những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới được ghi nhận trong dự thảo sửa đổi hiến pháp việt nam - Pdf 30

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
(Niên khóa: 2010 – 2014)

ĐỀ TÀI:

NHỮNG QUYỀN KINH TẾ, VĂN HÓA VÀ XÃ HỘI
MỚI ĐƢỢC GHI NHẬN TRONG DỰ THẢO SỬA ĐỔI
HIẾN PHÁP VIỆT NAM

Giảng viên hƣớng dẫn:
DƢƠNG VĂN HỌC
Bộ môn: Luật Thƣơng mại

Sinh viên thực hiện:
PHẠM THỊ NGỌC TRÂM
Mssv: 5106201
Lớp: Luật Hành chính K36

Cần Thơ, tháng 12 năm 2013


MỤC LỤC
Trang

LỜI NÓI ĐẦU.................................................................. Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ SỰ GHI
NHẬN QUYỀN CON NGƯỜI TRONG HIẾN PHÁP VIỆT NAM ................. Error!

1.4. Vai trò của Hiến pháp trong vấn đề ghi nhận quyền con người ................. Error!
Bookmark not defined.


1.5. Sự ghi nhận quyền con người trong lịch sử lập hiến Việt Nam ................. Error!
Bookmark not defined.
1.5.1. Hiến pháp năm 1946 .................................... Error! Bookmark not defined.
1.5.2. Hiến pháp năm 1959 .................................... Error! Bookmark not defined.
1.5.3. Hiến pháp năm 1980 .................................... Error! Bookmark not defined.
1.5.4. Hiến pháp năm 1992 .................................... Error! Bookmark not defined.
1.6. Sự ghi nhận quyền con người trong Hiến pháp của một số quốc gia ......... Error!
Bookmark not defined.
1.6.1. Hiến pháp nước Anh .................................... Error! Bookmark not defined.
1.6.2. Hiến pháp nước Mỹ...................................... Error! Bookmark not defined.
1.6.3. Hiến pháp nước Pháp ................................... Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG 2. NHỮNG QUYỀN KINH TẾ, VĂN HÓA VÀ XÃ HỘI ĐƯỢC GHI
NHẬN TRONG DỰ THẢO HIẾN PHÁP VIỆT NAM SỬA ĐỔI . Error! Bookmark
not defined.
2.1. Khái quát về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp Việt Nam năm 1992 và sự ghi nhận
các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới .................. Error! Bookmark not defined.
2.2. Các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới được ghi nhận trong Dự thảo Hiến
pháp sửa đổi ............................................................... Error! Bookmark not defined.
2.2.1. Quyền được hưởng an sinh xã hội ............... Error! Bookmark not defined.
2.2.1.1. Sự ghi nhận của pháp luật quốc tế ........ Error! Bookmark not defined.
2.2.1.2. Sự ghi nhận của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 .... Error! Bookmark
not defined.
2.2.1.3. Pháp luật Việt Nam về đảm bảo an sinh xã hội .. Error! Bookmark not
defined.
2.2.1.4. Thực trạng thực hiện quyền được đảm bảo an sinh xã hội tại Việt Nam
trong thời kỳ hội nhập ........................................ Error! Bookmark not defined.

Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Vấn đề quyền con người trải qua sự phát triển lâu dài đầy những thăng trầm
trên thế giới, gắn liền với sự đấu tranh của nhân dân vì tự do, dân chủ, chống lại sự áp
bức, bóc lột.
Kể từ khi Liên Hợp Quốc ra đời năm 1945, việc ghi nhận và bảo vệ quyền
con người đã thực sự được mở rộng trên phạm vi toàn thế giới mà tiêu biểu là sự có
mặt của Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948. Ngay trong lời nói đầu
của bản Tuyên ngôn đã khẳng định: “việc thừa nhận phẩm giá bẩm sinh và những
quyền bình đẳng bất khả chuyển nhượng của tất cả các phần tử trong đại gia đình
nhân loại là nền tảng của tự do, công lý và hoà bình thế giới”.
Có thể nói Hiến pháp là một công cụ hữu hiệu nhất trong vấn đề ghi nhận và
bảo đảm thực hiện quyền con người không chỉ của Việt Nam mà của phần lớn các
quốc gia trên thế giới. Chính vì vậy, Việt Nam không ngừng nổ lực để hoàn thiện Hiến
pháp nước nhà với mục đích thực hiện tốt hơn trong vấn đề quyền con người đúng với
vị trí một thành viên của Liên Hợp Quốc và tinh thần của các công ước mà Việt Nam
đã ký kết. Điều này có thể thấy qua các bản Hiến Pháp từ Hiến pháp đầu tiên năm
1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 đến Hiến pháp hiện tại năm 1992
(sửa đổi, bổ sung năm 2001) và dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 đang được đặt biệt
quan tâm.
Bên cạnh các quyền dân sự, chính trị, Hiến pháp cũng không quên đề cập
đến các quyền về kinh tế, văn hóa và xã hội vì đây là một trong hai nhóm quyền chính
cấu thành các quyền và tự do cơ bản của con người.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, con người phải chịu nhiều tác động ảnh hưởng
đến quyền và lợi ích chính đáng của cá nhân kể cả cộng đồng ở nhiều mặt như sự tha
hóa về văn hóa, sự du nhập của các loại hình văn hóa không lành mạnh từ nước ngoài,
môi trường sống bị ô nhiễm nghiêm trọng, tệ nạn xã hội tăng cao, vấn đề thất nghiệp…
Chính vì vậy, những quyền của con người phải cần được đảm bảo hơn, cần ghi nhận
một cách cụ thể và đầy đủ hơn trên các lĩnh vực để dù ở đâu, trong bất kỳ bối cảnh nào

quyền đã nêu được thực hiện tốt trong thực tiễn đời sống.
Đối tƣợng nghiên cứu: Người viết tập trung nghiên cứu các quyền về kinh
tế, văn hóa và xã hội lần đầu tiên được đề cập đến trong dự thảo Hiến pháp sửa đổi bao
gồm quyền được đảm bảo an sinh xã hội, quyền tham gia vào đời sống văn hóa và
quyền được sống trong môi trường trong lành.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, người viết đã sử dụng các
phương pháp chủ yếu sau: Phương pháp phân tích luật viết, phương pháp chứng minh,
phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp, diễn dịch.
5. Bố cục luận văn
Đề tài “Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới đƣợc ghi nhận
trong dự thảo Hiến pháp Việt Nam sửa đổi” có bố cục như sau:
Lời nói đầu
Chương 1: Khái quát chung về quyền con người và sự ghi nhận quyền con
người trong Hiến pháp Việt Nam

GVHD: Dương Văn Học

2

SVTH: Phạm Thị Ngọc Trâm


Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới đƣợc ghi nhận trong dự thảo
Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
Chương 2: Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới được ghi nhận trong
dự thảo Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo


quan của mỗi người, tùy vào lĩnh vực nghiên cứu mà quyền con người được định
nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Tuy nhiên, ở cấp độ quốc tế, định nghĩa phổ biến
nhất vẫn là định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc về quyền con người.
Theo định nghĩa này, quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng
bảo vệ các cá nhân và các nhóm người trước những hành động hoặc sự bỏ mặc làm
tổn hại đến nhân phẩm, quyền lợi và tự do cơ bản của con người1.

1

Định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc về quyền con người:

“Human rights are universal legal guarantees protecting individuals and groups
against actions and omissions that interfere with fundamental freedoms, entitlements and human dignity”
United Nations - OHCHR, Freequently Asked Questions on a Human Rights-based
Approach to Development Cooperation, New York and Geneva, 2006, tr.1.

GVHD: Dương Văn Học

4

SVTH: Phạm Thị Ngọc Trâm


Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới đƣợc ghi nhận trong dự thảo
Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
Định nghĩa này mang tính chất của học thuyết về các quyền mang tính chất
pháp lý. Việc bảo vệ quyền con người là nhiệm vụ chung của toàn nhân loại, không
phải của riêng một khu vực hay một quốc gia nào. Khi có bất kì một sự xâm phạm nào
đến con người ở một quốc gia nơi thực hiện hành vi xâm hại đó thì không chỉ quốc gia
đó sử dụng pháp luật để bảo vệ họ và giải quyết vấn đề mà cộng đồng quốc tế cũng có


Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2009, tr.8.

GVHD: Dương Văn Học

5

SVTH: Phạm Thị Ngọc Trâm


Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới đƣợc ghi nhận trong dự thảo
Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
đoạt tài nguyên thiên nhiên và của cải của mình, miễn là không làm hại đến các nghĩa
vụ phát sinh từ hợp kinh tế quốc tế mà dựa trên nguyên tắc các bên cùng có lợi và các
nguyên tắc của luật pháp quốc tế. Trong bất kì hoàn cảnh nào cũng không được phép
tước đi những phương tiện sinh tồn của một dân tộc. Các quốc gia thành viên Công
ước này, kể cả các quốc gia có trách nhiệm quản lý các Lãnh thổ ủy trị và các Lãnh
thổ quản thác, phải thúc đẩy việc thực hiện quyền tự quyết dân tộc và phải tôn trọng
quyền đó phù hợp với các quy định của Hiến chương Liên Hợp Quốc.”
1.1.2.Khái niệm quyền con ngƣời theo pháp luật Việt Nam
Ở Việt Nam, một số định nghĩa về quyền con người do một số chuyên gia,
cơ quan như Trung tâm Nghiên cứu pháp luật quyền con người ở Thành phố Hồ Chí
Minh, Trung tâm Nghiên cứu quyền con người và quyền công dân ở Khoa Luật Đại
học Quốc gia Hà Nội từng nêu ra cũng không hoàn toàn giống nhau, nhưng xét chung,
các định nghĩa này được hiểu như sau: “quyền con người thường được hiểu là những
nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo
vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế”3.
Trong lịch sử lập Hiến Việt Nam, quyền con người đã được ghi nhận một
cách cụ thể:
Hiến pháp năm 1946 quy định chi tiết tại Chương II, điều 10: “Công dân

Nhà nước tạo điều kiện vật chất cần thiết để công dân sử dụng các quyền
đó.
Không ai được lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của
Nhà nước và của nhân dân”.
Tại Điều 68 quy định: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc
không theo một tôn giáo nào…”
Hiến pháp năm 1992 quy định chi tiết tại Chương V điều 69: “Công dân có
quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập
hội, biểu tình theo quy định của pháp luật” và Điều 70: “Công dân có quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng
trước pháp luật…”
Có thể nhận thấy rằng kỹ thuật lập hiến của Việt Nam từ Hiến pháp năm
1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 đến Hiến pháp 1992 đã có nhiều thay
đổi, song có một sự thật không thay đổi chính là sự ghi nhận quyền con người là một
giá trị bất biến qua thời gian.
Như vậy, nhìn ở góc độ nào và ở cấp độ nào thì quyền con người cũng được
xác định như là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ.
Những chuẩn mực này kết tinh những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, chỉ áp dụng
với con người, cho tất cả mọi người. Nhờ có những chuẩn mực này, mọi thành viên
trong gia đình nhân loại mới được bảo vệ nhân phẩm và mới có điều kiện phát triển
đầy đủ các năng lực của cá nhân với tư cách là một con người. Cho dù cách nhìn nhận
có những khác biệt nhất định, một điều rõ ràng là quyền con người là những giá trị cao
cả cần được tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội và trong mọi giai đoạn lịch sử.
1.2. Bản chất đặc trƣng của quyền con ngƣời
1.2.1.Tính phổ biến
Tính phổ biến của quyền con người thể hiện ở chỗ quyền con người là
những gì bẩm sinh, vốn có của con người và được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi
thành viên trong gia đình nhân loại, không có sự phân biệt đối xử vì bất cứ lý do gì,
chẳng hạn như về chủng tộc, dân tộc, giới tính, tôn giáo, độ tuổi, thành phần xuất thân.


Tính cộng đồng người, cộng đồng nhân loại của quyền con người thể hiện
ở dạng khái quát nhất ở “bản chất con người” cái làm cơ sở để tạo nên tính cộng đồng
cao nhất của quyền con người. Bản chất con người là nền tảng mà vượt lên trên nó thì
chúng ta không thể phát triển được. Tiếp đến, tính cộng đồng người, cộng đồng nhân
loại của quyền con người, phản ánh “đặc tính người” của con người – đặc tính chỉ có
ở cộng đồng người, là đặc tính liên kết tất cả mọi người thành cộng đồng người và đặc
tính này đòi hỏi phải có quyền con người cho mỗi người, cho mọi người, cho cộng

4

Nguyễn Đăng Dung – Võ Đông Giao, Lã Khánh Tùng: Giáo trình Lý Luận và Pháp Luật về Quyền con người,

Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2009, tr.14.
5
Võ Khánh Vinh - Quyền con người:Tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học, tập 1, Nxb. Khoa học - xã hội,
năm 2010, tr.11.

GVHD: Dương Văn Học

8

SVTH: Phạm Thị Ngọc Trâm


Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới đƣợc ghi nhận trong dự thảo
Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
đồng người, cộng đồng nhân loại. Tính cộng đồng người, cộng đồng nhân loại của
quyền con người phản ánh tính đạo đức, bản chất đạo đức của con người6.
Từ xưa, người dân Việt Nam vốn có truyền thống tương thân, tương ái, lá
lành đùm lá rách, một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ, con người không chỉ nghĩ cho

Võ Khánh Vinh - Quyền con người:Tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học, tập 1, Nxb. Khoa học - xã hội,

năm 2010, tr.12.

GVHD: Dương Văn Học

9

SVTH: Phạm Thị Ngọc Trâm


Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới đƣợc ghi nhận trong dự thảo
Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
bình đẳng về mọi quyền con người được pháp luật quy định trong lĩnh vực khác nhau
của đời sống xã hội, mọi người đều bình đẳng trong cơ hội thực hiện các quyền con
người và đòi hỏi thực hiện các quyền con người, mọi người đều bình đẳng khi bảo vệ
các quyền con người bị xâm phạm, mọi người vi phạm quyền con người đều phải bị
xử lý, ví dụ chi tiết tại Ðiều 7 của Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 : “Tất
cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, và phải được bảo vệ một cách bình đẳng,
không kỳ thị phân biệt. Tất cả đều được quyền bảo vệ ngang nhau, chống lại mọi kỳ thị
vi phạm Bản Tuyên ngôn này, cũng như chống lại mọi kích động dẫn đến kỳ thị như
vậy”. Quyền con người luôn luôn đề cao phẩm giá cá nhân của con người, và vì vậy có
thể áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi người, ở mọi thời điểm và trong mọi hoàn cảnh.
1.2.1.4.Đặc điểm bất khả xâm phạm của quyền con người
Quyền con người là những quyền bất khả xâm phạm, điều đó đã được ghi
nhận trong tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ năm 1776: “Tất cả mọi người đều sinh ra
có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được;
trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh
phúc”7. Điều này có nghĩa rằng đã là người thì không thể không có quyền con người
cho dù người đó đối xử tồi tệ như thế nào đối với người khác hoặc bị đối xử man rợ

Hiến pháp Việt Nam sửa đổi

1.2.1.5. Đặc điểm được thể chế hóa thành pháp luật
Để thực hiện quyền con người ở nghĩa tự nhiên cần phải thể chế hóa các
quyền đó thành các quyền pháp lý. Với tư cách là một giá trị tư tưởng trừu tượng, một
thực tiễn hiện thực, quyền con người được thể chế hóa, được ghi nhận, bảo đảm và bảo
vệ bằng pháp luật và từ đó được thực hiện trong thực tiễn hiện thực ở những phương
diện và mức độ khác nhau. Có thể nhận thấy ở việc ghi nhận các quyền con người tại
những điều khoản nêu trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948, Công ước
quốc tế về các quyền kinh tế - xã hội, văn hóa năm 1966, Hiến pháp của các quốc gia.
Tất cả đều nhằm mục tiêu bảo vệ các quyền vốn có của con người, đảm bảo các quyền
được thực hiện bởi hệ thống các quy phạm pháp luật quốc tế, khu vực và từng quốc
gia. Đặc điểm này nói lên tính pháp quyền của quyền con người.
Việc thể chế hóa quyền con người thành pháp luật được tiến hành ở những
phương diện khác nhau. Đó là: thể chế hóa quyền con người thành các quyền pháp lý
nội dung, (các chuẩn mực pháp lý về các quyền), chẳng hạn như quyền sống, quyền tự
do kinh doanh, quyền tự do đi lại…; thể chế hóa quyền con người thành các cơ chế
pháp lý để đảm bảo, thực hiện và bảo vệ các quyền con người; thể chế hóa thành pháp
luật các hành vi bị coi là các hành vi xâm phạm các quyền con người và trách nhiệm
pháp lý đối với việc thực hiện những hành vi xâm phạm quyền con người.
1.2.2. Tính đặc thù của quyền con ngƣời
1.2.2.1. Đặc điểm đặc thù về mặt lịch sử cụ thể của quyền con người
Quyền con người, xét ở phương diện giá trị trừu tượng lẫn ở phương diện
giá trị hiện thực, ở phương diện tự nhiên lẫn ở phương diện pháp lý là một trong
những hiện tượng xã hội gắn liền với quá trình phát triển của xã hội loài người nói
chung, của từng xã hội khu vực và của từng xã hội quốc gia. Quá trình này nhìn một
cách tổng thể trải qua các giai đoạn khác nhau theo logic phát triển là đi từ thấp đến
cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện. Ở mỗi giai đoạn phát triển có những đặc điểm
riêng do các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, đạo đức, truyền thống, lịch sử
thế giới, khu vực quốc gia, dân tộc quy định. Chính những đặc điểm riêng đó quy định

(quốc tế, khu vực, quốc gia) ở các giai đoạn phát triển khác nhau của thế giới, của từng
khu vực, của từng quốc gia – dân tộc là không giống nhau và phát triển theo xu hướng
ngày càng mở rộng các quyền đó, nhưng việc mở rộng lại không giống nhau.
Ví dụ điển hình trong quá trình lập hiến của Việt Nam: Hiến pháp năm 1946
là bản Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam, sau Chương I quy định về chính thể thì
Chương II quy định về nghĩa vụ và quyền lợi của công dân với 18 Điều (từ Điều 4 đến
Điều 21), Hiến pháp năm 1959 nghĩa vụ và quyền lợi của công dân được quy định tại
Chương III với 21 Điều (từ Điều 22 đến Điều 42), đến Hiến pháp năm 1980 nghĩa vụ
và quyền lợi của công dân được quy định tại Chương V với 29 Điều (từ Điều 53 đến
Điều 81), Hiến pháp năm 1992 với những yêu cầu của thời kỳ hội nhập đã có những
ghi nhận đáng kể hơn với 34 Điều cũng tại Chương V về nghĩa vụ và quyền lợi của
công dân. Hiện tại, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 lần này dành cả Chương II
với 37 Điều (từ Điều 15 đến Điều 52) để quy định về quyền con người, quyền và nghĩa
9

Võ Khánh Vinh - Quyền con người:Tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học, tập 1, Nxb Khoa học - xã hội,

năm 2010, tr.16.

GVHD: Dương Văn Học

12

SVTH: Phạm Thị Ngọc Trâm


Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới đƣợc ghi nhận trong dự thảo
Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
vụ cơ bản của công dân. Với bố cục và số lượng các Điều luật cho thấy Dự thảo sửa
đổi Hiến pháp năm 1992 lần này đã tiếp tục quán triệt quan điểm “Bao nhiêu quyền

10

Trần Văn Thắng - Hợp tác quốc tế bảo vệ quyền con người trong thế giới ngày nay - Trong “Quyền con

người: tiếp cận đa ngành và liên ngành, tập 1, Nxb. Khoa học - xã hội, năm 2010, tr.112.

GVHD: Dương Văn Học

13

SVTH: Phạm Thị Ngọc Trâm


Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới đƣợc ghi nhận trong dự thảo
Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
Trên thế giới, trong các triều đại phong kiến, nhiều người bị coi là nô lệ
cho các tầng lớp vua chúa, họ bị chế độ vi phạm nghiêm trọng nhân quyền, bị hạn chế
về các quyền chính trị, tự do ngôn luận, tự do về văn hóa. Họ sống trong sự nô dịch
dưới chính sách cai trị bất bình đẳng của tầng lớp thống trị. Tuy nhiên, trong giai đoạn
hiện nay, dưới sự can thiệp của Liên Hợp Quốc về nhân quyền và sự ý thức của nhiều
quốc gia, những chính sách hà khắc vi phạm nhân quyền của các chế độ trước không
còn tồn tại. Mặc dù vậy, ở giai đoạn khác nhau thì sẽ có những vi phạm về nhân quyền
khác nhau. Hiện nay, một số quyền con người vẫn bị vi phạm như quyền được sống
trong môi trường an toàn, trong lành bị vi phạm quá nhiều do sự phát triển nhanh
chống của khoa học – kĩ thuật, những công nghệ tiên tiến. Hằng ngày, con người phải
hứng chịu một khối lượng lớn các chất thải từ công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ.
1.2.3. Mối quan hệ biện chứng giữa tính phổ biến và tính đặc thù của
quyền con ngƣời
Tính phổ biến của quyền con người được hiểu là những đặc tính, đặc điểm,
những mặt chung của quyền con người ở mọi lúc, mọi nơi của quyền con người, được

Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
1.3. Lịch sử hình thành và sự phát triển quyền con ngƣời
1.3.1. Sự hình thành và phát triển của tƣ tƣởng về quyền con ngƣời
Khát vọng bảo vệ nhân phẩm của tất cả con người là cốt lõi của khái niệm
quyền con người. Nó coi cá nhân con người là trọng tâm của sự quan tâm. Nó dựa trên
một hệ thống giá trị toàn cầu phổ biến nhằm hướng đến những giá trị cao quý của cuộc
sống và tạo ra một khuôn khổ để xây dựng hệ thống quyền con người, được các quy
phạm và tiêu chuẩn quốc tế bảo vệ. Ý tưởng về nhân phẩm con người đã có từ thời xa
xưa trong lịch sử nhân loại, dưới các hình thức khác nhau, trong tất cả các nền văn hóa
và tôn giáo. Quyền con người gắn liền với lịch sử loài người. Đó là sản phẩm của
những điều kiện lịch sử, kinh tế - xã hội nhất định và chịu sự chi phối của các cơ sở
kinh tế - xã hội đó. Tuy nhiên, do tính độc lập tương đối của tư tưởng, quan niệm về
quyền con người còn phụ thuộc một phần quan trọng vào sự phát triển của tư duy về
xã hội nói chung, đặc biệt là tư duy triết học, chính trị của mỗi thời đại nói riêng.
Sự xuất hiện các nhà nước chiếm hữu nô lệ, với mâu thuẫn giai cấp giữa
chủ nô và nô lệ cùng những mâu thuẫn khác trong xã hội là cơ sở để hình thành những
tư tưởng và yêu sách về quyền con người; mục đích là khẳng định nhân phẩm, địa vị
của người lao động, quyền bình đẳng tự nhiên, quyền được bảo vệ và quyền được
tham gia vào các hoạt động chính trị - xã hội. Những tư tưởng ban đầu về quyền con
người mang tính chất phê phán đối với tình trạng bất công xã hội, phản ánh những nấc
thang ban đầu trong tư duy nhân loại về phẩm giá con người. Những tư tưởng này
được thể hiện trong nhiều lĩnh vực: triết học, tôn giáo, pháp luật.
Ở Trung Quốc, Mặc Tử (478 - 392 TCN) là một trong những nhà triết học
có nhiều quan điểm đặc sắc về quyền con người. Đó là những quan niệm về quyền tự
nhiên của con người, quyền của nhân dân tham gia công việc quản lý nhà nước, quyền
được đứng lên chống lại sự áp bức, bất công. Ông đề cao những giá trị tự do và bình
đẳng tự nhiên của con người, coi nguồn gốc của nhà nước phát sinh từ sự thõa thuận
xã hội.
Sau thời kì Phục hưng, luật tự nhiên đã được gắn liền với quyền tự nhiên.
Những đại biểu cho những tư tưởng tiến bộ về quyền con người trong giai đoạn này có

được13.
Những tư tưởng về quyền tự do, quyền bình đẳng của con người của các nhà
tư tưởng giai đoạn này phù hợp với quá trình hình thành và phát triển nhà nước pháp
quyền, nên về sau này đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền
(1789) và được sử dụng trong soạn thảo Hiến pháp (1791) của Cách mạng Pháp.
Sự hưng thịnh những tư tưởng và học thuyết về quyền con người không chỉ
có ở Châu Âu, mà còn được truyền bá sang những thuộc địa của Anh ở Bắc Mĩ. Nỗi
bậc nhất trong lịch sử đấu tranh giải phóng của nhân dân Mỹ là nhà tư tưởng và hoạt
động chính trị lỗi lạc Thomas Jefferson (1743 - 1826), tác giả của văn kiện cách mạng
vĩ đại nhất thời bấy giờ là Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776.
Những tư tưởng của Jefferson được thể hiện rõ trong Tuyên ngôn độc lập của Hợp
chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776: “Chúng tôi tin rằng những chân lý này là hiển nhiên,
rằng tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa cho họ những quyền không

12

C.Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, t.20, Nxb. Chính trị quốc gia, H.1994, tr.152.

13

C.Mác-Ph.Ăngghen, Toàn tập, t.21, Nxb. Chính trị quốc gia, H.1994, tr.148 - 149.

GVHD: Dương Văn Học

16

SVTH: Phạm Thị Ngọc Trâm


Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới đƣợc ghi nhận trong dự thảo

Quốc và các tổ chức quốc tế đã thông qua một khối lượng lớn các văn bản pháp lý về
14

Trích Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776: “We hold these truths to be self-evident,

that all men are created equal, that they are endowed by their Creator with certain unalienable Rights, that
among these are Life, Liberty and the pursuit of Happiness”.

GVHD: Dương Văn Học

17

SVTH: Phạm Thị Ngọc Trâm


Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới đƣợc ghi nhận trong dự thảo
Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
nhân quyền. Điều này chứng tỏ rằng hầu hết các nước trên thế giới đã sẵn sàng đẩy
mạnh việc thực hiện quyền con người và xem đó là đòi hỏi phổ biến của mọi nhà nước
và mọi dân tộc trong thời đại ngày nay. Liên Hợp Quốc kêu gọi cộng đồng quốc tế cần
ủng hộ việc tăng cường và đề cao dân chủ, phát triển và tôn trọng các quyền con người
và các tự do cơ bản trên toàn thế giới. Quyền con người đã có một sự phát triển lịch sử
lâu dài và ngày nay đang được sự quan tâm sâu sắc của cộng đồng quốc tế. Mỗi bước
tiến bộ của lịch sử, quyền con người đều xuất hiện như là thành quả của văn hóa và
văn minh, của đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội. Nó phản ánh quá trình nhân loại
đấu tranh tự giải phóng mình khỏi tình trạng nô dịch, bóc lột và phụ thuộc, vươn tới
cuộc sống xứng đáng hơn với danh dự về phẩm giá con người. Chính vì vậy, K.Marx
đã nhận xét: “Quyền con người với tư cách là hiện thân của tự do”15. Tự do ở đây
mang ý nghĩa là ý thức và hành động, nhờ đó con người từng bước khắc phục được
tình trạng tha hóa, thực hiện sự phát triển toàn diện con người.

Những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội mới đƣợc ghi nhận trong dự thảo
Hiến pháp Việt Nam sửa đổi
của con người như quyền bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân vì đây
là các cơ quan đại diện và thay mặt nói lên những nhu cầu, nguyện vọng của toàn thể
nhân dân, quyền về văn hóa hay tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo đều là những quyền
gắn bó và không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt của con người, đó là những giá trị
truyền thống hình thành và phát triển qua nhiều thế hệ.
Ngoài ra, việc Hiến pháp ghi nhận quyền con người đã cho thấy một thay
đổi rất lớn trong tư tưởng của các nhà làm luật kể cả những người đứng đầu Nhà nước.
Vì quyền con người không chỉ cần quan tâm đơn thuần mà phải có một cơ chế hợp lý
để bảo đảm được thực hiện một cách rộng rãi trên thực tế. Chính vì vậy, các quyền con
người được Hiến pháp ghi nhận là một điều tất yếu và cần thiết. Điều này cho thấy
việc thừa nhận và bảo vệ quyền con người đã thực sự trở thành một mối quan tâm rộng
lớn không chỉ ở cấp độ quốc tế, khu vực mà còn ở quốc gia.
Bên cạnh đó, giá trị pháp lý tối cao của Hiến pháp cũng là thay cho sự cam
kết của quốc gia trong việc đảm bảo thực thi quyền con người mà quốc gia đã thừa
nhận cũng là một căn cứ đầy thuyết phục, tạo lòng tin cho mọi người dân. Quốc gia thể
hiện sự tôn trọng các quyền con người thông qua quá trình đưa nó trở thành một nội
dung trong Hiến pháp, góp phần ngăn chặn tối đa sự xâm phạm đến các quyền trong
thực tiễn cuộc sống.
Qua đó đã tạo ra một tiền đề cho cả một hệ thống pháp luật đằng sau Hiến
pháp, làm cơ sở trong việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan được
cụ thể hơn, hoàn thiện hơn. Vì suy cho cùng tất cả các văn bản quy phạm pháp luật
được hình thành cũng đều dựa trên cơ sở văn bản tối cao là Hiến pháp, quy định của
các văn bản đều không được trái với Hiến pháp.
1.5. Sự ghi nhận quyền con ngƣời trong lịch sử lập hiến Việt Nam
1.5.1. Hiến pháp năm 1946
Hiến pháp năm 1946 là Hiến pháp đầu tiên cụ thể hóa các quyền con người,
nội dung của Hiến pháp được xuyên suốt bởi quan điểm đã được ghi ở Điều 1: “Nước
Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể

dân như quyền học tập (Điều 15), quyền được Nhà nước ưu tiên chăm sóc giúp đỡ của
công dân thuộc dân tộc thiểu số (Điều 8), của công dân già cả, tàn tật, trẻ em (Điều
14), của giới cần lao trí thức và chân tay (Điều 13) hay các quyền về dân sự, chính trị
như quyền tự do ngôn luận, tự do tổ chức và hội họp, tự do cư trú, đi lại trong nước và
ra nước ngoài (Điều 10), quyền bất khả xâm phạm về nhà ở và thư tín (Điều 11).
Như vậy, với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 và sự ra đời
của Hiến pháp năm 1946, địa vị pháp lý của người dân nước ta đã có sự thay đổi căn
bản. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, Hiến pháp đã trang trọng ghi nhận quyền
con người, quyền công dân – một trong những nội dung cơ bản nhất của Hiến pháp18.
1.5.2. Hiến pháp năm 1959
Kế thừa và phát triển những quy định của Hiến pháp năm 1946 về các
quyền cơ bản của công dân và những bảo đảm của Nhà nước cho các quyền ấy, Hiến
pháp năm 1959 đã có bước tiến mới trong việc ghi nhận quyền con người và xác lập
quyền cơ bản của công dân và những bảo đảm pháp lý cho chúng. Nếu Hiến pháp năm
1946 chỉ quy định những quyền cơ bản của công dân trong bốn lĩnh vực chính trị, dân
sự, văn hóa, xã hội thì Hiến pháp năm 1959 dành 5 Điều (các Điều 11, 14, 16, 30) quy
định 7 quyền mới của công dân về kinh tế. Cụ thể ở điều 30: “ Công dân nước Việt
17
18

Điều 7 Hiến pháp Việt Nam năm 1946.
Nguyễn Đình Thơ - Quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp năm 1946 và sự kế thừa, phát triển ,

[truy cập
ngày 21/10/2013].

GVHD: Dương Văn Học

20


được xác lập gắn liền với việc dân tộc giành được độc lập dưới sự lãnh đạo của Đảng
cộng sản Việt Nam. Thấm nhuần tư tưởng nhân quyền của chủ tịch Hồ Chí Minh, Hiến
pháp năm 1980 tiếp tục việc đề cao các quyền con người, quyền công dân.
Lần đầu tiên, Hiến pháp năm 1980 dành một Điều riêng (Điều 65) quy định
quyền của trẻ em trong đó quy định rõ Nhà nước và xã hội chú trọng bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục thiếu niên, nhi đồng, mở rộng dần việc đảm nhiệm nuôi dạy trẻ em, làm
19

Điều 30 Hiến pháp Việt Nam năm 1959.

20

Điều 29 Hiến pháp Việt Nam năm 1959.

GVHD: Dương Văn Học

21

SVTH: Phạm Thị Ngọc Trâm


Trích đoạn Trích: Lời nói đầu của Hiến pháp Mỹ năm 1787. Trích Điều 22 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948. Nguyễn Đăng Dung, Võ Đông Giao, Lã Khánh Tùn g Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, Nguyễn Sĩ Phươn g Nhầm lẫn quyền con người với quyền cơ bản, tạp chí tia sáng,
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status