Hoàn thiện cơ chế quản lý ngân sách cấp xã nhằm phát triển kinh tế - xã hội nông thôn Việt Nam (Lấy ví dụ tỉnh Nam Định) - Pdf 30

1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:
Ngân sách xã có vị trí, vai trò rất quan trọng đối với chính quyền cơ sở.
Ngân sách xã là công cụ của cấp uỷ chính quyền cơ sở để thực hiện nhiệm vụ
chính trị, phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh nông thôn và thúc đẩy sự
nghiệp xây dựng nông thôn mới.
Những năm qua, ngân sách xã của nước ta nói chung và tỉnh Nam Định
nói riêng đã có những chuyển biến tích cực có sự thay đổi, phát triển nhanh về
quy mô và chất lượng. Nguồn thu ngân sách xã cơ bản đảm bảo hoạt động của
Đảng, chính quyền, đoàn thể và đầu tư phát triển, đã góp phần quan trọng
trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội ở địa phương. Việc huy động,
động viên nhân dân đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi
xã hội đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn tại nhiều xã, phường, thị trấn. Công
tác quản lý, điều hành ngân sách xã được nâng cao về chất lượng góp phần
thúc đẩy phát triển kinh tế, ổn định chính trị và an ninh nông thôn.
Mặc dù, những năm qua công tác quản lý ngân sách xã đã đạt được
những kết quả quan trọng nhưng vẫn còn những hạn chế, yếu kém, bất cập
như: Ngân sách xã chưa thực sự là một cấp ngân sách hoàn chỉnh, quy mô còn
nhỏ bé, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển; Quản lý thu ngân sách ở nhiều
địa phương chưa tốt, còn để thất thu, nợ đọng nhiều, chưa quan tâm nuôi
dưỡng nguồn thu; Công tác quản lý chi ngân sách chưa thực sự tiết kiệm và
hiệu quả, nhất là công tác quản lý đất đai, đầu tư xây dựng cơ bản còn buông
lỏng, phát sinh tiêu cực gây thắc mắc, khiếu kiện trong dân, gây bất ổn an
ninh nông thôn ở nhiều địa phương. Từ đó, ngân sách xã chưa phát huy hết
vai trò là công cụ sắc bén của cấp uỷ chính quyền cơ sở trong việc phát triển
kinh tế, xã hội, xây dựng nông thôn trong tình hình mới.
Từ những bất cập, tồn tại nêu trên, tôi lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện cơ chế
quản lý ngân sách cấp xã nhằm phát triển kinh tế - xã hội nông thôn Việt Nam
(Lấy ví dụ tỉnh Nam Định) làm đề tài luận văn thạc sỹ kinh tế của mình.

của chủ nghĩa Mác-Lê Nin làm phương pháp luận chung, kết hợp với phương
pháp thống kê, khảo sát, đối chiếu, phân tính, so sánh, biểu đồ,…. Đặc biệt,


3
luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp phân tích thực tiễn quản lý tài chính
- ngân sách xã qua các thời kỳ để làm rõ hơn cơ sở lý luận và những vấn đề
mà thực tiễn quản lý ngân sách xã hiện nay cũng như trong giai đoạn tới đặt
ra cần giải quyết. Luận văn còn sử dụng một số tài liệu nghiên cứu kinh
nghiệm quản lý ngân sách xã ở một số địa phương trong cả nước để minh
chứng cho các vấn đề nhận định và các giải pháp đề xuất nhằm hoàn thiện cơ
chế quản lý ngân sách xã.
6. Đóng góp của luận văn:
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về cơ chế quản lý ngân sách xã;
- Tổng hợp, phân tích đầy đủ cơ chế quản lý điều hành thu, chi ngân
sách xã; Đánh giá thực trạng cơ chế quản lý ngân sách xã trên địa bàn tỉnh
Nam Định và kinh nghiệm ở một số địa phương;
- Đề ra quan điểm cơ bản và giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý ngân
sách xã nhằm khai thác tiềm năng, thế mạnh, tăng cường cơ sở vật chất… góp
phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội nông thôn Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn: Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn
được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ chế quản lý ngân sách xã
Chương 2: Thực trạng cơ chế quản lý ngân sách xã ở tỉnh Nam Định
Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý ngân sách xã.


4
CHƯƠNG 1


thống các mối quan hệ kinh tế giữa nhà nước và nhân dân trong quá trình Nhà
nước khai thác, huy động và sử dụng các nguồn lực nhằm đảm bảo sự duy trì
và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước ở cấp chính quyền cơ sở.
1.1.2. Ngân sách xã trong tiến trình lịch sử Việt Nam
Ngân sách xã được thể chế hoá là một cấp ngân sách và quản lý thống
nhất vào Ngân sách nhà nước khi Luật ngân sách ra đời nhưng trong lịch sử
phát triển ở Việt Nam, từ rất lâu đã có quỹ xã mà qua quá trình phát triển đến
nay gọi là ngân sách xã. Quá trình hình thành cũng như cơ chế quản lý quỹ xã
ở nước ta trong những giai đoạn phát triển khác nhau có thể có những cơ chế
quản lý khác nhau nhưng quỹ xã (ngân sách xã) luôn luôn là một bộ phận
không thể thiếu của hệ thống tài chính quốc gia. Xét trên quan điểm lịch sử,
ngân sách xã là ngân sách xã là một phạm trù lịch sử được thể hiện qua sự
hình thành, phát triển của ngân sách xã trong suốt tiến trình lịch sử Việt Nam.
Lịch sử hình thành, phát triển ngân sách cấp xã ở Việt nam gắn liến với
quá trình hình thành, phát triển của hệ thống làng, xã. Đơn vị hành chính cấp
xã xuất hiện tại nước ta đầu tiên vào triều đại nhà Đường xâm lược và thống
trị. Sau đó phát triểnPhát triển đ đến buổi đầu kỷ nguyên tự chủ của đất nước,
đơn vị hành chính cấp xã đã trở thành một trong năm cấp hành chính cơ bản
của nhà nước phong kiến Việt Nam là: Lộ, Phủ, Châu, Giáp, Xã. Đến thời
Trần, triều đình đã đặt ra các chức quan trông coi cấp hành chính cơ sở này và
gọi là các Xã quan. Các xã quan nắm chính quyền thời đó gồm có các chức
như Đại tư xã, Tiểu tư xã, Xã trưởng, Xã giám. Như vậy, đi cùng với sự hình
thành làng, xã Viêt Nam là sự hình thành thiết chế quản lý làng, xã. Hệ thống
thiết chế làng xã Việt Nam là một bộ máy quản trị làng xã, được hình thành
và phát triển từ giai đoạn sơ khai cho đến khi hình thành được một thiết chế
tương đối hoàn chỉnh vào thời trung cổ.
Đến cuối thời trung cổ, bộ máy quản lý làng xã của nước ta gồm có hai
hội đồng là: (1) Hội đồng kỳ mục chịu trách nhiệm quản lý xã, thôn cổ truyền,
có toàn quyền quyết định các công việc của làng, xã; (2) Hội đồng Lý dịch đại


thấp cổ, bé họng bị tròng vào cổ các gánh nặng thuế má là khổ sở phục vụ cho
tầng lớp quan lại. Nhìn chung, công tác quản lý ngân sách xã thời kỳ phong


7
kiến vừa thiếu chặt chẽ, thiếu thống nhất vừa không phát huy được vai trò của
ngân sách xã đối với phát triển kinh tế, xã hội làng xã.
Đến thời kỳ Pháp thuộc, cơ chế quản lý ngân sách xã có vẻ chặt chẽ
hơn khi chính quyền thực dân cai trị đã chú ý đến việc can thiệp để giảm bớt
“tính tuỳ tiện”, “tính hà lạm” là đặc trưng của ngân sách xã thời kỳ trước như
qui định phải mở sổ sách theo dõi thu – chi ngân sách hoặc phải lập sổ dự
kiến chi tiêu của làng xã.... Nguồn thu ngân sách cấp xã thời Pháp thuộc chủ
yếu dựa vào hoa lợi công điền, công thổ hoặc một phần dựa vào phần lạm thu,
lạm bổ trong các thứ thuế do phong kiến, thực dân đề ra hoặc do sự đóng góp
của nhân dân theo hương ước của làng, xã. Nội dung chi ngân sách chủ yếu là
phục vụ cho các công việc tạp dịch, lễ bái, trả thù lao cho các chức sắc làng
xã hoặc dùng vào xây, sửa đình, chùa, miếu mạo và một số công trình phúc
lợi cho nhân dân.
Thời kỳ sau cách mạng tháng 8 có sự chuyển biến mạnh về ngân sách
xã. Các khoản sưu cao, thuế nặng đã bị bãi bỏ dù Nhà nước vẫn giữ lại một số
khoản thu công điền, công thổ để phục vụ cho cứu tế xã hội hoặc thiên tai, lũ
lụt. Cán bộ xã thời kỳ này “ăn cơm nhà thổi tù và hàng tổng” phục vụ cho
Nhà nước. Về quản lý ngân sách xã thời kỳ này có điểm đáng chú ý là sự xuất
hiện việc ra đời mô hình Hợp tác xã nông nghiệp từ thấp đến cao nên đã
choán hết công việc của chính quyền cấp xã. Do ruộng đất là tư liệu sản xuất
quan trọng của Nhà nước ở cơ sở được tập trung cho Hợp tác xã quản lý nên
thực lực kinh tế đều do Hợp tác xã nắm giữ. Kinh phí để duy trì các hoạt động
của chính quyền, Đảng, đoàn thể phải dựa vào hợp tác xã và bị chi phối bởi
thu nhập của Hợp tác xã thấp hay cao. Do vậy, Ngân sách xã không có cơ sở
để ổn định và phát triển. Chỉ đến khi Nhà nước có quyết định số 184/TTg

số đặc điểm riêng có của một cấp ngân sách cơ sở. Cụ thể là:
Ngân sách xã gắn liền với quá trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập
trung của Nhà nước ở cấp cơ sở nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước
cấp cơ sở theo luật định. Cơ sở hoạt động của quỹ tiền tệ tập trung này được
thể hiện trên hai phương diện:
- Huy động nguồn thu vào quỹ hay còn gọi là nguồn thu ngân sách xã.


9
- Phân phối sử dụng quỹ tiền tệ hay còn gọi là các nhiệm vụ chi ngân
sách xã.
Các hoạt động thu chi của ngân sách xã luôn gắn với chức năng, nhiệm
vụ của chính quyền xã theo qui định của pháp luật; luôn chịu sự kiểm tra,
giám sát của cơ quan quyền lực Nhà nước ở cấp xã.
Hoạt động thu chi ngân sách xã phản ánh các mối quan hệ lợi ích giữa
một bên là lợi ích cộng đồng do chính quyền xã đại diện với một bên là lợi
ích của các chủ thể kinh tế xã hội khác. Hình thức biểu hiện của các mối quan
hệ này rất đa dạng; đó có thể là quan hệ kinh tế giữa ngân sách xã với các
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh dịch vụ; giữa ngân sách xã với các cấp
ngân sách trung gian; giữa ngân sách xã với các tổ chức xã hội; giữa ngân
sách xã với cá nhân và các hộ gia đình....
Ngân sách xã vừa là một cấp trong hệ thống ngân sách Nhà nước nhưng
đồng thời lại là một đơn vị dự toán; đây là đặc điểm riêng có của ngân sách
cấp xã so với các cấp ngân sách khác trong hệ thống ngân sách nhà nước.
Ngân sách xã vừa thực hiện nhiệm vụ thu chi của một cấp ngân sách vừa là
đơn vị nhận bổ xung từ ngân sách cấp trên và quản lý, sử dụng luôn nguồn
kinh phí đó. Với đặc thù là đơn vị hành chính cấp cơ sở, nơi trực tiếp thực
hiện các Luật, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật của các cơ quan Nhà
nước cấp trên, có mối liên hệ trực tiếp với dân, do dân, vì dân, giải quyết các
mối liên hệ giữa Nhà nước và nhân dân.

tắc tự nguyện để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng do Hội đồng nhân dân xã
quyết định đưa vào ngân sách xã quản lý và các khoản đóng góp tự nguyện
khác;
Các khoản viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, cá nhân trong và
ngoài nước trực tiếp cho ngân sách xã theo chế độ quy định;
Thu kết dư ngân sách xã năm trước;
Các khoản thu khác của ngân sách xã theo quy định của pháp luật.
b) Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm giữa ngân sách xã với
ngân sách cấp trên theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước gồm: Các
khoản thu mà ngân sách xã, phương, thị trấn được hưởng tối thiểu 70% như:
Thuế chuyển quyền sử dụng đất; Thuế nhà, đất; Thuế môn bài thu từ cá nhân,


11
hộ kinh doanh; Thuế sử dụng đất nông nghiệp thu từ hộ gia đình; Lệ phí trước
bạ nhà, đất. Việc phân chia nguồn thu và tỷ lệ phần trăm các nguồn thu cho
ngân sách cấp xã được tuân thủ theo nguyên tắc tạo chủ động cho chính
quyền xã trong việc cân đối ngân sách khai thác các nguồn thu tại xã. Căn cứ
vào nguồn thu và nhiệm vụ chi của xã, phường, thị trấn, Hội đồng nhân dân
cấp tỉnh có thể quyết định tỷ lệ ngân sách xã, thị trấn được hưởng cao hơn
nhưng tối đa không quá 100%.
Ngoài ra, ngân sách xã còn được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh bổ sung
thêm các nguồn thu phân chia sau khi các khoản thuế, lệ phí phân chia theo
Luật Ngân sách nhà nước đã dành 100% cho xã, thị trấn và các khoản thu
ngân sách xã được hưởng 100% nhưng vẫn chưa cân đối được nhiệm vụ
chi.
c) Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách xã bao gồm:
Thu bổ sung để cân đối ngân sách là mức chênh lệch giữa dự toán chi
được giao và dự toán thu từ các nguồn thu được phân cấp (các khoản thu
100% và các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm). Số bổ sung cân đối

về hoạt động, văn phòng, như: chi phí điện, nước, văn phòng phẩm, phí bưu
điện, điện thoại, hội nghị, chi tiếp tân, khánh tiết; Chi mua sắm, sửa chữa
thường xuyên trụ sở, phương tiện làm việc; Chi khác theo chế độ quy định.
Kinh phí hoạt động của cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam ở xã.
Kinh phí hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội ở xã (Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến
binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam)
sau khi trừ các khoản thu theo điều lệ và các khoản thu khác (nếu có).
Đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho cán bộ xã và các đối tượng
khác theo chế độ quy định.
Chi cho công tác dân quân tự vệ, trật tự an toàn xã hội như: Chi huấn
luyện dân quân tự vệ, chi thực hiện việc đăng ký nghĩa vụ quân sự, công tác
nghĩa vụ quân sự khác thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách xã theo quy định của
pháp luật; chi tuyên truyền, vận động và tổ chức phong trào bảo vệ an ninh,
trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã…..


13
Chi cho công tác xã hội và hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục thể
thao do xã quản lý: Trợ cấp hàng tháng cho cán bộ xã nghỉ việc theo chế độ
quy định; chi thăm hỏi các gia đình chính sách; cứu tế xã hội và công tác xã
hội khác; chi hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao, truyền thanh do
xã quản lý.
Chi sự nghiệp giáo dục: Hỗ trợ các lớp bổ túc văn hoá, trợ cấp nhà trẻ,
lớp mẫu giáo, kể cả trợ cấp cho giáo viên mẫu giáo và cô nuôi dạy trẻ do xã,
thị trấn quản lý (đối với phường do ngân sách cấp trên chi).
Chi sự nghiệp y tế: Hỗ trợ chi thường xuyên và mua sắm các khoản
trang thiết bị phục vụ cho khám chữa bệnh của trạm y tế xã.
Chi sửa chữa, cải tạo các công trình phúc lợi, các công trình kết cấu hạ
tầng do xã quản lý như: trường học, trạm y tế, nhà trẻ, lớp mẫu giáo, nhà văn

Xây dựng cơ sở hạ tầng cho nông thôn đòi hỏi vốn đầu tư lớn, vốn này có đặc
điểm là thời hạn thu hồi chậm, thậm chí đầu tư không thu hồi được vốn nhưng
hiệu quả kinh tế mang lại cho xã hội rất cao. Vì vậy mà kinh tế tư nhân không
tham gia hoặc tham gia không đáng kể mà chủ yếu do ngân sách nhà nước bỏ
ra để đầu tư cơ sở hạ tầng ở nông thôn. Xã là cấp chính quyền cơ sở, là nơi
tiếp nhận sự chỉ đạo, đầu tư từ đơn vị hành chính cấp trên nhưng đơn vị hành
chính cấp xã lại có tính độc lập, khép kín, tự quản rất cao về nhiều mặt nên có
nhiều việc như xây dựng đường giao thông nông thôn, thuỷ lợi nội đồng, nhà
trẻ, mẫu giáo, công trình phúc lợi công cộng... chủ yếu do xã đảm nhận với sự
đóng góp sức người sức của nhân dân trong xã. Chính vì vậy mà phương thức
đầu tư cơ sở hạ tầng ở nông thôn phải đa dạng và vận dụng triệt để huy động
nguồn ngân sách nhà nước và nguồn đóng góp nhân dân cho đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng. Việc vận dụng khéo léo phương châm “Nhà nước và nhân dân
cùng làm” là phương thức giải quyết tốt vấn đề trên. Ví dụ tại Nam Định,
thông qua việc khai thác hợp lý sức dân kết hợp với các nguồn lực nhà nước
nên đến nay 100% các xã, phường, thị trấn đã đầu tư được trạm y tế; hệ thống
điện lưới quốc gia của tỉnh đã đảm bảo phục vụ cho 100% hộ dân trong tỉnh
có điện thắp sáng; đa số các xã đã có công trình nước sạch; hệ thống giao
thông nông thôn khá hoàn chỉnh xây dựng mới và cải tạo nối liền với đường
huyện, đường tỉnh; đường liên thôn, liên xã thuận lợi cho nhu cầu đi lại, giao


15
lưu hàng hoá của nhân dân; nhiều chợ, bến bãi, cầu đường được sửa chữa, xây
dựng mới;... diện mạo nông thôn ngày một được đổi mới
Ba là. Ngân sách xã đã góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy phát
triển các sự nghiệp y tế, giáo dục, văn hoá, phát thanh truyền hình... Sự hỗ
trợ hợp lý của ngân sách xã được xem là một trong những nhân tố quan trọng
để phát triển trường lớp, giải quyết nạn mù chữ; hướng nghiệp cho thanh
niên, cung cấp thông tin khuyến nông và thi trường cho nông thôn; phối

cho các đối tượng chính sách ưu tiên... Ngoài ra việc thực hiện đúng các
phương thức và các mức thu, phạt, thưởng đối với các tổ chức và cá nhân
được coi là một biện pháp kinh tế buộc họ phải nghiêm chỉnh chấp hành quy
định của Nhà nước và chính quyền cơ sở, thực hiện nghĩa vụ của mình trước
cộng đồng.
1.2. Cơ chế quản lý ngân sách xã ở nước ta
1.2.1. Khái niệm và các nhân tố ảnh hưởng cơ chế quản lý ngân
sách xã
Cơ chế quản lý ngân sách xã là phương thức tổ chức, sắp xếp bộ
máy quản lý tài chính và các nhiệm vụ thu, chi ngân sách để làm cơ sở,
đường hướng cho ngân sách xã vận hành hướng tới các mục tiêu xác định
trong mối quan hệ, tác động qua lại giữa chính quyền cơ sở với nhân dân
và các chủ thể kinh tế, chính trị, xã hội. Thông qua các mối quan hệ, tác
động qua lại đó và sự vận động của cơ chế quản lý sẽ đem lại lợi ích cho
nhân dân và chính quyền địa phương cơ sở.
Cơ chế quản lý ngân sách xã chịu sự tác động của một số nhân tố cơ
bản sau:
Một là. Trình độ phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương:
Trình độ phát triển kinh tế xã hội ở địa phương có ảnh hưởng lớn đến
nguồn thu ngân sách xã. Qui mô nguồn thu ngân sách xã ở những địa phương
có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao lớn hơn ở những địa phương có trình
độ phát triển thấp. Nguyên nhân là vì ở những địa phương có trình độ phát
triển kinh tế, xã hội cao thì các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đất đai thuận lợi
cho việc khai thác nguồn thu và khả năng huy động nhân dân đóng góp cho
đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cũng thuận lợi hơn so với các địa phương


17
khác... Mặt khác, ở những địa phương đó cơ sở hạ tầng kinh tế, kỹ thuật đồng
bộ và tốt hơn nên sẽ thu hút được các nhà đầu tư vào đầu tư sản xuất kinh

18
dân tỉnh trong việc quyết định một số vấn đề về ngân sách xã. Trên cơ sở đó,
chính quyền địa phương các cấp chủ động xây dựng, ban hành các cơ chế,
chính sách nhằm phát triển ngân sách xã phù hợp như: Cơ chế phân cấp
nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách xã; Cơ chế điều tiết các khoản thu ngân
sách xã; Cơ chế đầu tư phát triển nguồn thu ngân sách xã ... Những cơ chế
này có tác động mạnh đến sự phát triển của ngân sách xã; vừa khuyến khích
được sự chăm lo nuôi dưỡng phát triển nguồn thu của chính quyền cơ sở, vừa
hạn chế được sự bất bình đẳng trong quá trình phát triển ngân sách xã.
Bốn là. Năng lực quản lý điều hành của chính quyền địa phương các cấp
Cơ chế quản lý ngân sách xã thường được đề ra và được vận hành có
hiệu quả ở những nơi mà năng lực quản lý, điều hành của chính quyền vững
mạnh. Có thể nói, nhân tố này tác động trực tiếp đến chất lượng quản lý, điều
hành ngân sách xã. Năng lực quản lý, điều hành bao gồm: trình độ, năng lực
của đội ngũ cán bộ; khả năng hoàn thiện về cơ cấu quản lý tài chính; khả năng
triển khai các cơ chế, chính sách của Nhà nước của đội ngũ cán bộ quản lý
các cấp; sự quan tâm, sáng tạo của chính quyền các cấp trong phát triển ngân
sách xã .... Thực tế cho thấy, ở những nơi có trình độ quản lý, điều hành năng
động, vững mạnh thì dù điều kiện về vị trí địa lý ở địa phương đó bất lợi
nhưng ngân sách xã vẫn duy trì được sự ổn định và phát triển.
Năm là. Các nhân tố khách quan khác. Có nhiều nhân tố khách quan
ảnh hưởng đến các cơ quan đề ra cơ chế, chính sách phát triển ngân sách xã
như: Số lượng cán bộ hưởng lương ngân sách ở xã; điều kiện làm việc của
chính quyền địa phương có những khác nhau; những tàn dư của tư duy quản
lý cũ; hậu quả từ những sai lầm trong quản lý nợ xây dựng cơ bản ở xã để
lại.... Những nhân tố khách quan này trong bối cảnh hiện tại ở một số địa
phương đã trở thành các vấn đề cấp bách cần phải giải quyết, xử lý dứt điểm...
từ yêu cầu thực tiễn đó, đòi hỏi các cấp, các ngành phải đề xuất được những
cơ chế xử lý thích hợp để hạn chế mặt tiêu cực, phát huy mặt tích cực trong
quản lý, điều hành ngân sách xã.

sách Nhà nước những khoản thu mà ngân sách xã được hưởng và những
khoản chi theo đúng chính sách, chế độ Nhà nước quy định thuộc trách nhiệm


20
của ngân sách xã. Quá trình cải tiến chế độ quản lý ngân sách xã được tiến
hành song song với việc cải tiến hệ thống mục lục ngân sách để thống nhất
giữa mục lục ngân sách xã và mục lục ngân sách nhà nước.
Sau Nghị quyết 138-HĐBT, quá trình đổi mới cơ chế quản lý ngân sách
xã được thực hiện liên tục cho đến khi ra đời Luật ngân sách nhà nước. Luật
ngân sách nhà nước năm 1996 chính thức qui định ngân sách xã là một cấp
ngân sách trong hệ thống ngân sách của nước ta. Cơ chế quản lý ngân sách xã
theo Luật ngân sách nhà nước năm 1996 nhanh chóng trở thành công cụ đắc
lực giúp chính quyền cấp xã thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý nhà nước; góp
phần ổn định chính trị - kinh tế - xã hội và đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng
nông thôn mới. Tuy nhiên, quá trình thực hiện cũng còn bộc lộ một số tồn tại
về cơ chế phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi, phát huy tính sáng tạo và tính
chủ động của chính cơ sở trong quản lý, điều hành ngân sách xã.
Luật Ngân sách nhà nước sửa đổi năm 2002 đã chú ý khắc phục những
hạn chế của Luật ngân sách năm 1996. Theo đó, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
được quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiêm vụ chi cho ngân sách xã và
tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách xã với ngân sách
cấp trên sát với tình hình thực tế tại từng địa phương nhằm bước đầu khắc
phục được phần nào sự chênh lệch giữa xã có nguồn thu cao với xã có nguồn
thu thấp trong cân đối thu – chi ngân sách xã. Luật ngân sách sửa đổi cũng
quy định rõ thẩm quyền quyết định dự toán, phê chuẩn quyết toán ngân sách
xã của Uỷ ban nhân dân xã và nhiệm vụ tham mưu của cán bộ tài chính xã
nhằm tăng quyền chủ động của chính quyền cấp xã. Về quản lý thu, chi Luật
ngân sách sửa đổi yêu cầu toàn bộ thu, chi của ngân sách xã được quản lý,
hạch toán đầy đủ vào ngân sách nhà nước từ khâu lập, chấp hành, kế toán và

Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả: Do khả năng nguồn ngân sách nói
chung, ngân sách xã nói riêng bị hạn chế nên việc quản lý, sử dụng ngân sách
xã cần đảm bảo nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả nhằm đáp ứng được các yêu
cầu và mục tiêu đề ra..
Nguyên tắc cân đối thu – chi ngân sách: Lập và điều hành ngân sách
theo dự toán là cơ sở quan trọng để quản lý và kiểm soát thu – chi ngân sách;
đảm bảo cân đối ngân sách xã tạo điều kiện cho việc chấp hành ngân sách


22
đúng chế độ, chính sách, hạn chế tính tuỳ tiện trong việc sử dụng ngân sách
nhà nước. Dự toán ngân sách xây dựng sát đúng với khả năng thu, đảm bảo
nhiệm vụ chi trong từng công việc của chính quyền xã.
1.2.3.2. Tổ chức bộ máy quản lý ngân sách xã
Theo qui định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn
thi hành Luật; Bộ máy quản lý ngân sách xã gồm:
Hội đồng nhân dân xã: Thực hiện quyết định dự toán, quyết toán ngân
sách xã; Quyết định các chủ trương, biện pháp để triển khai thực hiện ngân sách
xã; Quyết định điều chỉnh dự toán ngân sách xã trong trường hợp cần thiết;
Giám sát việc thực hiện ngân sách xã đã được Hội đồng nhân dân xã quyết định.
Uỷ ban nhân dân xã: Uỷ ban nhân dân xã tổ chức quản lý thống nhất
ngân sách xã và các hoạt động tài chính khác của xã gồm: Lập dự toán ngân
sách xã, phương án phân bổ ngân sách xã, dự toán điều chỉnh ngân sách xã
trong trường hợp cần thiết trình Hội đồng nhân dân xã và báo cáo Hội đồng
nhân dân huyện và phòng Tài chính - Kế hoạch quyết định; Tổ chức quản lý,
điều hành ngân sách xã; Báo cáo ngân sách xã với cấp trên theo qui định của
Luật ngân sách nhà nước.
Ban Tài chính xã: Uỷ ban nhân dân cấp xã phải tổ chức Ban Tài chính
để giúp uỷ ban nhân dân cấp xã xây dựng và thực hiện dự toán thu chi ngân
sách, lập báo cáo ngân sách hàng tháng, quyết toán ngân sách năm, tổ chức

Uỷ ban nhân dân xã
vị, tổ chức mình
Báo cáo Thường trực
Uỷ ban nhân dân xã
Hội đồng nhân dân xã
về dự toán ngân sách
Phòng TC-KH
UBND huyện
Uỷ ban nhân dân xã

Uỷ ban nhân dân xã

Tác nghiệp có liên quan

Ban Tài chính xã lập dự
toán thu, chi và cân đối
ngân sách xã

Gửi dự toán ngân sách cho
UBND huyện, phòng TCKH
Tổng hợp dự toán ngân
Làm việc với UBND xã
sách toàn huyện trình
về dự toán ngân sách
UBND huyện
Trình HĐND phương
Giao dự toán ngân sách
án phân bổ ngân sách
cho UBND xã
Hoàn chỉnh dự toán

làm việc với Uỷ ban nhân dân xã về dự toán ngân sách khi Uỷ ban nhân dân
xã có yêu cầu.
1.4. Quyết định dự toán ngân sách xã: Sau khi nhận được quyết định
giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách của Uỷ ban nhân dân huyện, Uỷ ban nhân
dân xã hoàn chỉnh dự toán ngân sách xã và phương án phân bổ ngân sách xã
trình Hội đồng nhân dân xã quyết định. Sau khi dự toán ngân sách xã được
Hội đồng nhân dân xã quyết định, Uỷ ban nhân dân xã báo cáo Uỷ ban nhân
dân huyện, Phòng tài chính huyện, đồng thời thông báo công khai dự toán
ngân sách xã cho nhân dân biết theo chế độ công khai tài chính về ngân sách
nhà nước.
1.5. Điều chỉnh dự toán ngân sách xã hàng năm (nếu có) trong các
trường hợp có yêu cầu của Uỷ ban nhân dân cấp trên để đảm bảo phù hợp với
định hướng chung hoặc có biến động lớn về nguồn thu và nhiệm vụ chi.
Uỷ ban nhân dân xã tiến hành lập dự toán điều chỉnh trình Hội đồng
nhân dân xã quyết định và báo cáo Uỷ ban nhân dân huyện.


25

* Căn cứ lập dự toán:
- Căn cứ vào các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của địa phương.
- Căn cứ các chính sách , chế độ thu ngân sách Nhà nước, cơ chế phân
cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách và tỷ lệ phân chia nguồn thu do Hội
đồng nhân dân tỉnh quy định.
- Căn cứ các chế độ, tiêu chuẩn định mức chi ngân sách do Chính phủ,
Bộ tài chính và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định.
- Căn cứ số kiểm tra về dự toán ngân sách xã do Uỷ ban nhân dân
huyện thông báo.
- Căn cứ tình hình thực hiện dự toán ngân sách xã năm hiện hành và
các năm trước.

(A) dự toán ngân sách địa phương

quyết định dự toán (A)

cấp trên giao, UBND và (B) phương án phân bổ ngân

và phương án phân bổ

xã (hoặc huyện, tỉnh) sách cấp xã.

(B).

Báo cáo cơ quan hành chính, cơ

Phương án (C) = (A)+(B)

quan kế hoạch và đầu tư, cơ quan

UBND các cấp cơ sở

tài chính cấp trên về Nghị quyết

phải trình HĐND cùng

(C)

cấp chậm nhất là 10 ngày

Căn cứ (C) giao nhiệm vụ thu chi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status