số doanh nghiệp có mức lợi
định giá trị tài sản và quy mô công nợ để từ đó xác định giá trị của vốn chủ sở
hữu hay chính là giá trị phần vốn nhà nớc trong cổ phần hoá doanh nghiệp nhà
nớc.
Giá trị doanh nghiệp đem cổ phần hoá phải là giá trị hữu dụng của doanh
nghiệp tức là số thực huy động đợc vào trong kinh doanh.Với ý đó các khoản
tổn thất do kinh doanh thua lỗ, nợ nần dây da, vật t, hàng hoá tồn kho, kém
phẩm chất, tài sản cố định không cần dùng đang chờ thanh lý . Không đ ợc đa
vào giá trị doanh nghiệp để bán cổ phần.
Ngời bán cổ phần thờng có xu hớng định giá doanh nghiệp cao để tránh
mất vốn trong khi ngời mua cổ phần thờng có xu hớng định giá doanh nghiệp
thấp để tránh rủi ro. Hai nhu cầu đối kháng này đòi hỏi phải có giải pháp dung
hòa bằng việc xác định cho một mức giá hợp lý sau khi đã giải quyết các tồn
đọng về tài sản và công nợ nhằm tăng tính hấp dẫn với ngời mua đồng thời phải
có giải pháp đảm bảo khả năng phát triển của doanh nghiệp sau khi tiến hành cổ
phần hoá.
Do đó các vấn đề tài chính có thể chia làm hai nhóm: Vấn đề cổ phần hoá
bao gồm xử lý tồn tại về tài sản, vốn, đặc biệt là công nợ của doanh nghiệp CPH
và định giá doanh nghiệp; Vấn đề sau khi CPH bao gồm cơ cấu vốn và khả năng
tăng giảm vốn sau khi doanh nghiệp chuyển sang công ty cổ phần .
2.1. Xử lý vấn đề tài chính trớc và sau khi doanh nghiệp nhà nớc chuyển
sang công ty cổ phần.
2.1.1 Xử lý tồn tại về tài sản, vốn trớc và sau khi doanh nghiệp nhà nớc
chuyển sang công ty cổ phần.
Về tài sản:
16
Tài sản không cần dùng cần đợc nhợng bán và thanh lý ngay. Nếu nh cha
xong thì sau khi cổ phần hoá công ty cổ phần kế thừa và tiếp tục xử lý.
Các tài sản, vật t tiền vốn mất mát, thiếu hụt xác định rõ nguyên nhân, nếu
trách nhiệm thuộc về cá nhân thì cá nhân đó phải đền bù số còn lại doanh
nghiệp phải dùng quỹ để bù đắp nếu không đủ thì tính giảm phần vốn nhà nớc
doanh nghiệp
Nếu không xác định đợc nợ còn lại thì không thể tính đợc giá trị doanh
nghiệp.
Mục đích của việc xử lý nợ là phân loại các khoản nợ để thu hồi hoặc
thanh lý để có biện pháp loại trừ ra khỏi bảng cân đối, làm lành mạnh tình hình
tài chính của doanh nghiệp, từ đó xác định giá trị doanh nghiệp
Đối với các khoản phải thu khó đòi có nguyên nhân khách quan đợc xử lý
theo nguyên tắc:
- Đối với các khoản nợ đã có đủ chứng cớ xác định là các khoản nợ không
đòi đợc nh con nợ bị giải thể, phá sản, con nợ bỏ trốn, con nợ thi hành án và
mất khả năng thanh toán thì đ ợc hạch toán vào kết quả sản xuất kinh doanh
( nếu có lãi) hoặc giảm giá trị doanh nghiệp trớc khi thực hiện chuyển đổi sở
hữu ( nếu không có lãi).
- Đối với các khoản nợ cha đủ căn cứ để xử lý nh nguyên tắc trên nhng là
những khoản công nợ dây da đã phát sinh trên 5 năm mà con nợ còn đang tồn
tại, doanh nghiệp đã tích cực áp dụng nhiều giải pháp ( bao gồm cả giải pháp
đề nghị toà án giải quyết phá sản con nợ nh quy định tại điều 7 luật phá sản
doanh nghiệp ) nhng vẫn không thu hồi đợc nợ thì hạch toán vào kết quả kinh
doanh, giảm lãi trớc khi thực hiện chuyển đổi (nếu doanh nghiệp có lãi) hoặc
đợc giảm giá trị doanh nghiệp (phần vốn Nhà nớc) trớc khi chuyển đổi doanh
nghiệp với mức tối đa không vợt quá phần vốn Nhà nớc tại doanh nghiệp (nếu
doanh nghiệp không có lãi hoặc bị lỗ )
Các doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá vẫn tiếp tục có trách nhiệm theo
dõi, thu hồi các khoản nợ đã đợc xử lý theo nguyên tắc trên và nộp vào ngân
sách nhà nớc.
Đối với các khoản nợ do chủ quan đã quy đợc trách nhiệm cá nhân hoặc
tập thể thì phải xử lý trách nhiệm bồi thờng vật chất. Phần tổn thất sau khi đã xử
lý trách nhiệm đợc xử lý nh đối với các khoản nợ khó đòi có nguyên nhân
khách quan.
18
sách nhà nớc hỗ trợ một phần khi các ngân hàng thơng mại không đủ nguồn
để bù đắp theo hớng dẫn của bộ tài chính.
19
- Đối với nợ bảo hiểm xã hội do doanh nghiệp mất khả năng thanh toán.Về
nguyên tắc, trớc khi thực hiện cổ phần hoá, doanh nghiệp có trách nhiệm
thanh toán dứt điểm các khoản nợ đối với công ty bảo hiểm xã hội.Trờng hợp
doanh nghiệp không đủ khả năng thanh toán thì khoản nợ đối với công ty bảo
hiểm xã hội đợc giảm trừ vào giá trị doanh nghiệp trớc khi thực hiện chuyển
đổi.
2.1.2 .Định giá doanh nghiệp
Khái niệm:
Giá doanh nghiệp đợc quan niệm là giá cả thực tế mà ngời mua trả cho ng-
ời bán khi nhận quyền sở hữu một phần hay toàn bộ doanh nghiệp
Giá trị doanh nghiệp theo kinh tế học hiện đại có thể hiểu là mức độ thoã
dụng hay lợi ích mà một doanh nghiệp sẽ mang lại trong suy nghĩ của các đối t-
ợng tham gia mua bán.
Định giá doanh nghiệp là các hoạt động có phơng pháp mang tính đơn ph-
ơng của từng bên liên quan nhằm đa ra một mức giá mà họ cho là gần nhất với
giá trị doanh nghiệp.
Định giá doanh nghiệp một cách chính xác sẽ tránh đợc thiệt hại cho bên
mua hoặc bên bán khi doanh nghiệp đợc xác định thấp hơn giá trị thực thì có
thể làm mất vốn nhà nớc. Ngợc lại, khi giá doanh nghiệp đợc xác định cao hơn
giá trị thực sẽ làm thiệt hại cho bên mua.
Các nhân tố xác định giá trị doanh nghiệp .
- Giá trị tài sản doanh nghiệp.
Giá trị tài sản doanh nghiệp là chỉ tiêu dễ thấy nhất thể hiện giá trị doanh
nghiệp, đợc theo dõi hết sức chặt chẽ trong toàn bộ quá trình vận hành doanh
nghiệp bằng hệ thống hoạch toán kế toán .
Tài sản của doanh nghiệp gồm:
cân đối tài sản và tham khảo giá trị thị trờng của tài sản tơng tự hoặc cùng loại
giá trị của vốn cổ phần đợc tính toán nh sau:
V
E
=V
A
-V
D.
21
V
E
: giá trị thị trờng của vốn cổ phần .
V
A
: giá trị thị trờng của toàn bộ tài sản.
V
D
: giá trị trờng cửa nợ.
- Phơng pháp định giá theo khả năng sinh lời.
Phơng pháp này dựa trên cơ sở xem xét doanh nghiệp không phải đơn
thuần là tổng số số học giá trị các tài sản hiện có mà là một hệ thống phức tạp
các giá trị kinh tế đợc đo bằng khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Điều mà ng-
ời đầu t trông đợi là lợi nhuận, là khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong tơng
lai và chính nó là cơ sở để định giá doanh nghiệp. Với cách nhìn nhận đó ta có 2
phơng pháp định giá sau:
+ Phơng pháp lợi nhuận.
Giá trị doanh nghiệp theo phơng pháp lợi nhuận đợc xác định theo công
thức:
Để xác định lợi nhuận sau thuế bình quân hàng năm dự tính thu đợc ngời
ta có thể căn cứ vào số liệu thống kê cuả các năm gần nhất với thời điểm định
(Ghi công thức )
Phơng pháp này phù hợp với các doanh nghiệp không có nhiều tài sản cố
định phải khấu hao, khả năng tích luỹ vốn từ khấu hao hạn chế; mặt khác cũng
đòi hỏi lợi nhuận sau thuế hành năm là tơng đối ổn định. Trong trờng hợp lợi
nhuận sau thuế không ổn định hoặc đối với doanh nghiệp mới thành lập, cha có
số liệu quá khứ để xem xét thì việc dự đoán lợi nhuận sau thuế bình quân thu đ-
ợc hàng năm sẽ khó khăn hơn nhiều.
2.2. Cơ cấu vốn và khả năng tăng giảm vốn sau khi doanh nghiệp nhà nớc
chuyển sang công ty cổ phần .
Trong công ty cổ phần, nguồn hình thành vốn đợc chia làm 3 loại:
- vốn cổ phần
- vốn vay
- lợi nhuận tích luỹ từ hoạt động sản xuất kinh doanh
Khi doanh nghiệp mới chuyển sang công ty cổ phần, nguồn tài chính chỉ
bao gồm vốn cổ phần và vốn vay. Sau một thời gian hoạt động, thì công ty cổ
phần có thêm một nguồn vốn bổ sung là lợi nhuận thu đợc
Tỷ trọng của vốn cổ phần, vốn vay lợi nhuận trong nguồn vốn của công ty
phụ thuộc vào hàng loạt các yếu tố: danh tiếng của công ty trên thị trờng tiền
tệ, mức độ và tính chất mất ổn định của lợi nhuận công ty, hệ thống thuế thu
nhập doanh nghiệp hiện hành đối với công ty, lãi xuất tiền vay, tình hình kinh
tế chung của đất ngời nớc
- Khả năng tăng giảm vốn cổ phần.
Tăng vốn cổ phần của công ty.
23
+ Phát hành cổ phiếu mới: các loại cổ phiếu có thể phát hành là cổ phiếu thờng
và cổ phiếu u đãi.
+ Chuyển quỹ dự trữ vào vốn của công ty:
Quỹ dự trữ của CTCP là một loại quỹ bắt buộc công ty phải trích lập theo luật
định. Đây là một nguồn tài chính dự phòng nhằm bù đắp những rủi ro trong
kinh doanh hoặc đáp ứng nhu cầu tăng vốn để phát triển sản xuất kinh doanh.
doanh, cổ phần vào những công ty khác.
Khả năng tăng giảm vốn vay.
- Vay vốn bằng các hợp đồng tín dụng.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng, hầu nh không một doanh nghiệp
nào chỉ hoạt động sản xuất kinh doanh bằng nguồn vốn tự có mà phải hoạt động
bằng nhiều nguồn trong đó vốn vay chiếm tỷ lệ đáng kể. Vốn vay không chỉ có
ý nghĩa quan trọng không chỉ ở khả năng tài trợ các nhu cầu bổ sung cho việc
mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh của công ty mà còn tạo điều kiện
linh hoạt trong việc thu hẹp quy mô kinh doanh bằng việc hoàn trả các khoản
nợ đến hạn và giảm số lợng vốn vay.
Đối với DNNN, ngoài nguồn vốn Nhà nớc giao, các doanh nghiệp còn
hoạt động sản xuất kinh doanh bằng nguồn vốn vay nh vay ngân hàng, các công
ty tài chính, vay của các tổ chức kinh tế trong và ngoài nớc Trong quá trình
cổ phần hoá, Các DNNN chuyển sang các CTCP không đợc phép ngừng hoạt
động sản xuất kinh doanh. Cho nên trên thực tế các khoản vay nợ về vốn ( vay
ngắn hạn, vay dài hạn) của DNNN đơng nhiên đợc chuyển nợ sang các CTCP.
- Vay vốn bằng cách phát hành trái phiếu.
công ty cổ phần muốn phát hành trái phiếu phải đợc Đại hội đồng cổ
đông quyết định số tiền dự định vay bằng trái phiếu, giá trị của mỗi trái phiếu,
lãi suất của trái phiếu, thời hạn vay và thời hạn thanh toán hoàn trả trái phiếu và
khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu nếu luật pháp sau này cho phép. Việc phát
hành trái phiếu là một phơng thức vay vốn không làm tăng vốn cổ phần của
công ty.
Khả năng tăng giảm vốn từ lợi nhuận.
Lợi nhuận thu đợc từ kết quả sản xuất kinh doanh của mọi loại hình
doanh nghiệp. Đối với CTCP, khối lợng lợi nhuận lớn và tỷ suất lợi nhuận cao
25