BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ QUỐC PHÒNG
VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Y DƯỢC LÂM SÀNG 108
===***===
THÁI DOÃN KỲ
NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ
UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP
TẮC MẠCH HÓA CHẤT SỬ DỤNG HẠT VI CẦU DC BEADS
Chuyên nghành: Nội Tiêu hoá
Mã số: 62.72.01.43
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
Hµ Néi – 2015
Công trình này được hoàn thành tại
VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Y DƯỢC LÂM SÀNG 108
Hướng dẫn khoa học:
1. GS. TS. Mai Hồng Bàng
2. GS. TS. Phạm Minh Thông
Phản biện 1:
BN:
CHT:
CLVT:
ĐM:
ĐNCT:
ĐƯHT:
TMC:
THBH:
TMTQ:
UTTBG:
2. Tiếng Anh.
AFP:
BCLC:
CLIP:
DEB:
HIFU:
ECOG:
PET/CT:
PEI:
RECIST:
RFA:
TACE:
Bệnh nhân
Cộng hưởng từ
Cắt lớp vi tính
Động mạch
Đốt nhiệt cao tần
Đáp ứng hoàn toàn
Tĩnh mạch cửa
do phần lớn phát hiện bệnh ở giai đoạn bệnh tiến triển hoặc giai đoạn muộn. Tắc
mạch hóa chất là một phương pháp điều trị tạm thời cơ bản cho các trường hợp
ung thư biểu mô tế bào gan không còn chỉ định phẫu thuật, tuy nhiên tỷ lệ hoại
tử hoàn toàn khối u thấp, có thể gặp biến chứng nặng nề lên gan và toàn thân sau
can thiệp. Tắc mạch hóa chất sử dụng hạt vi cầu DC Beads là phương pháp tắc
mạch cải tiến, sử dụng các hạt vi cầu vừa là chất mang thuốc và giải phóng thuốc
một cách ổn định bên trong môi trường khối u, vừa là tác nhân gây tắc mạch.
Phương pháp này đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên ở Việt
Nam mới chỉ có một số Bệnh viện lớn bắt đầu triển khai ứng dụng phương pháp
này trong điều trị UTTBG.
Mục tiêu:
- Đánh giá kết quả điều trị UTTBG bằng phương pháp tắc mạch hóa chất
sử dụng hat vi cầu DC Beads
- Đánh giá các tác dụng không mong muốn và biến chứng của phương pháp
tắc mạch hóa chất sử dụng hạt vi cầu DC Beads trong điều trị UTTBG.
Giới thiệu luận án
* Cấu trúc của luận án
Luận án gồm 134 trang, gồm: Đặt vấn đề và mục tiêu nghiên cứu ( 2
trang), Tổng quan (38 trang), Đối tượng và phương pháp nghiên cứu (17 trang),
Kết quả nghiên cứu (35 trang), Bàn luận (39 trang), Kết luận (2 trang) và Kiến
nghị (1 trang). Luận án có 29 bảng, 20 biểu đồ, 21 mục hình ảnh. Luận án có
147 tài liệu tham khảo, trong đó 25 tài liệu tiếng Việt và 122 tài liệu tiếng Anh.
* Đóng góp mới của luận án
Là một nghiên cứu ứng dụng phương pháp điều trị mới trong điều trị
UTTBG ở nước ta, cho kết quả tốt và an toàn: tỷ lệ đáp ứng lâm sàng 72,4%; đáp
3
ứng AFP 62,7%. Tỷ lệ đáp ứng khối u tại thời điểm 1-3 tháng là 72,4% và tại
4
trong chụp CHT bao gồm kỹ thuật chụp ảnh song song, hệ thống chênh lệch lực
với kỹ thuật tăng tốc, kỹ thuật 3D tăng độ phân giải và hình ảnh không gian 3
chiều, chụp CHT 3 tesla tăng tỷ lệ tín hiệu/nhiễu. Ngoài ra sự phát triển của hình
ảnh đối xung lan tỏa cũng như các chất đối quang từ, đặc biệt là chất đối quang
từ đặc hiệu tế bào, đã làm tăng hiệu quả phát hiện và mô tả đặc điểm khối u gan.
Chụp CHT khuếch tán cũng là một tiến bộ kỹ thuật có nhiều hứa hẹn trong chẩn
đoán UTTBG hiện nay.
1.2.4. Chụp PET/CT
Chụp cắt lớp vi tính phát xạ positron (PET/CT) cũng là một phương
pháp có giá trị trong chẩn đoán UTTBG, đặc biệt là chẩn đoán giai đoạn vì có
thể phát hiện tốt hơn các di căn ngoài gan.
1.2.5. Một số hướng dẫn đồng thuận trên thế giới chẩn đoán UTTBG dựa vào
các phương pháp chẩn đoán hình ảnh
Với những tiến bộ trong chẩn đoán hình ảnh, có thể cho phép khẳng
định chẩn đoán UTTBG mà không cần dựa vào các phương pháp xâm nhập.
Hiện nay có nhiều hướng dẫn đồng thuận về chẩn đoán và điều trị UTTBG được
tham khảo rộng rãi.
1.3. Các hệ thống phân chia giai đoạn trong UTTBG
Hiện nay, đối với UTTBG có rất nhiều hệ thống phân chia giai đoạn
được đề xuất. Các yếu tố đánh giá bao gồm yếu tố khối u, chức năng gan, AFP
huyết thanh và chỉ số tổng trạng.
1.4. Những tiến bộ trong điều trị UTTBG hiện nay
1.4.1. Phẫu thuật cắt gan
Phẫu thuật cắt gan là lựa chọn tối ưu cho các trường hợp UTTBG còn
chỉ định phẫu thuật. Những tiến bộ về dụng cụ, kỹ thuật và hồi sức đã giúp làm
giảm biến chứng và tử vong sau mổ, đồng thời cải thiện đáng kể thời gian sống
thêm lâu dài. Hiện nay phẫu thuật cắt gan nội soi cũng ngày càng được ứng dụng
Điều trị hóa chất toàn thân ít mang lại kết quả trong khi độc tính cao do
gan xơ. Hiện nay điều trị nhắm trúng đích đang rất được chú trọng với các thuốc
có trọng lượng phân tử nhỏ hoặc các kháng thể đơn dòng có tác dụng ngăn chặn
quá trình truyền tin của tế bào ung thư và ức chế quá trình tăng sinh mạch.
Sorafenib là chất được nghiên cứu nhiều nhất và đã được chấp nhận rộng rãi ở
nhiều nước.
Điều trị đa mô thức, phối hợp can thiệp qua da với can thiệp qua đường
động mạch hoặc với các thuốc nhắm trúng đích đang là xu hướng được áp dụng
rộng rãi hiện nay.
6
1.5. Tắc mạch hóa chất sử dụng hạt vi cầu DC Beads
1.5.1. Cấu tạo và tính chất dược động học của hạt DC Beads
DC BeadsTM (Biocompatibles UK) là một dạng vật liệu mềm hình cầu
có kích thước rất nhỏ (70-900µm) được cấu tạo bởi đường đa phân có gắn nhóm
sulfonat và được polymer hóa. Các hạt này có thể gắn kết hóa chất và giải phóng
hóa chất chống ung thư như doxorubicin. Sự gắn kết và giải phóng hóa chất khỏi
hạt DC Beads xảy ra do tương tác hóa học, và đã được chứng minh bằng các
nghiên cứu trên thực nghiệm và trên động vật.
1.5.2. Cơ chế tác động
Cơ chế tác động của tắc mạch hóa chất sử dụng hạt vi cầu DC Beads
trong điều trị UTTBG cũng tương tự như trong tắc mạch hóa chất truyền thống
(sử dụng lipiodol trộn với hóa chất) là gây ra sự thiếu máu nuôi dưỡng khối u
cùng với hóa chất gây độc tế bào tập trung trong khối u. Trong tắc mạch vi cầu,
nhờ tính chất đặc hiệu của hạt vi cầu mà cho phép sử dụng liều hóa chất cao hơn
trong một lần can thiệp, lưu giữ hóa chất lâu hơn bên trong khối u và giải phóng
hóa chất một cách tương đối ổn định theo thời gian trong khi hạn chế được sự
khuếch tán hóa chất ra tuần hoàn hệ thống. Các hạt vi cầu cũng làm tắc nghẽn
- Các BN chẩn đoán UTTBG tái phát sau phẫu thuật cắt gan, sau điều trị
tiêu hủy khối u qua da (tiêm ethanol qua da hoặc RFA) hoặc tái phát sau điều trị
tắc mạch hóa chất truyền thống với thời gian tối thiểu 12 tháng trước khi tuyển
chọn vào nghiên cứu.
- Tuổi 18-80. Chỉ số thể trạng (ECOG) từ 0-2.
- Chức năng gan xếp loại Child - Pugh A hoặc B
- Không có huyết khối thân tĩnh mạch cửa, không có di căn ngoài gan.
Không có bệnh nặng kết hợp (suy tim, suy thận, suy hô hấp…). Bệnh nhân đồng
ý tham gia nghiên cứu.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Xơ gan Child C. Thể trạng kém (ECOG ≥3).
- Có di căn ngoài gan hoặc có huyết khối thân hoặc nhánh chính tĩnh
mạch cửa. Đang chảy máu do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản. Rối loạn đông máu:
tỷ lệ prothrombin < 60%; tiểu cầu < 50 G/l. Có bệnh nặng kết hợp. Phụ nữ có
thai hoặc cho con bú.
- Bệnh nhân không đồng ý phương pháp điều trị được chỉ định. Các
bệnh nhân không theo dõi được.
8
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kết nghiên cứu: nghiên cứu tiến cứu, can thiệp không đối chứng,
theo dõi dọc.
2.2.3. Phương tiện nghiên cứu
- Các máy móc xét nghiệm, các phương tiện chẩn đoán hình ảnh hiện
đại được sử dụng thường quy tại Bệnh viện, máy chụp mạch số hóa xóa nền.
Hóa
chất
phát trong gan và di căn ngoài gan. Các trường hợp phát hiện tổn thương còn
sót hoặc tái phát được tiến hành can thiệp tắc mạch vi cầu lại hoặc lựa chọn
các phương pháp điều trị khác phù hợp tuỳ theo đặc điểm u gan trên chẩn
đoán hình ảnh, tình trạng toàn thân cũng như chức năng gan.
* Các trường hợp bệnh tiến triển, tái phát hoặc di căn xa mà không còn phù
hợp với chỉ định điều trị tắc mạch hay can thiệp qua da nữa sẽ được chuyển
9
sang điều trị bằng các liệu pháp toàn thân (hóa chất, Nexavar, liệu pháp miễn
dịch…) hoặc chăm sóc giảm nhẹ. Theo dõi thời gian sống thêm toàn bộ.
2.3. Các chỉ tiêu nghiên cứu
2.3.1. Các thông số lâm sàng và cận lâm sàng của BN trước điều trị
* Lâm sàng:
+ Tuổi, giới. Các yếu tố nguy cơ
+ Điều trị trước: phẫu thuật cắt gan, đốt nhiệt sóng cao tần, tiêm etanol
qua da, hoặc chưa được can thiệp điều trị gì trước đó.
+ Triệu chứng cơ năng, thực thể
+ Tổng trạng bệnh nhân theo chỉ số ECOG
* Các xét nghiệm cận lâm sàng:
+ Xét nghiệm công thức máu, sinh hóa
+ AFP huyết thanh: chia 3 nhóm: bình thường (≤ 20 ng/ml hay 18,4
IU/ml),
tăng
(20-200ng/ml)
và
10
+ Thay đổi các chỉ số xét nghiệm máu: công thức máu, chức năng gan
thận, transaminase, bilirubin (đánh giá tại các thời điểm 2-5 ngày sau can thiệp
và 4-8 tuần sau can thiệp).
+ Tác dụng phụ toàn thân do hóa chất: rụng tóc, giảm bạch cầu…
* Biến chứng sau can thiệp: Viêm túi mật cấp, suy gan cấp, suy thận cấp, áp xe
hóa khối u, tràn dịch màng phổi, nhiễm khuẩn huyết, xuất huyết tiêu hóa….và tử
vong liên quan đến kỹ thuật.
2.3.3. Các thông số về kết quả điều trị
* Đáp ứng lâm sàng: đánh giá 1-3 tháng sau điều trị can thiệp lần 1, chủ yếu dựa
vào triệu chứng chủ quan của người bệnh, chia 3 nhóm: tốt, như cũ hoặc xấu
hơn.
* Thay đổi hàm lượng AFP sau điều trị: giảm, không đổi, tăng so với trước điều
trị. Đánh giá đáp ứng AFP huyết thanh ở các BN có tăng AFP trước điều trị
(được coi là có đáp ứng nếu AFP huyết thanh về bình thường hoặc giảm ít nhất
50% giá trị so với trước điều trị).
* Tỷ lệ đáp ứng khối u tại các thời điểm 1-3 tháng và 4-6 tháng sau can thiệp lần
đầu: theo chỉ tiêu đánh giá đáp ứng khối u rắn cải tiến (Modified Response
Evaluation Criteria in Solid Tumors-mRECIST) của Hội Gan Mật Hoa Kỳ
(AASLD): Gồm: đáp ứng hoàn toàn, đáp ứng một phần, bệnh ổn định hoặc bệnh
tiến triển.
* Đánh giá tái phát tại các thời điểm thống kê: đối với các trường hợp đạt được
đáp ứng hoàn toàn sau can thiệp: gồm tái phát tại chỗ hoặc tái phát khối mới,
hoặc cả hai.
* Đánh giá di căn ngoài gan
* Đánh giá tỷ lệ sống thêm tại các thời điểm 1 năm, 2 năm và 3 năm. Thời gian
sống thêm trung bình.
+ Thời gian sống thêm không tiến triển bệnh: là khoảng thời gian tính từ
khi bắt đầu điều trị đến khi bệnh tiến triển, tái phát hoặc di căn.
Biểu đồ 3.3. Triệu chứng lâm sàng trước điều trị
3.1.4. Một số xét nghiệm cận lâm sàng
Các chỉ số transaminase trước điều trị: GOT: 65,5 ± 37,4 U/l;
GPT: 50,4 ± 33,5 U/l; bilirubin: 15,5 ± 6,6 µmol/l. Các chỉ số bạch cầu, hồng
cầu, huyết sắc tố, tiểu cầu trong giới hạn bình thường.
Tỷ lệ BN có AFP bình thường là 43,8%; AFP tăng từ 21-200ng/ml là
22,9% và AFP tăng cao trên 200 U/l là 33,3%.
Bảng 3.6. Một số đặc điểm hình thái u gan trước điều trị
Số lượng BN
Đặc điểm u gan
(n=105)
Tỷ lệ %
Thùy phải
95
90,5
Thùy trái
2
1,9
Cả 2 thùy
8
11
10,5
Không
94
89,5
Shunt ĐM-TM
Có
4
3,8
trong khối u
Không
101
96,2
Hình thái
Xâm lấn TMC
(huyết khối
12,4
5,1-7,9cm
51
48,6
≥ 8cm
41
39
Nhóm KT u
Kích thước u TB
7,8 ± 2,5 cm (4,0-14,3cm)
3.1.5. Phân chia giai đoạn bệnh và chức năng gan:
Giai đoạn bệnh: Okuda: 78,1%; Okuda II 21,9%; CLIP 0-2: 92,4% ; CLIP
3-4: 7,6%; BCLC A 11,4%; BCLC B 78,1%; BCLC C 10,5%.
Chức năng gan: Child-Pugh A (94,3%), Child-Pugh B (5,7%).
3.2. Một số đặc điểm về kỹ thuật can thiệp
- 105 BN với tổng cộng 198 lần can thiệp. Số lần can thiệp trung bình trên 1
BN: 1,8± 0,9. Trong đó làm 1-2 lần chiếm 77,1%.
- Mức độ can thiệp tắc mạch: tắc ĐM hạ phân thùy 26,3%; tắc ĐM phân
thùy 30,3%; tắc ĐM thùy phải hoặc ĐM thùy trái 27,8%; tắc THBH đơn thuần
10,6% và tắc THBH kết hợp tắc ĐM gan 5%.
- Có 2 trường hợp (1%) bị giảm bạch cầu
N
%
n
%
Đáp ứng hoàn toàn
34
32,4
32
31,7
Đáp ứng 1 phần
42
40
19
18,8
Bệnh ổn định
16
BN được điều trị bằng loại hạt DC Beads kích thước nhỏ hơn, tuy nhiên sự khác
biệt cũng chưa có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
3.3.4. Thay đổi AFP sau điều trị
Sau can thiệp lần đầu, có 50/105 (47,6%) giảm AFP huyết thanh, 41/105
(39,1%) AFP không thay đổi và 14/105 (13,3%) AFP tăng so với trước điều trị.
Xét riêng ở nhóm có tăng AFP trước điều trị, tỷ lệ đáp ứng AFP huyết thanh là
62,7% và không đáp ứng là 37,3%.
3.4. Kết quả lâu dài sau điều trị
3.4.1. Các biến cố tái phát, di căn và tử vong
- Có 37/46 trường hợp tái phát sau khi đạt ĐƯHT toàn khối u, trong đó:
tái phát tại chỗ 15/46 (32,6%); tái phát khối mới 14/46 (30,4%); tái phát tại chỗ
kết hợp khối mới 8/46 (17,4%). Thời gian tái phát trung bình 11 tháng (4-31
tháng).
- Có 15 trường hợp phát hiện di căn xa, trong đó di căn hạch rốn gan
3/15 (20%), di căn phổi 7/15 (46,7%), di căn xương 2/15 (13,3%) và di căn
nhiều vị trí 3/15 (20%).
- Có 48 BN đã tử vong khi kết thúc nghiên cứu, trong nguyên nhân gây
thường gặp nhất là do bệnh tiến triển: 38/48 (79,2%), do suy gan hôn mê gan
4/48 (8,3%), do xuất huyết tiêu hóa do vỡ giãn TMTQ 4/48 (8,3%). 1 trường hợp
đột tử không rõ căn nguyên.
3.4.2. Kết quả sống thêm lâu dài
- Thời gian sống thêm không tiến triển bệnh đạt trung bình 15,3±1,4
tháng và sống thêm toàn bộ đạt trung bình 27,9 ± 1,6 tháng. Tỷ lệ sống thêm
toàn bộ sau 1 năm, 2 năm và 3 năm lần lượt là 72,4%; 55,2% và 41,3%.
thấy phần lớn phát hiện bệnh không còn ở giai đoạn sớm. Các triệu chứng lâm
sàng thường gặp: đau hạ sườn phải (79%), mệt mỏi (63,8%), sút cân (51,4%),
gan to (47,6%). Kết quả này cũng phù hợp với kết quả của các nghiên cứu khác
trong nước.
Hầu hết số trường hợp có chỉ số tổng trạng tốt từ 0-1 điểm (98,1%) và
có các xét nghiệm máu ngoại vi nằm trong giới hạn bình thường. Xét nghiệm
transaminase tăng nhẹ phản ánh bệnh gan mạn tính kèm theo. Tuy nhiên hơn
90% số BN trong nghiên cứu có chức năng gan Child Pugh A, chỉ có 5,7% Child
B và không có trường hợp nào xơ gan Child C (do lựa chọn đầu vào).
4.1.2. Xét nghiệm AFP huyết thanh
Có 43,8% số BN có giá trị AFP bình thường, 56,2% số BN có tăng
AFP huyết thanh trước điều trị, trong đó chỉ có 33,3% AFP tăng cao trên 200
ng/ml. Một số nghiên cứu cho thấy mức tăng AFP có liên quan đến kích
thước u và giai đoạn bệnh. Tuy nhiên một số nghiên cứu khác lại không thấy
có mối liên quan rõ rệt.
4.1.3. Một số đặc điểm hình thái u gan trước điều trị
Đặc điểm hình thái u gan là một trong những yếu tố quan trọng để xét
chỉ định điều trị. 57,1% BN trong nghiên cứu có 1 khối u gan, 42,9% số BN có
từ 2 khối u gan trở lên. Phần lớn số trường hợp có u gan thể khối (88,6%), chưa
có xâm lấn TMC (89,5%). Có 68 BN được chẩn đoán tế bào và hoặc mô bệnh
học cho kết quả UTTBG biệt hóa cao là 33,8%; biệt hóa vừa 47,1% và biệt hóa
kém 19,1%. 87,6% số BN có u gan kích thước lớn trên 5cm, kích thước u trung
bình của cả nhóm là 7,8 ± 2,5cm.
4.1.4. Đánh giá giai đoạn trước điều trị
Phần lớn số trường hợp trong nghiên cứu ở giai đoạn Okuda I (78,1%),
CLIP từ 0-2 (94,3%), và giai đoạn BCLC B (78,1%). Có 12 BN (11,4%) ở giai
đoạn sớm BCLC A nhưng không phù hợp với chỉ định phẫu thuật (tuổi cao, chức
năng gan kém, u gan vùng rốn gan) và có 2 trường hợp từ chối phẫu thuật. Có 11
BN (10,5%) ở giai đoạn BCLC C (có huyết khối nhánh TMC).
4.2. Một số đặc điểm về kỹ thuật can thiệp
cũng có 7,5% số lần can thiệp chúng tôi cần sử dụng sponge để tắc bổ sung do
hạt vi cầu không đủ gây tắc hoàn toàn các nhánh mạch nuôi khối u.
4.2.4. Điều trị kết hợp
20
Một xu hướng tất yếu trong điều trị ung thư nói chung và điều trị
UTTBG nói riêng là điều trị kết hợp đa mô thức. Đối với UTTBG, tắc mạch
hóa chất chỉ là phương pháp điều trị tạm thời, tỷ lệ hoại tử hoàn toàn khối u
thấp và cần phải thực hiện nhiều lần, nguy cơ gây suy gan tăng lên cùng với số
lần can thiệp. Trong nhiều trường hợp u gan còn sót hoặc tái phát sau can
thiệp, không phải lúc nào cũng có thể điều trị tắc mạch hóa chất nhắc lại.
Chính vì vậy chúng tôi có sử dụng các phương pháp can thiệp qua da như là
một liệu pháp bổ trợ cho những trường hợp UTTBG còn sót hoặc tái phát mà
không phù hợp cho tắc mạch hóa chất. Kết quả cho thấy có 44/105 BN được
điều trị kết hợp bằng đốt nhiệt cao tần hoặc tiêm ethanol qua da. Có 2 trường
hợp chuyển phẫu thuật cắt gan và 1 trường hợp dùng sorafenib. Nhiều nghiên
cứu trong nước và trên thế giới cho thấy điều trị kết hợp sẽ làm tăng hiệu quả
kiểm soát khối u và kéo dài được thời gian sống thêm cho người bệnh.
4.3. Diễn biến lâm sàng và kết quả sớm sau can thiệp
4.3.1. Tác dụng phụ và biến chứng
Hội chứng sau tắc mạch chúng tôi cũng thường gặp: đau hạ sườn phải
(71,7%), sốt (67,2%), mệt mỏi 54%. Tuy nhiên phần lớn số trường hợp các triệu
chứng này chỉ ở mức độ nhẹ và vừa, thời gian kéo dài trung bình 3-4 ngày. Các
nghiên cứu có đối chứng cho hội chứng sau tắc mạch vi cầu thường nhẹ nhàng
hơn so với hội chứng sau tắc mạch truyền thống, đặc biệt là đau hạ sườn phải.
Theo dõi biến đổi các chỉ số xét nghiệm máu sau can thiệp, chúng tôi
thấy mặc dù tạu thời điểm 2-5 ngày sau can thiệp có sự thay đổi có ý nghĩa, tuy
nhiên vẫn nằm trong giới hạn bình thường. Các chỉ số này đều hồi phục ở thời
điều trị. Đánh giá trên các BN có tăng AFP trước điều trị, có 62,7% số TH có
đáp ứng AFP (giảm về bình thường hoặc giảm ít nhất 50% so với trước điều trị).
4.3.4. Đáp ứng u gan sau can thiệp
Tại các thời điểm theo dõi (1-3 tháng, 4-6 tháng và 9-12 tháng) kích
thước u trung bình của cả nhóm giảm có ý nghĩa so với trước điều trị.
Sử dụng chỉ tiêu đánh giá đáp ứng khối u rắn cải tiến (modified
RECIST) của Hiệp hội Gan mật Mỹ đề xuất năm 2008, kết quả của chúng tôi
cho thấy tỷ lệ đáp ứng khối u tại các thời điểm 1-3 tháng sau can thiệp là 72,4%
(đáp ứng hoàn toàn 32,4% và đáp ứng 1 phần 40%), tại thời điểm 4-6 tháng là
50,5% (đáp ứng hoàn toàn 31,7% và 1 phần 18,7%). Tỷ lệ kiểm soát bệnh tại các
thời điểm theo dõi lần lượt là: 89,5% và 65,4%. Các kết quả đạt được này cao
22
hơn so với các kết quả về đáp ứng khối u khi áp dụng hóa tắc mạch đơn thuần
điều trị UTTBG ở trong các báo cáo trước đây. Kết quả nghiên cứu của chúng
tôi cũng phù hợp với các kết quả báo cáo của các tác giả nước ngoài, với tỷ lệ
đáp ứng khối u tại thời điểm 1 - 6 tháng sau điều trị đạt được từ 40-80%.
Cũng như đối với điều trị tắc mạch hóa chất truyền thống, khả năng đáp
ứng khối u gan sau can thiệp tắc mạch vi cầu cũng phụ thuộc vào một số yếu tố
về đặc điểm hình thái u gan và giai đoạn bệnh. Kết quả chúng tôi cho thấy tỷ lệ
đáp ứng khối u có liên quan có ý nghĩa với kích thước u, hình thái u gan, tình
trạng xâm lấn mạch máu và giai đoạn bệnh theo Okuda, BCLC.
4..4. Kết quả lâu dài sau điều trị
4.4.1. Các kết quả về tái phát, di căn và tử vong
Tỷ lệ tái phát ở những BN đã đạt được đáp ứng hoàn toàn sau điều trị
trong nghiên cứu của chúng tôi là 80,8% trong đó tái phát tại chỗ là 50% (có hay
không kết hợp với tái phát khối mới). Thời gian tái phát trung bình là 11 tháng
(4-32 tháng). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với các nghiên cứu