TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NV
BỘ MÔN NGỮ VĂN
------------
NGUYỄN THỊ KIM LANH
MSSV: 6106324
TRƢỜNG TỪ VỰNG SÔNG NƢỚC NAM BỘ
TRONG MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN CỦA
NGUYỄN QUANG SÁNG
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ Văn
Cán bộ hƣớng dẫn: Ths.GV: NGUYỄN THỊ THU THỦY
Cần Thơ, năm 2013
ĐỀ CƢƠNG TỔNG QUÁT
1
PHẦN MỞ ĐẨU
1. Lí do chọn đề tài
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3. Mục đích, yêu cầu nghiên cứu
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
2.2.11 Nhóm từ chỉ món ăn vùng sông nước
2.2.12 Nhóm từ chỉ các địa danh
2.3 Trƣờng từ vựng sông nƣớc xét theo phƣơng thức cấu tạo
2.4 Trƣờng từ vựng sông nƣớc xét theo nguồn gốc và phạm vi sử dụng
CHƢƠNG 3: TRƢỜNG TỪ VỰNG SÔNG NƢỚC VỚI NỘI DUNG ĐƢỢC PHẢN
ÁNH TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN QUANG SÁNG
3.1 Sông nƣớc với sinh hoạt của con ngƣời Nam bộ
3.2 Sông nƣớc với cuộc chiến tranh chống Mỹ của ngƣời Nam bộ
3.3 Sông nƣớc với nguồn thực phẩm vô giá của ngƣời Nam bộ
PHẦN KẾT LUẬN
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỤC LỤC
3
PHẦN MỞ ĐẦU
4
1. Lí do chọn đề tài
Khi nói về ngôn ngữ và văn hóa, Cao Xuân Hạo đã khẳng định: “Giữa tiếng nói
của một dân tộc với nền văn hóa của dân tộc ấy chắc chắn phải có một mối quan hệ nhất
định. Vì ngôn ngữ trực tiếp phản ánh cách tri giác và tư duy về thế giới của cộng đồng
dân tộc, mà văn hóa dân tộc không thể không liên quan đến cách tri giác và tư duy ấy”
[13; tr. 287]. Thật vậy, trong lịch sử nhân loại nói chung thì tầm ảnh hưởng của ngôn ngữ
với văn hóa rất lớn. Ngôn ngữ là nguồn chất liệu quan trọng giúp con người có những
hiểu biết về nền văn hóa của chính vùng đất nơi mà mình đã từng sinh ra và lớn lên.
cũng như là giá trị sử dụng của chúng trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng nói riêng và
phương ngữ Nam bộ nói chung.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
“Trường từ vựng sông nước Nam bộ trong một số truyện ngắn của Nguyễn Quang
Sáng” là đề tài chưa có nhiều công trình nghiên cứu sâu và rộng, tuy nhiên có không ít
những công trình liên quan đến đề tài này:
Đầu tiên, là hàng loạt các công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học, trước
hết là các công trình nghiên cứu của GS.TS Đỗ Hữu Châu về từ vựng như Cơ sở ngôn
ngữ học từ vựng, Từ vựng ngôn ngữ tiếng Việt hay quyển giáo trình Từ vựng học tiếng
Việt. Trong số đó quyển giáo trình Từ vựng học tiếng Việt của tác giả Đỗ Hữu Châu giúp
cho học sinh có thể dễ dàng học tập và tìm hiểu nhiều hơn về vấn đề từ vựng trong tiếng
Việt. Ở công trình này tác giả đã có đến bảy chương phân tích khá chi tiết và ngoài những
phần nội dung chính, sau mỗi chương đều có phần hướng dẫn học tập nhằm góp phần
giúp người học củng cố lại những kiến thức cơ bản. Trong số bảy chương viết trên, tác giả
cũng có một chương viết về trường từ vựng – ngữ nghĩa. Ở chương này, tác giả đã tập
trung viết về bốn vấn đề chính. Vấn đề thứ nhất là khái niệm về trường từ vựng – ngữ
nghĩa trong đó bao gồm phần khái niệm chung về trường từ vựng - ngữ nghĩa kèm theo
những vấn đề về trường biểu vật và trường biểu niệm. Tác giả định nghĩa về trường từ
vựng ngữ nghĩa như sau:“Trường từ vựng ngữ nghĩa là tập hợp các từ và ngữ cố định
trong từ vựng của một ngôn ngữ nhờ vào sự đồng nhất nào đấy về ngữ nghĩa” [5; tr.
127]. Vấn đề thứ hai, tác giả đi vào phân tích về vấn đề “trường nghĩa và ngôn ngữ văn
chương”, trong đó tác giả phân tích sâu về trường biểu vật và trường biểu niệm được thể
hiện trong ngôn ngữ văn chương. Vấn đề thứ ba, tác giả Đỗ Hữu Châu đi vào phân tích
6
trường nghĩa ngang (trường nghĩa tuyến tính), và định nghĩa về trường nghĩa ngang như
sau: “Trường nghĩa ngang là tập hợp tất cả các từ ngữ có thể kết hợp với một từ ngữ nào
đó lấy làm gốc lập thành những chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận được một cách
vì vậy mà người đọc sẽ dễ dàng tiếp nhận những vấn đề lí thuyết mà tác giả đặt ra. Đến
phần cuối, tác giả viết về vấn đề hình thành, tồn tại và phát triển của từ vựng tiếng Việt,
trong tổng số năm chương của phần này, tác giả Nguyễn Thiện Giáp giành đến bốn
chương để phân tích từ vựng tiếng Việt về mặt nguồn gốc, phạm vi sử dụng, phong cách
học. Ở chương một (phân tích từ vựng tiếng Việt về mặt nguồn gốc), tác giả đã phân chia
thành các từ thuần Việt, từ ngữ gốc Hán, từ ngữ gốc Ấn Âu. Ở chương hai (phân tích từ
vựng tiếng Việt về mặt phạm vi sử dụng), tác giả đã phân chia thành từ vựng toàn dân, từ
địa phương, tiếng lóng, từ ngữ nghề nghiệp, thuật ngữ. Đến chương ba (phân tích từ vựng
tiếng Việt về mặt mức độ sử dụng), tác giả tiếp tục phân chia thành từ vựng tích cực và từ
vựng tiêu cực; từ ngữ cổ và từ ngữ lịch sử; từ ngữ mới và ý nghĩa mới. Và đến chương
bốn (phân tích từ vựng tiếng Việt về mặt phong cách học), tác giả tập trung vào năm vấn
đề chính: các phong cách chức năng và việc phân chia các lớp từ vựng tiếng Việt; từ vựng
trung hòa; từ vựng hội thoại; từ vựng sách vở và cuối cùng là vấn đề miêu tả sắc thái tu từ
- biểu cảm trong từ điển. Nhờ quá trình phân tích khá chi tiết nên quyển sách Từ vựng
học tiếng Việt được Giáo sư Nguyễn Văn Tu đánh giá khá cao: “Cuốn Từ vựng học
tiếng Việt của Nguyễn Thiện Giáp không đơn thuần chỉ là giáo trình mà còn mang tính
chất của một công trình nghiên cứu” [9; tr. 14].
Kế đến là công trình: Phương ngữ Nam bộ của tác giả Trần Thị Ngọc Lang. Ở
công trình này, tác giả đã khảo sát được một số đặc điểm từ vựng - ngữ nghĩa của phương
ngữ Nam bộ, cũng như là sự khác biệt từ vựng - ngữ nghĩa giữa phương ngữ Nam bộ và
phương ngữ Bắc bộ. Tác giả cho đây là “địa hạt còn chưa được khai phá nhiều mà lại
phong phú và thú vị” [19; tr. 8]. Cụ thể ở phần III của công trình, tác giả Trần Thị Ngọc
Lang đã có một chương viết về “nhóm từ có liên quan đến sông nước trong phương ngữ
Nam bộ”. Ở chương này, tác giả đã chia nhóm từ sông nước ra thành ba nhóm chính:
nhóm từ chỉ địa hình; nhóm từ chỉ sự vận động của dòng nước; nhóm từ chỉ sự vận động
của con người trên sông nước và những phương tiện dùng cho hoạt động sông nước. Sau
đó, tác giả nghiên cứu cụ thể ngữ nghĩa của những nhóm từ trên. Qua đó, ta chỉ thấy rõ
thêm về nghĩa của từ cũng như là những chỗ dị biệt và tương đồng giữa từ phương ngữ
Nam bộ với từ toàn dân.
8
và chiếm nhiều số trang nhất là phần tra cứu từ vựng Nam bộ khá đồ sộ. Ngoài ra, tác giả
9
cũng nêu lên một số vấn đề về phương ngữ Nam bộ. Trong đó gồm ba phần: thứ nhất là
sự hình thành vùng đất và con người Nam bộ; thứ hai là sự hình thành phương ngữ Nam
bộ; thứ ba là đặc điểm của phương ngữ Nam bộ. Ở phần thứ ba (đặc điểm của phương
ngữ Nam bộ), tác giả Huỳnh Công Tín đã nghiên cứu trên cả bốn bình diện: ngữ âm, từ
vựng - ngữ nghĩa, ngữ pháp và phong cách diễn đạt. Trong đó, tác giả cũng phân loại từ
ngữ của vùng đồng bằng sông nước theo nhóm như: địa hình sông nước; hiện tượng của
vùng sông nước; mức độ phân biệt của nước; phương tiện di chuyển trên sông nước; các
loại sản vật, cây trái (động vật, thực vật); hoạt động sinh hoạt đời sống; ngành nghề
truyền thống; lễ hội vùng; sinh hoạt nghệ thuật. Cách phân loại này đã góp phần vào việc
tìm hiểu văn hóa của vùng sông nước Nam bộ.
Kế tiếp, là hàng loạt bài nghiên cứu đã được in trên các tạp chí Ngôn ngữ, tạp chí
Ngôn ngữ & đời sống như: Đặng Thị Hảo Tâm với bài viết Trường từ vựng - ngữ nghĩa
món ăn và ý niệm (Tạp chí ngôn ngữ, T5 – 2011), Trần Thị Mai với bài viết Trường từ
vựng không gian trong tập thơ Lửa Thiêng của Huy Cận (Tạp chí ngôn ngữ & đời
sống, Số 1+2 – 2010), PGS.TS. Trịnh Sâm với bài viết Miền ý niệm sông nước trong tri
nhận của người Việt, (Tạp chí ngôn ngữ, T12 – 2011). Và gần đây nhất là bài viết Từ địa
phương chỉ địa hình trong địa danh Nam bộ (Tạp chí ngôn ngữ, T4– 2012) của PGS.ts.
Lê Trung Hoa. Với bài viết này tác giả đã chia địa hình Nam bộ thành hai bộ phận chính:
địa thế tự nhiên và các dòng chảy. Ở hai hai dạng địa hình này tác giả đã dẫn ra hàng loạt
từ chỉ địa hình của địa phương Nam bộ. Bên cạnh đó tác giả còn giải thích nghĩa của các
tên gọi đó và đưa ra những địa danh cụ thể Nam bộ. Chẳng hạn như: “Bùng Binh là rạch
ở quận 10 và quận 3, thành phố Hồ Chí Minh, từ Bộ tư lệnh thành phố đến rạch Nhiêu
Lộc, dài độ 500m. [41]. “Rạch là dòng nước tự nhiên, nhỏ hơn sông. Ở Trung bộ và Bắc
bộ hoàn toàn vắng mặt từ này. Còn ở Nam bộ, nó hết sức phổ biến và các nhà nghiên cứu
đếu nhất trí là nó có nguồn gốc Khmer prêk. Các địa danh Rạch Dừa là phường ở tp.
Vũng Tàu; cầu Rạch Miễu nối hai tỉnh Tiền Giang và Bến Tre” [41]. Và cuối bài viết, tác
chi tiết sống động và kỳ diệu nhưng hợp lý, tính kịch rất nỗi nhưng cũng đậm đà chất trữ
tình” [26; tr. 114]
Cùng với bài viết Nguyễn Quang Sáng của tác giả Trần Hữu Tá vừa nói đến ở
trên, còn phải kể đến bài viết Truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng. Trong bài viết này tác
giả Vân Thanh đã nhận xét: “Truyện ngắn Nguyễn Sáng (Nguyễn Quang Sáng) chứa
đựng những yếu tố kỳ diệu” [26; tr. 117], “nói kỳ diệu là nói những chuyện lạ. Nhưng với
11
Nguyễn Sáng, đó là những chuyện lạ đã trở thành bình thường, những chuyện lạ không
phải do phép tiên mà có, nó được làm nên bởi con người bình thường” [26; tr. 117]. Và
“Truyện Nguyễn Sáng giàu chi tiết sống. Nhưng chi tiết đối với anh không phải là một
thứ trang sức để phô bày. Chi tiết được anh dùng trước hết là khắc họa nhân vật” [21;
tr.120]. Ngoài ra, tác giả cũng nhận định: “Nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Sáng
là con người vươn lên trong ánh sáng của cách mạng. Những nét ưu buồn không đọng lâu
trong con người họ. Khó khăn, mất mát, chết chóc là điều khó tránh khỏi trong cuộc
chiến ác liệt này, nhưng điều đó không hề giảm lòng tin của họ vào chiến thắng ngày
mai” [26; tr. 123]. Bên cạnh việc ca ngợi sở trường của Nguyễn Quang Sáng “anh đi vào
những mảnh nhỏ của đời sống. Làm cho thấy sự kết hợp giữa chất anh hùng cao cả và
chất thơ trong trẻo, đơn giản” [26; tr. 123] tác giả còn nêu lên một khuyết điểm của nhà
văn “trong truyện ngắn của anh, ta chưa hề thấy một nhân vật phản diện nào” [26; tr.
123]. Nhưng dù sao đi nữa trong bài viết này, tác giả Vân Thanh cũng có thái độ trân
trọng nhất định và đánh giá cao về truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng “Giàu chi tiết
sống, lắm tình huống bất ngờ, truyện Nguyễn Sáng thường mang nhiều chất kịch” nhưng
“tuy đậm tính kịch nhưng vẫn mang nhiều chất trữ tình” [ 26; tr. 124].
Tiếp theo là bài viết Còn lại tình yêu của tác giả Bùi Việt Thắng, tác giả cho rằng,
với Nguyễn Quang Sáng thì truyện ngắn “là cái “tạng” là sở trường của nhà văn” [31;
tr. 11] có lẽ vì vậy mà khi viết truyện ngắn “ông đắm đuối với câu chuyện, với nhân vật”
[31; tr. 12]. và luôn “biết dồn nén tình thế để gia tăng yếu tố bất ngờ hấp dẫn của tác
phẩm” [31; tr. 12]. Ngoài ra, tác giả Bùi Việt Thắng còn nêu ra sự khác biệt về đặc điểm
kê.
Phân tích được giá trị phản ánh của từ vựng trong truyện ngắn của Nguyễn Quang
Sáng. Do hạn định về dung lượng của một luận văn đại học, luận văn này chỉ phân tích
những nội dung phản ánh nổi bật, đặc trưng nhất về vùng đất Nam bộ.
Ngoài ra, người viết mong muốn có cái nhìn toàn diện hơn, sâu sắc hơn về giá trị
phản ánh của những từ vựng sông nước Nam bộ trong sáng tác của một nhà văn cách
mạng, để thấy được cái hay, cái độc đáo, sáng tạo của nhà văn trên con đường nghệ thuật
với sự kết hợp độc đáo nhuần nhuyễn giữa tư tưởng và thực tiễn, nhằm khẳng định vai
13
trò, vị trí to lớn của nhà văn trong dòng chảy văn học của vùng đất Nam bộ. Qua đó, có
một cái nhìn sâu sắc, trọn vẹn hơn về con người cũng như là vùng sông nước Nam bộ.
Mặt khác người viết còn mong muốn được góp phần nhỏ vào việc giữ gìn và phát
triển những đặc sắc văn hóa của vùng đất Nam bộ.
Đề tài “Trường từ vựng sông nước Nam bộ trong một số truyện ngắn của Nguyễn
Quang Sáng”, còn là nền tảng bổ trợ cho người viết có nhiều kiến thức ứng dụng cho
công việc sau khi ra trường như giảng dạy, viết lách hay sáng tác,...
4. Phạm vi nghiên cứu
Với việc nghiên cứu đề tài: “Từ vựng sông nước Nam bộ trong một số truyện ngắn
của Nguyễn Quang Sáng”, người viết khảo sát 27 truyện ngắn tiêu biểu được in trong
Tuyển tập Nguyễn Quang Sáng (tập I và tập II, Nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, 1996).
Thực hiện đề tài: “Trường từ vựng sông nước Nam bộ trong một số truyện ngắn
của Nguyễn Quang Sáng”, ngoài việc khảo sát những vấn đề chung liên quan đến đề tài,
người viết chủ yếu tập trung vào tìm hiểu những giá trị phản ánh của từ vựng sông nước
trong tác phẩm Nguyễn Quang Sáng.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
16
chỉnh thể gồm hai mặt (âm và nghĩa), có tính cố định, sẵn có, bắt buộc, là đơn vị nhỏ nhất
và độc lập, có chức năng tự do để tạo câu” [7; tr. 116]
Trong quyển Dẫn Luận Ngôn Ngữ học tác giả Nguyễn Thiện Giáp thì cho ý kiến
về từ như sau: “Từ là đơn vị tồn tại hiển nhiên, sẵn có của ngôn ngữ. Do tính chất hiển
nhiên, có sẵn của từ mà ngôn ngữ của loài người bao giờ cũng được gọi là ngôn ngữ của
các từ. Chính tổng thể các từ là vật liệu xây dựng mà thiếu nó thì không thể hình dung
được một ngôn ngữ. Chính các từ đã biến đổi và kết hợp ở trong câu theo quy luật ngữ
pháp của ngôn ngữ” [10; tr. 60].
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp cũng nhận định “Mặc dù từ luôn luôn ám ảnh tư
tưởng chúng ta như toàn bộ cơ cấu của ngôn ngữ, nhưng khái niệm này rất khó định
nghĩa. Cái khó nhất trong việc định nghĩa từ là sự khác nhau về cách định hình, về chức
năng và những đặc điểm ý nghĩa của từ trong các ngôn ngữ khác nhau cũng như trong
cùng một ngôn ngữ” [10; tr. 61]
Cuối cùng tác giả Nguyễn Thiện Giáp cũng kết luận: “Nói chung, không có định
nghĩa nào về từ làm mọi người thỏa mãn. Với tư cách là định nghĩa sơ bộ, có tính chất
giả thiết để làm việc, có thể chấp nhận định nghĩa từ như sau: từ là đơn vị nhỏ nhất của
ngôn ngữ, độc lập về ý nghĩa và hình thức” [10; tr. 61]
Trong quyển Từ và nhận diện từ tiếng Việt tác giả Nguyễn Thiện Giáp định
nghĩa: “Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa để tạo ra câu nói, nó có
hình thức, có một âm tiết, một khối viết liền” [11; tr. 168]
Tác giả Lưu Văn Lăng trong quyển Ngôn ngữ và tiếng Việt thì quan niệm:
“Những đơn vị nhỏ nhất mới là từ. Có thể nói từ là đơn vị tách biệt nhỏ nhất, nói cách
khác từ là ngữ đoạn (tĩnh) nhỏ nhất [21; tr. 123]. Và “Từ có thể gồm nhiều tiếng không tự
do hoặc chỉ một tiếng tự do hay nhiều tiếng tự do kết hợp lại theo quan hệ cú pháp tiếng
Việt” [21; tr. 214]
Theo tác giả Hồ Lê trong quyển Cấu tạo từ tiếng Việt hiện đại cho rằng:“Từ là
đơn vị ngôn ngữ có chức năng định danh phi liên kết hiện thực, hoặc có chức năng mô
từ láy.
18
Trong quyển Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại, tác giả Nguyễn Văn Tu định nghĩa
về từ đơn như sau: “những từ đơn trong tiếng Việt là từ chỉ gồm có một bộ phận không
chia nhỏ được thường được gọi bằng thuật ngữ ngữ âm là âm tiết. Để cho phù hợp với từ
vựng học, chúng tôi gọi từ đơn là từ có một thành tố tức là từ tố.” [36; tr. 36]
Đồng thời, tác giả Nguyễn Văn Tu cũng quan niệm về từ ghép như sau: “Những từ
đơn trong tiếng Việt có thể kết hợp với nhau thành những cụm từ khác nhau để diễn đạt
một nội dung mới hơn so với những thành tố của chúng. Những cụm từ này có hai trạng
thái: trạng thái tự do và trạng thái cố định.
Ví dụ, những tổ hợp tự do như:
ăn + sạch = ăn sạch
ăn + cơm = ăn cơm
nhà + gạch = nhà gạch v.v…
Còn những tổ hợp như: mát tay, ăn ở, ăn mặc, ngăn nắp, máy bay, máy khâu, xe
cộ… đều là những tổ hợp cố định, đã trở thành các từ. Đây là những từ ghép.
Hai tổ hợp này khác nhau ở tính chất của những thành tố. Trong tổ hợp tự do,
những thành tố là những từ đơn, hoặc từ ghép. Chúng được dùng một cách tự do và được
kết hợp với nhau một cách tạm thời. Như vậy loại tổ hợp cố định tồn tại vững chắc và
không được tách ra một cách tự do. Chúng gắn bó với nhau trong một đơn vị chặt chẽ là
từ ghép.” [36; tr. 43]
Về từ láy, trong giáo trình Nội dung bài giảng môn từ vựng học tiếng Việt tác giả
Nguyễn Thị Thu Thủy quan niệm như sau: “Để có thể dung nạp được cả hai bộ phận (từ
láy chân chính và từ ghép có dạng láy mất nghĩa), ngày nay đứng trên quan điểm đồng
đại có thể nói từ láy là những từ gồm nhiều tiếng, các tiếng được ghép lại dựa trên quan
hệ ngữ âm, có tác dụng tạo nghĩa.” [33; tr. 20]
Căn cứ vào nguồn gốc của các từ, từ được chia thành hai lớp: từ bản ngữ và từ
ngoại lai.
hiện tượng của thực tế” [10; tr. 60]. Ngoài ra tác giả còn giải thích thêm: “Nếu chiết tự,
vựng là một yếu tố gốc Hán, có nghĩa là sưu tập, tập hợp, do đó từ vựng sẽ là sưu tập, tập
hợp các từ của ngôn ngữ... Nó không chỉ bao gồm các từ mà còn bao gồm các ngữ, tức là
những cụm từ sẵn có, tương đương với từ, chẳng hạn như các thành ngữ” [10; tr. 60].
Tác giả cũng khẳng định thêm: “Tuy nhiên trong các đơn vị từ vựng, từ là đơn vị cơ bản.
Ngữ không phải là đơn vị từ vựng cơ bản vì nó do các từ cấu tạo nên, muốn có các ngữ,
trước hết phải có từ” [10; tr. 60]
Bên cạnh đó, trong quyển 777 khái niệm ngôn ngữ học, tác giả Nguyễn Thiện
Giáp cũng đã quan niệm về từ vựng như sau: “Thuật ngữ từ vựng được dùng để chỉ cái
đối tượng mà tiếng anh gọi là lexicon. Nếu chiết tự thì “vựng” là sưu tập, tập hợp, “từ
vựng” là tập hợp các từ của ngôn ngữ. Nhưng thực tế, nội dung của thuật ngữ “từ vựng”
rộng hơn. Từ vựng của một ngôn ngữ là tập hợp các đơn vị từ vựng của ngôn ngữ đó. Các
đơn vị từ vựng bao gồm cả các từ lẫn những đơn vị tương đương với từ, tức là các thành
ngữ. Từ vựng của một ngôn ngữ là cái khách quan, là bộ phận cấu thành ngôn ngữ, nó
tồn tại hoàn toàn độc lập với nhà ngôn ngữ học. Cần phân biệt từ vựng với vốn từ” [12;
tr. 465]
Theo Giáo trình cơ sở ngôn ngữ học do tác giả Nguyễn Hữu Chỉnh và Nguyễn
Thị Thu Thủy biên soạn thì cho rằng: “Vựng là yếu tố gốc Hán có nghĩa cái kho, nơi
chứa. Từ vựng là kho từ, vốn từ của một ngôn ngữ gồm các từ và các đơn vị tương đương
vời từ. Từ vựng là một hệ thống hữu hạn, là một bộ phận quan trọng của hệ thống ngôn
ngữ, phát triển liên tục cùng với sự phát triển của xã hội. Mỗi từ trong hệ thống bao giờ
cũng đối lập với các từ còn lại, đồng thời chỉ có giá trị khi được xét trong mối tương quan
với các từ khác trong hệ thống. Từ vựng của một ngôn ngữ có thể gồm nhiều trăm ngàn
từ. Nhưng vốn từ của một cá nhân thường không nhiều lắm. Tích lũy được khoảng 6000
đến 9000 từ đã có thể xem là trình độ văn hóa cao. Một nhà văn thiên tài thường cũng chỉ
sử dụng vốn từ khoảng 20000 từ [7; tr. 114]
Trong giáo trình Nội dung bài giảng môn từ vựng học tiếng Việt, tác giả Nguyễn
Thị Thu Thủy định nghĩa từ vựng như sau:
Trƣờng từ vựng
Trong quyển 777 khái niệm ngôn ngữ học, tác giả Nguyễn Thiện Giáp viết:
“Trường từ vựng bao phủ lên trường nghĩa như một cái hình ghép, cái áo khoác hay tấm
vải phủ. Vì thế khái niệm trường từ vựng được định nghĩa như sau: Trường từ vựng của
22
một trường nghĩa là tập hợp các từ ngữ có những đơn vị từ vựng cơ sở cùng thuộc trường
nghĩa này” [ 12; tr. 437]
Theo sách Ngữ văn 8 tập một: “Trường từ vựng là tập hợp của những từ có ít nhất
một nét chung về nghĩa.” [25; tr. 21]
Theo Từ vựng học tiếng Việt, tác giả Đỗ Hữu Châu quan niệm:“Trường từ vựng
ngữ nghĩa là tập hợp các từ và ngữ cố định trong từ vựng của một ngôn ngữ nhờ vào sự
đồng nhất nào đấy về ngữ nghĩa” [5; tr. 127]
Tóm lại, có thể hiểu trường từ vựng là:
Tập hợp các từ,
Có quan hệ về nghĩa.
Theo Giáo trình Cơ Sở Ngôn Ngữ học, của tác giả Nguyễn Hữu Chỉnh – Nguyễn
Thị Thu Thủy thì phân loại về trường từ vựng như sau:
Khi nói tới trường từ vựng, người ta chủ yếu nghĩ tới ba loại trường từ vựng - ngữ
nghĩa sau đây: trường nghĩa trực tuyến, trường nghĩa tuyến tính, trường nghĩa liên tưởng.
Trƣờng nghĩa trực tuyến (trƣờng nghĩa dọc): “Vốn từ của một ngôn ngữ được
chia thành các trường nghĩa trực tuyến (trường nghĩa dọc) thuộc nhiều cấp độ lớn nhỏ
khác nhau dựa vào nét nghĩa phạm trù chung nhất đến nét nghĩa phạm trù nhỏ hơn rồi
các nét nghĩa loại, hạng và các nét nghĩa riêng biệt. Đây là lối sắp xếp vốn từ của một
ngôn ngữ theo các trường nghĩa biểu vật và biểu niệm rất có lợi cho người sử dụng. Nó
tạo cơ sở cho việc soạn các từ điển không sắp xếp theo trật tự chữ cái đầu truyền thống
mà theo các lĩnh vực khác nhau của đời sống.” [7; tr. 142]
Trƣờng nghĩa tuyến tính (trƣờng nghĩa ngang): “Các từ trong hoạt động còn
Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, thành phố Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, An Giang, Kiên
Giang, Bạc Liêu, Cà Mau.
Nam bộ có khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa và cận xích đạo, nền nhiệt ẩm
phong phú, ánh nắng dồi dào, thời gian bức xạ dài. Biên độ nhiệt ngày đêm giữa các
tháng trong năm thấp và ôn hòa. Độ ẩm trung bình hàng năm khoảng từ 80 - 82%. Khí
24
hậu hình thành trên hai mùa chủ yếu quanh năm là mùa khô và mùa mưa. Mùa mưa từ
tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4.
Vùng đất Nam bộ bao gồm hai khu vực có sự phân hóa tương đối khác biệt:
Đông Nam bộ gồm các tỉnh thành như: Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Tây
Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi đây có độ cao từ 100 - 200m, có
cấu tạo địa chất chủ yếu là đất đỏ bazan và đất phù sa cổ. Khu vực đồng bằng sông nước
ở đây chiếm diện tích khoảng 6.130.000 ha cùng trên 4.000 kênh rạch với tổng chiều dài
lên đến 5.700 km.
Tây Nam bộ (Đồng bằng Sông Cửu Long) có diện tích 39.734 km², gồm các tỉnh
thành như Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, Hậu Giang,
Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau và Thành phố Cần Thơ. Tây Nam
Bộ có độ cao trung bình gần 2m, được hình thành chủ yếu từ quá trình lùi dần của biển
cổ, là miền đất của phù sa mới. Vì vậy địa hình ở đây chịu sự tác động của sông biển với
hệ thống kênh rạch khá chằng chịt. Tuy nhiên, Ở đây vẫn có một số núi thấp ở khu vực
tiếp giáp với vùng Tây Nguyên, miền Tây tỉnh Kiên Giang và Campuchia.
Nam bộ có hệ thống sông ngòi khá dày đặc bao gồm hai hệ thống sông lớn nhất
là sông Đồng Nai và sông Cửu Long. Ngược với dòng Sông Đồng Nai có lượng phù sa
thấp, dòng sông Cửu Long có lượng nước đổ về trung bình khoảng 4.000 tỷ mét khối và
hàng năm vận chuyển khoảng 100 triệu tấn phù sa, giữ vai trò rất quan trọng đối cho
Đồng bằng sông Cửu Long trong việc phát triển nông nghiệp.
1.2.2 Lịch sử Nam bộ