TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 36 (2010 -2014)
ĐỀ TÀI:
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ VẤN ĐỀ
NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiên:
Ths: Bùi Thị Mỹ Hƣơng
Bộ môn: Luật thƣơng mại
Cần Thơ, 11/2013
Phan Thị Ngọc Hằng
MSSV: 5106047
Lớp: Luật thƣơng mại 2- k36
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
........................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................
Quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nƣớc ngoài
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nuôi con nuôi là hiện tượng xã hội xảy ra phổ biến ở tất cả các quốc gia trên thế giới
và tùy theo điều kiện kinh tế, văn hóa, tập quán,…mà pháp luật của các nước có những
quy định khác nhau về: độ tuổi, thủ tục cũng như quyền và nghĩa vụ của người nhận nuôi
và con nuôi.
Trẻ em luôn là tâm điểm của sự quan tâm hàng đầu của mỗi dân tộc, vì thế mà các
quốc gia trên thế gới luôn quan tâm tạo điều kiện về mọi mặt để cho tất cả các trẻ em điều
được phát triển toàn diện không chỉ mang đến các lợi ích thiết thực cho trẻ em mà còn
góp phần xây dựng hình ảnh của một thế giới mới trong tương lai.
Trẻ em nếu được sinh ra là lớn lên trong một mái ấm gia đình hạnh phúc, được quan
tâm chăm sóc và được sống trong một trường xã hội phát triển lành mạnh thì sẽ góp phần
phát triển tích cực của toàn xã hội. Tuy nhiên không phải bất kỳ trẻ em nào cũng được
sinh ra và lớn lên trong một mái ấm gia đình đầy đủ, được chăm sóc, được yêu thương để
phát triển toàn vẹn. Mà bên cạnh đó còn vô số mảnh đời kém may mắn, bất hạnh, vì vậy
việc quan tâm chăm sóc bảo vệ đối với những trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và bất hạnh
lại càng có ý nghĩa thiết thực hơn.
Tuy nhiên vấn đề đặt ra nhiệm vụ phát triển toàn diện về mọi mặt của trẻ em là định
hướng trong tương lai ở những nước có nền kinh tế kém phát triển và đang phát triển như
ở Việt Nam, chính vì thế mà pháp luật nước ta sớm nhận thức được vai trò đặc biệt quan
trọng của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nên việc ghi nhận chế định nuôi con
nuôi đã hình thành rất sớm qua các hiến pháp năm 1946, Hiến Pháp năm 1959, Hiến Pháp
năm 1980 và Hiến Pháp năm 1992 và đến nay là một quá trình phát triển và hoàn thiện
các quy định về vấn đề nuôi con nuôi đặc biệt là vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài còn khá mới mẻ. Hiến Pháp là cơ sở lý luận quan trọng bảo vệ quyền con người
đặc biệt là quyền trẻ em, Hiến Pháp xác định trách nhiệm pháp lý của toàn xã hội đối với
Để tìm hiểu kỹ hơn vấn đề nuôi con nuôi, đặc biệt là vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố
nước ngoài qua đó có thể hợp tác quốc tế để bảo vệ trẻ em ngày càng phát triển sâu rộng
hơn. Nên tác giả chọn đề tài “ Quy định của pháp luật việt nam về vấn đề nuôi con nuôi
có yếu tố nước ngoài.” Để làm luận văn tốt nghiệp Đại Học .
2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: với đề tài “Quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề
nuôi con nuôi có yếu tố nƣớc ngoài” người viết đã phân tích một cách tổng thể các quy
định của pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở nước ta thông qua quá trình
lập pháp để hiểu rõ bản chất pháp lý và tính nhân đạo của chế định về nuôi con nuôi có
yếu tố nước ngoài trong các văn bản pháp luật Việt Nam. Đồng thời phát hiện ra những
hạn chế của quy định pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Từ đó
đưa ra cơ sở hoàn thiện pháp luật trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
3. Mục đích nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu với mục đích làm sáng tỏ những quy định của pháp luật về
vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đề tài nêu lên những quan điểm, giải pháp
nhằm hoàn thiện những quy định của pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở
nước ta hiện nay.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài được hoàn thành dựa trên cơ sở phương pháp lịch sử để làm rỏ sự hình thành
và phát triển của pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong
từng thời kỳ lịch sử. Ngoài ra, người viết còn sử dụng một số phương pháp khoa học
GVHD: Ths. Bùi Thị Mỹ Hƣơng
4
SVTH: Phan Thị Ngọc Hằng
Quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nƣớc ngoài
khi Hiến Pháp năm 1946 ra đời thì Hiến Pháp này được xem như một mốc son lịch sử của
dân tộc với nhiều quy định bảo vệ quyền lợi của người công dân, đặc biệt là vấn đề bảo
vệ quyền lợi của trẻ em bên cạnh đó trong lĩnh vực hôn nhân gia đình sự quan tâm đến
quyền lợi của trẻ em bắt đầu được chú trọng, tuy chưa thật sự đầy đủ nhưng các quy định
này đã tạo nền tảng vững chắc trong các chế định về hôn nhân gia đình trong đó vấn đề
nuôi con nuôi ngày càng được quan tâm nuôi con nuôi bước đầu được ghi nhận trong
thông tư 30-NV/DC năm 1958 thi hành điều lệ đăng ký hộ tịch đơn giản tại vùng dân tộc
ít người do Bộ Nội Vụ ban hành, Thông Tư 87 –NV/DC năm 1958 ấn định thể thức và
hướng dẫn thi hành nghị định 484 – ND/ LB về việc xét đơn xin thay đổi họ tên do Bộ
Nội Vụ ban hành và thông tư các văn bản này cơ bản đã đưa ra những nguyên tắc, điều
kiện xác lập, chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi cụ thể. Đến Luật Nuôi Con Nuôi năm 2010
tại khoản 1, điều 3 vẫn tiếp tục kế thừa khái niệm đó nhằm kiến tạo một hệ thống các
thuật ngữ pháp lý về nuôi con nuôi chứ không nhằm đưa ra một cách hiểu khác về chế
định nuôi con nuôi ở Việt Nam. Theo đó, nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ
và con lâu dài, bền vững giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi
thông qua việc đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi các bên có đủ điều kiện
theo quy định của pháp luật, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em được nhận làm con nuôi, bảo
đảm trẻ em được yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trong môi trường gia
đình thay thế.
Điều 14 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 đã kế thừa quy định điều 69 của Luật Hôn
Nhân Và Gia Đình năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010 trong việc quy định điều kiện
đối với người nhận con nuôi. Theo quy định của Luật Nuôi Con Nuôi năm 2010 thì người
nhận con nuôi phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên; có
điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con
nuôi chưa thành niên; có tư cách đạo đức tốt; không phải là người đang bị hạn chế quyền
GVHD: Ths. Bùi Thị Mỹ Hƣơng
6
cập đến trong Hiến Pháp năm 1946 - Hiến Pháp năm 1959 việc nuôi con nuôi vẫn còn bị
giới hạn bởi phạm vi đối tượng nhận nuôi con nuôi chỉ là công dân việt Nam thường trú
trên lãnh thổ Việt Nam. Trong giai đoạn này vấn đề nuôi con nuôi chỉ được thừa nhận
cho người Việt Nam và trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam, trong thời điểm này thì việc
nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài chưa được đề cập đến trong các quy định của pháp
luật điều này hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh lịch sử và nền lập pháp của nước ta trong
bấy giờ, do đất nước còn nhiều khó khăn mặc dù các quy định về quyền chăm sóc và bảo
vệ trẻ em đã được thừa nhận nhưng trên thực tế thì các quyền này chưa được thật sự quan
GVHD: Ths. Bùi Thị Mỹ Hƣơng
7
SVTH: Phan Thị Ngọc Hằng
Quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nƣớc ngoài
tâm đúng mức. Bên cạnh đó vấn đề ngoại giao hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nuôi con
nuôi có yếu tố nước ngoài vẫn còn khá mới mẻ, tuy nhiên các quy định về vấn đề nuôi
con nuôi cũng tạo ra cơ sở pháp lý khá vững chắc cho vấn đề nhận con nuôi trong giai
đoạn này, hơn nữa đó cũng là cơ sở pháp lý cho các qui định về vấn đề nuôi con nuôi
trong tương lai đặc biệt là nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Đến khi Hiến Pháp năm
1959, Hiến Pháp năm 1980 được ban hành, trong giai đoạn này đã khẳng định sự phát
triển của nền lập pháp nước ta trong đó các chế định về lĩnh vực hôn nhân gia đình ngày
càng được quan tâm. Quan trọng hơn nữa là Luật hôn nhân gia Đình năm 1959 ra đời đã
khẳng định tính quan trọng của việc điều chỉnh các vấn đề hôn nhân gia đình, nuôi con
nuôi là chế định được ghi nhận tại điều 24 của Luật Hôn Nhân Gia Đình năm 1959, tuy
nhiên hướng tiếp cận của chế định nuôi con nuôi chỉ mới chính thức việc cho, nhận nuôi
con nuôi trong nước giữa người Việt Nam với nhau. Các luật và văn bản hướng dẫn luật
chưa đề cập một cách cụ thể về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, điều này cũng
họp thứ 7 ngày 9/6/2000 đã thông qua luật hôn nhân gia đình, bộ luật tố tụng dân sự năm
2004, tiếp đó là bộ luật dân sự 2005… Các quy định này không chỉ tạo ra cơ sở pháp lý
cho vấn đề nuôi con nuôi trong nước mà còn là nguồn quan trọng trong tư pháp quốc tế
về điều chỉnh vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.Trong những năm gần đây nuôi
con nuôi có yếu tố nước ngoài được nhà nước đặc biệt quan tâm bằng việc ban hành
nhiều chính sách, văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu
tố nước ngoài; Nghị định 24/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều Luật
Hôn Nhân và Gia Đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; Luật Nuôi
Con Nuôi năm 2010 ra đời với nhiều điều sửa đổi liên quan đến vấn đề nuôi con nuôi có
yếu tố nước ngoài nhằm tạo điều kiện cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tìm được mái
ấm gia đình và sống tốt hơn.
Như vậy nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là một thuật ngữ pháp lý chuyên
ngành Tư pháp quốc tế là một nhóm quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài. Vì
thế để hiểu một cách thống nhất về nuôi có yếu tố nước ngoài Luật Nuôi Con Nuôi năm
2010 đã định nghĩa Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại khoản 5 điều 3 như sau:
“Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với
người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam, giữa công
dân Việt Nam với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài” theo đó việc nuôi con nuôi
giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài phải thực hiện đầy đủ các quy định của
pháp luật về điều kiện, trình tự, thủ tục... đối với việc nhận con nuôi có yếu tố nước
ngoài, nhằm mục đích gắn bó tình cảm giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, đảm bảo cho con
nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục tốt.
1.2. Mục đích, ý nghĩa của việc nuôi con nuôi có yếu tố nƣớc ngoài
1.2.1. Mục đích của việc nuôi con nuôi có yếu tố nƣớc ngoài
Nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng mang
một ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đó chính là việc làm mang tính nhân đạo cao cả. Mục
đích cơ bản là làm phát sinh quan hệ cha mẹ con lâu dài, ổn định giữa người nhận con
nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm người nhận làm con nuôi được chăm
sóc, nuôi dưỡng, giáo dục một cách tốt nhất trong môi trường xã hội lành mạnh, góp phần
bảo vệ quyền, lợi ích của các bên trong quan hệ cha mẹ và con, quan hệ gia đình; ngăn
này. Vì vậy bất cứ trường hợp xin nhận trẻ em làm con nuôi phải đáp ứng đầy đủ mục
đích, mang ý nghĩa đích thực của việc nhận con nuôi, sự giang tay của cộng đồng người
Việt Nam đối với những trẻ em thiếu tình thương của gia đình cũng như vật chất là vô
cùng cần thiết. Tuy nhiên nếu chỉ giới hạn đi quyền lợi của trẻ em trong phạm vi của mỗi
quốc gia thì sẽ không đảm bảo quyền và lợi ích tốt nhất cho trẻ em. Vì vậy việc tăng
cường hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là điều vô cùng cần
thiết việc làm này sẽ đem lại một gia đình ổn định cho trẻ em trong trường hợp không tìm
được gia đình thay thế thích hợp cho trẻ em ngay tại nước mình. Bên cạnh đó việc cho trẻ
em làm con nuôi nước ngoài sẽ làm giảm gánh nặng cho cơ sở nuôi dưỡng mà vẫn đảm
bảo được lợi ích tốt nhất cho trẻ em, mặt khác điều này còn phù hợp với chính sách mở
rộng quan hệ đối ngoại với nước ta đáp ứng nhu cầu hội nhập và giao lưu quốc tế. Tất cả
hãy hướng đến vì quyền lợi trẻ em, việc nuôi nhận con nuôi hãy xuất phát từ những mục
đích cao đẹp của cộng đồng người, chúng ta hãy luôn biết quan tâm và chia sẻ những bất
hạnh của những số phận kém may mắn để những ước mơ của những đứa trẻ kém may
mắn được bay cao bay xa hơn.
GVHD: Ths. Bùi Thị Mỹ Hƣơng
10
SVTH: Phan Thị Ngọc Hằng
Quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nƣớc ngoài
1.3. Đặc trƣng của việc nuôi con nuôi có yếu tố nƣớc ngoài
1.3.1. Đối tƣợng điều chỉnh
Yếu tố nước ngoài là căn cứ rất quan trọng trong việc xác định đối tượng diều
chỉnh cũng như các phương pháp điều chỉnh trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.
Yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam được quy định tại điều 758 Bộ Luật Dân Sự
năm 2005 như sau: “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất
11
SVTH: Phan Thị Ngọc Hằng
Quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nƣớc ngoài
chỉ có mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là người không quốc tịch hoặc có mẹ là
công dân Việt Nam còn cha không rõ là ai thì có quốc tịch Việt Nam” ( theo khoản 1 điều
16 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008); “là người có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam
còn người kia là công dân nước ngoài thì có quốc tịch Việt Nam, nếu có sự thỏa thuận
bằng văn bản của cha mẹ vào thời điểm đăng ký khai sinh cho con. Trường hợp một
người sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà cha mẹ không thỏa thuận được việc lựa chọn
quốc tịch cho con thì trẻ em đó có quốc tịch Việt Nam.” (Theo khoản 2 điều 16 Luật quốc
tịch Việt Nam năm 2008 ); “là người sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam nhưng cha mẹ là
người không có quốc tịch hoặc không xác định được quốc tịch nhưng có nơi cư trú tại
Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam” (Theo điều 17 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 );
“là người dưới 15 tuổi bị bỏ rơi hoặc tìm thấy ở Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam”
(Theo điều 18 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008). Mặt khác chủ thể tham gia vào quan
hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài còn phải có năng lực pháp luật và năng lực hành
vi, đây là đặc trưng không thể thiếu khi các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật, hiện
nay việc xác định năng lực pháp luật và năng lực hành vi của chủ thể tham gia vào quan
hệ dân sự có yếu tố nước ngoài dựa trên nguyên tắc luật quốc tịch hoặc luật nơi cư trú của
đương sự trừ một số trường hợp luật có quy định khác. Người có quốc tịch Việt nam
được xem là công dân Việt Nam, được nhà nước đảm bảo thực hiện các quyền công dân,
phải làm tròn nghĩa vụ công dân đối với nhà nước theo quy định của pháp luật. Ngoài
công dân Việt Nam là chủ thể cơ bản trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài,
thì người nước ngoài cũng là một chủ thể không kém phần quan trọng trong quan hệ nuôi
con nuôi giữa người nước ngoài cùng thường trú trên lãnh thổ Việt Nam với nhau, đây là
quan hệ phát sinh giữa người có quốc tịch nước ngoài với nhau không đồng thời có quốc
luật được áp dụng để điều chỉnh về điều kiện đối với người nhận con nuôi trong quan hệ
nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau mà một trong hai bên định cư ở nước
ngoài thì pháp luật được áp dụng trong trường hợp này là pháp luật của nước nơi mà
người đó thường trú và pháp luật Việt Nam. Quy định này hoàn toàn phù hợp với xu
hướng hội nhập quốc tế. Vì vậy việc công nhận chủ thể này đã tạo điều kiện thuận lợi cho
các bên tham gia trong việc thiết lập các mối quan hệ đặc biệt trong lĩnh vực nuoi con
nuôi.
Thứ hai: Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam. Hiện nay quan hệ nuôi con nuôi
giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam phát sinh ngày càng nhiều theo
xu hướng hội nhập và mở rộng quan hệ kinh tế ở nước ta. Trước tình hình đó pháp luật
Việt Nam đã quy định pháp luật áp dụng để điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi khi họ
tham gia tại Việt Nam là Pháp luật Việt Nam, tức là áp dụng quy tắc nơi cư trú của đương
sự để giải quyết. Việc áp dụng quy tắc này sẽ giúp cho các cơ quan có thẩm quyền của
Việt Nam giải quyết vụ việc nhanh chóng và thuận lợi.
Có thể nói việc xác định yếu tố nước ngoài trong các quan hệ dân sự nói chung và
quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng là nền tảng cơ sở cho việc thiết lập
và giải quyết các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực này.
1.3.2. Phƣơng pháp điều chỉnh
Hiện nay tư pháp quốc tế Việt Nam cũng như tư pháp quốc tế của đa số các nước
trên thế giới điều có những cách thức và biện pháp rất riêng, đặc thù của mình để điều
chỉnh và phân định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia vào các quan hệ pháp luật
dân sự mang tính chất quốc tế đó là hai phương pháp: phương pháp xung đột, phương
pháp thực chất cả hai phương pháp này được kết hợp hài hòa cũng như sự tác động tương
GVHD: Ths. Bùi Thị Mỹ Hƣơng
13
SVTH: Phan Thị Ngọc Hằng
hiệp định về nuôi con nuôi giữa Việt Nam với các nước Pháp, Đan Mạch, Thụy Điển,…
Tóm lại Phương pháp xung đột một mặt nó luôn hoàn thiện và pháp điển hóa trong
điều kiện quốc tế, mặt khác nó cũng lại luôn được bổ sung và hoàn thiện hóa trong pháp
luật của mỗi quốc gia.
1
2
Trường Đại Học Luật Hà Nội, Giáo trình Tư Pháp Quốc Tế, Nxb Tư Pháp, Hà Nội, 2006, Tr 31, Tr 32.
Trường Đại Học Luật Hà Nội, Giáo trình Tư Pháp Quốc Tế, Nxb Tư Pháp, Hà Nội, 2006, Tr 32.
GVHD: Ths. Bùi Thị Mỹ Hƣơng
14
SVTH: Phan Thị Ngọc Hằng
Quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nƣớc ngoài
1.3.2.2. Phƣơng pháp thực chất
Phương pháp thực chất (hay còn gọi là phương pháp điều chỉnh trực tiếp) được
xây đụng trên cơ sở hệ thống các quy phạm thực chất trực tiếp giải quyết các quan hệ dân
sự quốc tế, trực tiếp phân định quyền và nghĩa vụ rõ ràng giũa các bên tham gia quan hệ.
Các quy phạm thực chất điều chỉnh các quan hệ tư pháp quốc tế có thể được xây dựng
qua các điều ước quốc tế người ta gọi là các quy phạm thực chất thống nhất.3 Còn các
quy phạm thực chất xây dựng trong các văn bản pháp quy của mỗi quốc gia được gọi là
quy phạm thực chất trong nước.
Quy phạm thực chất được pháp luật quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của các
chủ thể tham gia vào quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Đây là một quy phạm giải
quyết một cách trực tiếp các vấn đề thông qua các quy định của luật. Ví dụ theo khoản 2
điều 29 của Luật Nuôi Con Nuôi năm 2010 quy định về điều kiện của người nhận nuôi
SVTH: Phan Thị Ngọc Hằng
Quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nƣớc ngoài
Thứ nhất: nguồn của tư pháp quốc tế là điều ước quốc tế, nó mang tính chất điều
chỉnh quốc tế.
Thứ hai: nguồn của tư pháp quốc tế là luật pháp của mỗi quốc gia, nó mang tính
chất điều chỉnh quốc nội. Hai tính chất này luôn thống nhất với nhau trong điều chỉnh
quan hệ tư pháp quốc tế đó là các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, thương
mại và tố tụng dân sự có yếu tố nước ngoài.
1.3.3.1. Điều ƣớc quốc tế
Điều ước quốc tế là văn bản pháp lý quốc tế thể hiện sự thoả thuận của các chủ thể
pháp luật quốc tế trước hết là các quốc gia trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện nhằm quy
định, thay đổi, chấm dứt các quyền, nghĩa vụ của các bên ký kết trong quan hệ quốc tế,
phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế. 5 Điều ước quốc tế về nuôi
con nuôi có yếu tố nước ngoài là nguồn pháp luật quan trọng trong việc điều chỉnh các
quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Hiện nay
nhà nước ta đang rất chú trọng mở rộng quan hệ hợp tác về nuôi con nuôi quốc tế thông
qua việc ký kết và gia nhập các điều ước quốc tế song phương với nhiều quốc gia.
Điều ước quốc tế ký kết giữa các quốc gia đã trở thành cơ sở pháp lý quan trọng
trong việc quy định các nguyên tắc áp dụng pháp luật chung cho quốc gia tham gia ký
kết. Hiện nay vấn đề xung đột pháp luật xảy ra ngày càng nhiều trong các lĩnh vực về hôn
nhân gia đình trong đó có vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Vì vậy trong các
hiệp định tương trợ tư pháp về nuôi con nuôi mà Việt Nam ký kết với các nước đã góp
phần tích cực trong việc đề ra nhiều nguyên tắc thỏa thuận áp dụng góp phần hạn chế
xung đột pháp luật xảy ra. Các nguyên tắc và quy định trong hiệp định tương trợ tư pháp
về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là cơ sở pháp lý cho Việt Nam và các nước
ký kết thực hiện việc điều chỉnh nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được hoàn thiện về
mặt pháp lý phù hợp quy chế pháp lý của trẻ em và các quốc gia tham gia ký kết. Điều
ước quốc tế sẽ được ưu tiên áp dụng khi xảy ra tranh chấp với quốc gia mà Việt Nam ký
19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật nuôi con
nuôi… Các quy phạm pháp luật này chính là cơ sở pháp lý quan trọng điều chỉnh phù
hợp các vấn đề phát sinh trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Hoạt động nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là hoạt động mang lại nhiều lợi ích
thiết thực vì quyền lợi trẻ em, để hoạt động mang tính nhân đạo này ngày càng càng được
phát triển, thì việc hoàn thiện các quy định pháp luật trong nước và việc mở rộng ký kết,
gia nhập các điều ước quốc tế về nuôi con nuôi là vấn đề quan trọng ở mỗi quốc gia trong
đó có Việt Nam.
1.4. Các hành vi bị cấm khi nhận nuôi con nuôi có yếu tố nƣớc ngoài và các trƣờng
hợp nuôi con nuôi có yếu tố nƣớc ngoài
1.4.1. Các hành vi bị cấm khi nhận nuôi con nuôi có yếu tố nƣớc ngoài
Hiện nay bên cạnh việc mở rộng các quan hệ hợp tác về nuôi con nuôi quốc tế đã
không ít xuất hiện các trình trạng nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trái với mục đích
của việc nhận con nuôi. Tuy nhiên pháp luật lại chưa quy định các vấn đề này một cách
rõ ràng. Nhà nước ta ban hành Luật Nuôi Con Nuôi năm 2010 quy định cụ thể các hành
vi trái quy định pháp luật về nuôi con nuôi tại điều 13 của Luật Nuôi Con Nuôi như sau:
+ Lợi dụng việc nuôi con nuôi để trục lợi, bóc lột sức lao động, xâm hại tình dục;
bắt cóc, mua bán trẻ em.
+ Giả mạo giấy tờ để giải quyết việc nuôi con nuôi.
+ Phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi.
+ Lợi dụng việc cho con nuôi để vi phạm pháp luật về dân số.
GVHD: Ths. Bùi Thị Mỹ Hƣơng
17
SVTH: Phan Thị Ngọc Hằng
Quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nƣớc ngoài
điều chỉnh của Luật Nuôi Con Nuôi. Theo khoản 3 điều 3 của Luật Quốc Tịch năm 2008
quy định về người Việt Nam định cư ở nước ngoài được hiểu là công dân Việt Nam và
người gốc Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài. Nếu họ đủ điều kiện
theo quy định của pháp luật thì sẽ được nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi, không phụ
GVHD: Ths. Bùi Thị Mỹ Hƣơng
18
SVTH: Phan Thị Ngọc Hằng
Quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nƣớc ngoài
thuộc vào nước mà nơi người đó định cư có ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế về hợp
tác nuôi con nuôi với Việt Nam hay chưa.
Người nước ngoài thường trú ở nước cùng là thành viên của điều ước quốc tế về
nuôi con nuôi mà Việt Nam đã gia nhập, ký kết cũng được nhận trẻ em Việt Nam làm
con nuôi.
1.4.2.2. Công dân Việt Nam thƣờng trú ở trong nƣớc nhận trẻ em nƣớc
ngoài làm con nuôi
Theo khoản 1 điều 5 của Luật Quốc Tịch năm 2008 quy định: “Người có quốc
tịch Việt Nam là công dân Việt Nam”, như vậy có nghĩa là một người là công dân Việt
Nam thì phải mang quốc tịch Việt Nam, muốn chúng minh được một người có mang
quốc tịch Việt Nam hay không thì dựa vào giấy khai sinh, chứng minh nhân dân, hộ
chiếu,… Từ đó cho thấy nước ta dựa vào quốc tịch để xác định yếu tố nước ngoài, vậy trẻ
em nước ngoài là trẻ em không mang quốc tịch Việt Nam. Công dân Việt Nam đáp ứng
đủ các điều kiện theo quy dịnh của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước nơi người
được nhận làm con nuôi sẽ được nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi. Trẻ em nước
ngoài sau khi được công dân Việt Nam nhận làm con nuôi một cách hợp pháp thì đương
nhiên có quốc tịch Việt Nam kể từ thời điểm cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt
Con Nuôi năm 2010 thì người nhận con nuôi phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:
“Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài nhận
người Việt Nam làm con nuôi phải có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật nước
nơi người đó thường trú và quy định tại Luật Nuôi Con Nuôi năm 2010. Công dân Việt
Nam nhận người nước ngoài làm con nuôi phải có đủ các điều kiện theo quy định tại
Điều 14 của Luật Nuôi Con Nuôi năm 2010 và pháp luật của nước nơi người được nhận
làm con nuôi thường trú”
Bên cạnh đó theo pháp luật Việt Nam, thì người nhận con phải đáp ứng đầy đủ
các điều kiện của điều 14 Luật Nuôi Con Nuôi năm 2010, cụ thể như sau:
Thứ nhất, Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, đây là điều kiện tiên quyết trong
việc nhận nuôi con nuôi, vì người nhận con nuôi là người sẽ chăm sóc và bảo vệ con nuôi
một cách tốt nhất. Vì vậy người nhận con nuôi phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự dể
bảo vệ lợi ích của trẻ em được nhận làm con nuôi.
- Theo quy định của Bộ Luật Dân Sự năm 2005, người có năng lực hành vi dân
sự đầy đủ là người đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:
+ Từ đủ 18 tuổi trở lên. Đây là điều kiện tuyên quyết bắt buộc đối với chủ thể là
người xin nhận con nuôi vì họ là người sẽ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ con
nuôi sau này nên họ phải có năng lực hành vi dân sự. Và không phải là người bị hạn chế
và bị mất năng lực hành vi theo khoản 1- điều 23 Bộ Luật Dân Sự năm 2005.6
6
Khoản 1 điều 23 quy định: Người nghiện ma tuý, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia
đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan, Toà án có thể ra quyết định
tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
GVHD: Ths. Bùi Thị Mỹ Hƣơng
20
con chưa thành niên; Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ
sở chữa bệnh; Đang chấp hành hình phạt tù; Chưa được xóa án tích về một trong các tội
cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi
hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ
dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh
tráo, chiếm đoạt trẻ em. Nếu một cá nhân thuộc một trong những trường hợp không được
nhận con nuôi nêu trên, như vậy cá nhân này không đảm bảo được các yêu cầu cơ bản về
nhân thân, tư cách đạo đức tốt, cũng như mục đích nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục tốt
GVHD: Ths. Bùi Thị Mỹ Hƣơng
21
SVTH: Phan Thị Ngọc Hằng
Quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nƣớc ngoài
cho con nuôi, điều này cho thấy không đảm bảo được mục đích chủ yếu của việc cho con
nuôi. Đây là quy định được nhiều nước quy định như là một điều kiện quan trọng trong
việc thiết lập trong quan hệ cha, mẹ nuôi với con nuôi
Tóm lại các quy định về điều kiện của người nhận con nuôi hoàn toàn cần thiết
và phù hợp với pháp luật quốc tế. Các quy định này nhằm mục đích đảm bảo cho những
đứa trẻ sẽ được nhận vào các gia đình có đủ điều kiện về vật chất cũng như tinh thần để
phát triển toàn diện về thể chất và nhân cách.
2.1.1.2. Điều kiện đối với ngƣời đƣợc nhận làm con nuôi có yếu tố nƣớc
ngoài
Luật Nuôi Con Nuôi năm 2010 đã kế thừa và phát huy một cách thích hợp các
quy định về vấn đề nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói
riêng. Luật Nuôi Con Nuôi năm 2010 đã đưa ra các quy định cụ thể về điều kiện đối với
người được nhận làm con nuôi nhằm mục đích vì lợi ích tốt nhất cho trẻ em
mua bán trẻ em. Quy định này nhằm đảm bảo sự phù hợp với quan hệ cha mẹ nuôi và con
nuôi, đây cũng là quy định phù hợp với bản chất của việc nuôi con nuôi đặc biệt là nuôi
con nuôi có yếu tố nước ngoài, vì một người không thể làm con nuôi của nhiều người
được, nếu như một trẻ em được làm con nuôi của nhiều người sẽ gây khó khăn cho việc
quản lý các quan hệ về nhân thân, tài sản, quyền và nghĩa vụ của các bên cũng như bảo
hộ pháp lý cho người được làm con nuôi, nhằm đảm bảo điều kiện cho trẻ em được chăm
sóc, bảo vệ tốt nhất.
Vì vậy, việc nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, đối tượng được nhận làm
con nuôi phải thỏa mãn những điều kiện nhất định của pháp luật nước tiếp nhận cũng như
pháp luật Việt Nam nhằm mục đích đem lại lợi ích tốt nhất cho trẻ em có hoàn cảnh khó
khăn, tạo cơ hội cho các trẻ em này được sống trong một gia đình hạnh phúc, được học
tập và phát triển như những đứa trẻ khác.
2.1.2. Yếu tố tự nguyện trong nuôi con nuôi có yếu tố nƣớc ngoài
Trong quan hệ nuôi con nuôi sự đồng ý phải hoàn toàn tự nguyện, trung thực,
không bị ép buộc, không bị đe dọa hay mua chuộc, không vụ lợi, không kèm theo yêu cầu
trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác ( theo khoản 3 điều 21 của Luật Nuôi Con Nuôi năm
2010).7 Nhằm đảm bảo mục đích nuôi con nuôi, quyền lợi của các bên và tránh các hành
vi lợi dụng việc nuôi con nuôi để thực hiện hành vi trái pháp luật. Bên cạnh đó nuôi con
nuôi còn thể hiện ý chí mong muốn của người nhận con nuôi về việc nhận nuôi đứa trẻ và
thiết lập quan hệ cha mẹ và con đối với đứa trẻ đó. Ngoài ra việc cha mẹ đẻ hoặc của
người giám hộ của trẻ em được cho làm con nuôi phải minh bạch và xuất phát từ sự tự
nguyện của bản thân họ mà không có bất cứ sự tác động , thúc ép dụ dỗ hoặc hứa hẹn hay
một áp lực nào.
2.1.3. Thẩm quyền, trình tự , thủ tục giải quyết việc nhận nuôi con nuôi
2.1.3.1. Thẩm quyền, trình tự thủ tục giải quyết việc đăng ký nuôi con nuôi
tại cơ quan Việt Nam
Thẩm quyền đăng ký nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam
Theo khoản 2 điều 9 của Luật Nuôi Con Nuôi năm 2010 quy định thẩm quyền
đăng ký việc nuôi con nuôi: “Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
(sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) nơi thường trú của người được giới
nước ngoài tại Việt Nam được cụ thể như sau:
Trường hợp thứ nhất, của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước
ngoài thường trú ở nước ngoài nhận người Việt Nam làm con nuôi phải có các giấy tờ,
tài liệu sau đây:
- Bước1: lập hồ sơ của người xin nhận con nuôi phải có các giấy tờ đầy đủ sau
đây:
+ Đơn xin nhận con nuôi; Bản sao Hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay thế; Văn
bản cho phép được nhận con nuôi ở Việt Nam; Bản điều tra về tâm lý, gia đình; Văn bản
xác nhận tình trạng sức khoẻ; Văn bản xác nhận thu nhập và tài sản; Phiếu lý lịch tư
pháp; Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân.
Nếu người nhận con nuôi thuộc trong các trường hợp được nhận con nuôi đích
danh theo quy định tại khoản 2 điều 28 của Luật Nuôi con Nuôi năm 2010,8 thì nộp hồ
8
Khoản 2 điều 28 quy định: Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài
được nhận con nuôi đích danh trong các trường hợp sau đây:
a) Là cha dượng, mẹ kế của người được nhận làm con nuôi;
b) Là cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi;
c) Có con nuôi là anh, chị, em ruột của trẻ em được nhận làm con nuôi;
d) Nhận trẻ em khuyết tật, nhiễm HIV/AIDS hoặc mắc bệnh hiểm nghèo khác làm con nuôi;
đ) Là người nước ngoài đang làm việc, học tập ở Việt Nam trong thời gian ít nhất là 01 năm.
GVHD: Ths. Bùi Thị Mỹ Hƣơng
24
SVTH: Phan Thị Ngọc Hằng
Quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nƣớc ngoài
+ Trường hợp nhận con nuôi đích danh, thì người nhận con nuôi trực tiếp nộp hồ
sơ tại Cục Con nuôi. Trường hợp có lý do chính đáng mà không thể trực tiếp nộp hồ sơ
tại Cục Con nuôi, người nhận con nuôi ủy quyền bằng văn bản cho người có quan hệ họ
GVHD: Ths. Bùi Thị Mỹ Hƣơng
25
SVTH: Phan Thị Ngọc Hằng