TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
LƯƠNG THỊ HƯỜNG
MSSV: 6075426
TỪ XƯNG HÔ TRONG MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN
CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ văn – Khóa: 2007 – 2011
Cán bộ hướng dẫn: Th.S. BÙI THỊ TÂM
Cần Thơ, tháng 05/2011
LỜI CẢM ƠN
Thông qua khóa luận này, tôi xin nói lên lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến
Th.S Bùi Thị Tâm, cảm ơn cô đã tin tưởng giao cho tôi đề tài này và luôn quan tâm,
giúp đỡ, động viên, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian qua.
Tôi xin cảm ơn tất cả những người thân, bạn bè – những người luôn bên cạnh giúp
đỡ và động viên tôi trong thời gian thực hiện khóa luận.
Mặc dù tôi đã cố gắng hoàn thành khóa luận trong phạm vi và khả năng cho phép
nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, tôi mong nhận được sự
đóng góp ý kiến của quý thầy cô và bạn bè để khóa luận được hoàn chỉnh hơn.
Cần Thơ, ngày 25 tháng 04 năm 2011
1.2.2.5. Từ xưng hô dùng trong quan hệ xã hội
Chương 2
KHẢO SÁT TỪ XƯNG HÔ
TRONG MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ
2.1. VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG
2.1.1. Vài nét về tác giả
2.1.2. Một số đặc điểm về truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
2.1.2.1. Về nội dung
2.1.2.2. Về nghệ thuật
2.2.KHẢO SÁT TỪ XƯNG HÔ TRONG MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN CỦA
NGUYỄN NGỌC TƯ
2.2.1.Từ xưng hô trong gia đình
2.2.1.1.Từ xưng hô trong mối quan hệ với ông bà – cháu
2.2.1.2. Từ xưng hô dùng trong mối quan hệ giữa cha mẹ đối với con cái
trong gia đình
2.2.1.3. Xưng hô trong mối quan hệ vợ chồng
2.2.1.4. Xưng hô trong mối quan hệ anh chị - em
2.2.2 Xưng hô trong mối quan hệ với xã hội
2.2.3. Xưng hô trong mối quan hệ tình yêu
Chương 3
HIỆU QUẢ CỦA VIỆC SỬ DỤNG TỪ XƯNG HÔ
TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ
3.1. Dùng từ xưng hô thể hiện tình cảm, cảm xúc, tâm trạng của mỗi nhân vật
3.1.1. Dùng từ xưng hô thể hiện tình cảm yêu thương
3.1.2. Dùng từ xưng hô thể hiện sự giận dỗi
3.1.3. Dùng từ xưng hô thể hiện sự khinh miệt
3.1.4. Dùng từ xưng hô thể hiện tâm trạng
Nguyễn Ngọc Tư, người đọc cảm nhận được nhà văn đang tái hiện lại cuộc sống của
người dân Nam bộ với những vấn đề hiện thực còn nhiều bất cập vướng mắc.
Với lối viết văn giản dị, mộc mạc, trơn tuột, … Nguyễn Ngọc Tư đã thể hiện
được phong cách riêng của văn chương Nam Bộ. Từng câu, từng chữ trong tác phẩm
của chị như chính là lời ăn tiếng nói hằng ngày của người dân Nam Bộ. Đó chính là
nỗi lòng khát vọng của những con người nông dân hiền hòa, chất phác. Sự thành công
của Nguyễn Ngọc Tư không chỉ về phương diện nội dung, mà cả về phương diện nghệ
thuật. Trong đó đáng chú ý là từ xưng hô chị đã sử dụng trong những trang viết của
mình. Qua việc sử dụng từ xưng hô người đọc có thể thấy được tính cách, tình cảm,
văn hóa… của từng nhân vật trong tác phẩm của chị. Bởi vì trong sinh hoạt hàng ngày
con người luôn trao đổi, tâm sự với nhau dù bất cứ nơi đâu, môi trường nào thì giao
tiếp vẫn diễn ra và đóng vai trò quan trọng.
Trong giao tiếp bằng ngôn ngữ, xưng hô là yếu tố đầu tiên mà các vai giao tiếp
cần phải lựa chọn để xác nhập vị trí của mình. Dựa vào xưng hô mà quan hệ giữa các
vai giao tiếp được thiết lập. Do đó, sử dụng từ xưng hô không chỉ giúp cuộc đối thoại
có thể tiến hành mà còn ảnh hưởng lớn đến chiến lược và hiệu quả giao tiếp. Xưng hô
đúng, hay sẽ góp phần thúc đẩy giao tiếp phát triển. Ngược lại, xưng hô không hợp lý
gây ra hậu quả không mong muốn trong giao tiếp. Và từ xưng hô là gì? Nó được thể
hiện ra sao? Nét đặc trưng của nó như thế nào trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư?
Đó là vấn đề đặt ra cho người đọc khi tìm hiểu, nghiên cứu tác phẩm của Nguyễn
Ngọc Tư. Vì vậy mà người viết chọn đề tài: “ Từ xưng hô trong một số truyện ngắn
của Nguyễn Ngọc Tư” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử vấn đề
Có nhiều yếu tố tạo nên tính khác biệt giữa đất nước Việt Nam so với các quốc
gia khác như về vị trí địa lý, về lịch sử, về văn hóa, dân tộc…Trong rất nhiều yếu tố
đó, ngôn ngữ cũng được xem là một nhân tố tạo nên sự khác biệt. Bằng chứng dễ dàng
nhận thấy đó là biểu hiện của lớp từ xưng hô trong hệ thống ngôn ngữ tiếng Việt. Hệ
danh từ thân tộc vào nhóm các đại từ xưng hô lâm thời “đại từ xưng hô trong tiếng
Việt gồm các đại từ chuyên dùng để xưng hô và các đại từ xưng hô lâm
thời”…[19;151]. Các đại từ xưng hô lâm thời được hiểu là các danh từ thân tộc.
Lê Biên trong “ Từ loại tiếng việt hiện đại” đã nhận định: “Xưng hô trong giao
tiếp là một vấn đề lớn, liên quan đến nhiều nhân tố”[2;123]. Trong quyển này, tác giả
đã có nghiên cứu khá sâu về đại từ xưng hô. Theo ông đại từ xưng hô có thể chia thành
hai lớp: đại từ xưng hô gốc đích thực và các yếu tố đã được đại từ hóa dùng để xưng
hô như: những danh từ lâm thời đảm nhiệm chức năng đại từ, các từ chỉ chức danh,
nghề nghiệp, các tên riêng của người… Ngoài ra ông còn chia từ xưng hô trong tiếng
Việt thành hai lớp có phạm vi sử dụng khác nhau gồm: Từ xưng hô dùng trong gia tộc
và từ xưng hô ngoài xã hội.
Tác giả Đinh Văn Đức trong “Ngữ pháp tiếng Việt” ngoài quan điểm khá giống
với các tác giả trên ông còn cho rằng các đại từ chỉ định như: “ đây, đấy, đó, kia, kìa,
vậy, thế…nhiều khi cũng được dùng để chỉ người”[8;204]
Nhìn chung điểm đồng nhất giữa các tác giả trên là đã xem xét từ xưng hô ở góc
độ là đại từ xưng hô, với chức năng là giao tiếp.
Tác giả Đinh Trọng Lạc đã phát biểu như sau: “phong cách học quan tâm chủ yếu
đến các giá trị biểu đạt, biểu cảm-cảm xúc, cái giá trị phong cách của các phương tiện
giao tiếp nhất định trong quá trình giao tiếp”[11;10]. Lời phát biểu này cũng có thể
được xem là quan điểm tiêu biểu trong việc nghiên cứu từ xưng hô của các nhà phong
cách học. Theo quan điểm trên thì từ xưng hô cũng như các phương tiện ngôn ngữ
khác, được phong cách học nhìn nhận và xem xét dưới những phương diện: phong
cách chức năng ngôn ngữ và đặc điểm tu từ.
Tác giả Cù Đình Tú trong “ Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt” cho
rằng: “ ngoài các đại từ nhân xưng và các đại từ chỉ quan hệ họ hàng thân tộc thì còn
lấy cả tiếng đệm giữa họ và tên của nữ giới (thị) để làm từ xưng hô, thậm chí còn dùng
cả cách nói trống không để xưng hô” cuối cùng ông nhận xét: “trong tiếng Việt, từ
xưng hô, cách xưng hô, mô hình xưng hô là phương tiện biểu cảm, là phương tiện
nhiên mọc lên giữa rừng tràm hay rừng đước Nam Bộ vậy, tươi tắn lạ thường, đem
đến cho văn học một luồng gió mát rượi, tinh tế mà chân chất, chân chất mà tinh tế,
đặc biệt “Nam Bộ” một cách như không, chẳng cần chút cố gắng nào cả như các tác
giả Nam Bộ đi trước… Tuy nhiên, cơ bản thuộc một cái gì đó đã cũ, một thế giới tinh
thần và giá trị ổn định. Văn cô ấy thật trẻ, nhưng có lẽ nếu muốn xếp loại thì cũng
không phải khó lắm. Đã có một thứ thang bậc tương đối ổn định để xếp cây bút này
vào đó…Nhưng đến Cánh đồng bất tận gần đây của Nguyễn Ngọc Tư thì bỗng là một
cây bút khác hẳn. Bỗng nhiên không thể xếp loại vào đâu nữa cả. Đặt vào ô nào cũng
thấy khiên cưỡng. Nghe nói tác phẩm vừa ra đời, lập tức đã có mấy anh đạo diễn
nhanh chân tìm xuống tận Cà Mau mua bản quyền làm phim ngay: Tác phẩm quá đậm
chất tiểu thuyết! Nó trình bày ra đó một thế giới kì lạ, trong đó ai còn lẩn thẩn đi tìm,
đi nói chuyện chuẩn mực giá trị gọi là “đạo đức”, “đạo lý” này nọ, trở thành ngớ
ngẩn vô duyên, thậm chí ngu độn”
Nguyên Ngọc với tư cách là nhà văn nói về văn nên ông có lời nhận xét chân
tình, đúng mực về nguyễn Ngọc Tư. Tuy nhiên, bài viết của tác giả thiên về tính chất lí
luận, đọc một lần chưa chắc đã nắm được trọn vẹn vấn đề mà ông muốn chuyển tải,
nhưng có một vấn đề có thể khẳng định rằng, tác giả đánh giá cao sự mạnh dạn vượt
mình của Nguyễn Ngọc Tư thông qua Cánh đồng bất tận, điều đó góp phần đưa văn
của chị lên một tầm cao mới, một chỗ đứng mới. Theo Nguyên Ngọc, đó là “những
người cầm bút rất có tư cách”
Trong bài viết: “ May mà có Nguyễn Ngọc Tư” đăng trên báo tuổi trẻ, số ra ngày
26.4.2006. Nhà văn Dạ Ngân cũng đưa ra nhận xét về cách viết của Nguyễn Ngọc Tư
như sau: “ Chính cái truyện lấy tên tập lại không thấy thích bằng những truyện về
những cảnh ngộ, những thân phận, những mảnh người thường nhật, nó cho thấy tác
giả có thể dài hơi về kiểu nhân vật này, tất cả được diễn tả bằng thứ ngôn ngữ Nam Bộ
lấp lánh và một giọng văn dung dị, đặc biệt ấm áp. Cảm giác của người trong nghề,
lại là dân biên tập, tôi nghĩ hình như mình đang tiếp cận một ngôi sao chưa biết nó sẽ
tỏa sáng đến đâu. Lại còn những tạp bút trên tờ Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn, già dặn,
Nguyễn Ngọc Tư mới bước vào văn đàn chưa lâu và chỉ mới dừng lại ở địa hạt
truyện ngắn, nhưng vấn đề mà chị đặt ra thường là những vấn đề gia đình xã hội
đương thời, nhưng không cũ mòn, không nhàm chán bởi mạch văn liên kết chặt chẽ
với vô số chi tiết thú vị. Nói về phương diện nghệ thuật trong tác phẩm của Nguyễn
Ngọc Tư, Huỳnh Công Tín chỉ rõ: “Nhìn từ phương diện nghệ thuật, chị đã sử dụng
ngôn từ của ngôn ngữ Nam bộ khá thành công trong sáng tác của mình. Điều này góp
phần làm nên một văn phong riêng ở chị. Tất nhiên có thể có người không đồng tình
với nhận định này vì cho rằng trong tác phẩm văn chương mà sử dụng quá nhiều từ
địa phương thì sẽ gây trở ngại cho người đọc, hạn chế độc giả. Nhưng để có được
những sáng tác phản ánh sinh động thực tại, không gì tốt hơn là phải dùng chất liệu
ngôn từ của thực tại cần phản ánh”[24;4].
Tiểu Hằng Ngôn cũng cho rằng: “Nhiều người nghĩ rằng, nói chung văn chương
miền Nam không thể so được với sự chỉnh chu truyền thống của văn chương miền
Trung, miền Bắc. Nguyễn Ngọc Tư đã làm những người đó phải nghĩ lại. Đọc truyện
của Nguyễn Ngọc Tư, họ sẽ khám phá ra rằng nếu dùng đúng chỗ, trong tay một tác
giả cẩn trọng, phương ngữ mộc mạc miền Nam, giọng điệu dân dã miền nam hoàn
toàn có khả năng cấu tạo một nhánh văn chương đặc biệt nhưng chuẩn mực không
kém những miền khác. Mỗi truyện viết của Nguyễn Ngọc Tư là một bữa ăn văn chương
thịnh soạn, dọn bày chu đáo, gồm toàn đặc sản miệt vườn, với những vật liệu hảo
hạng, tươi sống”[16;2]. Nhìn chung, Tiểu Hằng Ngôn quan tâm nhiều về mặt nghệ
thuật trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ góc độ ngôn ngữ học hơn, Tiểu
Hằng Ngôn đặc biệt chú ý đến phương ngữ miền Nam mộc mạc, dân dã trong truyện
ngắn Nguyễn Ngọc Tư. Song, Tiểu Hằng Ngôn không đi vào tìm hiểu từ xưng hô
trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư.
Về sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư có rất nhiều ý kiến về phía độc giả và các nhà
phê bình. Song đó chỉ là nhận xét, đánh giá trên phương diện tổng quát chưa đi sâu vào
nghiên cứu từng khía cạnh của từng vấn đề. Do vậy, vấn đề từ xưng hô trong truyện
ngắn của Nguyễn Ngọc Tư hầu như chưa có một bài viết hay công trình nào đề cập tới.
5. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài “Từ xưng hô trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư”.Trên
phương diện khảo sát và tìm hiểu chúng tôi sử dụng khá nhiều phương pháp nghiên
cứu về ngôn ngữ:
Trước hết chúng tôi sử dụng phương pháp hệ thống, tổng hợp nhằm tìm các tư
liệu có liên quan đến đề tài mà chúng tôi thực hiện và tổng hợp nó cho phù hợp với
mục đích sử dụng của mình.
Tiếp đến chúng tôi sử dụng biện pháp phân tích để phân tích tư liệu đã tổng hợp
nhằm làm sáng tỏa nội dung đề tài yêu cầu.
Trong quá trình phân tích, chúng tôi cũng vận dụng phương pháp thống kê và
phân loại để dễ dàng hơn trong việc phân tích tư liệu, ngữ liệu.
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp so sánh – đối chiếu giữa các tư
liệu, ngữ liệu nhằm tìm ra đặc điểm chung, khái quát và những điều cốt yếu nhất của
vấn đề mà chúng tôi tiến hành nghiên cứu.
Từ việc sử dụng các phương pháp nêu trên, tôi cũng đưa ra một vài ý kiến chủ
quan của mình nhằm làm cụ thể, sáng tỏ nội dung của bài nghiên cứu.
B. PHẦN NỘI DUNG
B. PHẦN NỘI DUNG
Chương I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỪ
VÀ TỪ XƯNG HÔ TRONG TIẾNG VIỆT
1.1. Khái niệm từ tiếng Việt
Từ tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định bất biến, mang những đặc điểm
ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với những
kiểu nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu.
sau nó từ là hành vị và lập thành một khối hoàn chỉnh”[17;24]
Dựa vào các quan hệ về từ đã khái quát lên phần nào về sự phức tạp tình hình
nghiên cứu về từ trong tiếng Việt. Do đứng từ góc độ đồng đại hay lịch đại khác nhau,
do cách hiểu về khái niệm hành vị trong ngôn ngữ học đại cương khác nhau, dẫn đến
cách chọn đơn vị cấu tạo từ tiếng Việt của các tác giả khác nhau.
1.1.2. Đặc điểm của từ tiếng Việt
Qua các quan điểm về từ cho thấy đặc điểm chung của từ là: đơn vị nhỏ nhất của
ngôn ngữ có nghĩa, mang tính cố định, sẵn có, bắt buộc, đơn vị nhỏ nhất tạo câu, được
thể hiện ở các đặc điểm:
Từ tiếng Việt có thể đơn tiết hay đa tiết
Ví dụ: bàn, ghế, sách vở, đi, đứng…
Quốc gia, sơn hà, dễ dàng, cà phê, a xít… là những tiếng được vay mượn từ tiếng
Hán. Trong nguyên ngữ, chúng được sử dụng như từ, nhưng khi được tiếp nhận vào
tiếng Việt, với tinh thần độc lập dân tộc, với sự sáng tạo của người Việt, với đơn vị cấu
tạo từ. Có nghĩa là chúng kết hợp với một yếu tố khác mới hoạt động được tự do trong
câu như quốc gia, sơn thủy…những yếu tố như dàng, dãi, phê, xit…cũng vậy. Như
vậy, bên cạnh những từ đơn âm tiết như nhà, xe, tập,… trong tiếng Việt cũng còn
những từ đa âm tiết như dễ dãi, dễ dàng, quốc gia, tổ quốc…
Từ tiếng Việt có thể có biến thể ngữ âm hoặc ngữ nghĩa nhưng không có biến thể
hình thái học. Trong ngôn ngữ tiếng Anh, từ có biến thể về mặt hình thái.
Ví dụ: to go có thể biến đổi thành goes, going, gone, went theo các quan hệ ngữ
pháp khác nhau trong câu. Nhưng trong tiếng Việt không có biến thể hình thái học.
Khi người miền Bắc nói trăng, trời uốn lưỡi, trong khi người miền Nam nói giăng,
giời, nhưng đó không phải là biến thể hình thái học mà chỉ là sự biến âm do thói quen
phát âm của địa phương.
Nghĩa ngữ pháp của từ không được biểu hiện trong nội bộ từ, mà được thể hiện
trong quan hệ giữa các từ trong câu. Trong các ngôn ngữ biến hình, nhìn vào hình thái
* Có thể cả hai yếu tố đều là thuần Việt. Ví dụ: đợi chờ, máu mủ, xinh đẹp,...
* Có thể có một yếu tố toàn dân và một yếu tố vốn là từ địa phương. Ví dụ: Chân
cẳng, bát đọi, chợ búa,...
+ Hoặc các thành tố gần nghĩa nhau. Thí dụ: thương nhớ, nhà cửa, áo quần, ăn
uống, đi đứng,...
+ Hoặc các thành tố trái nghĩa nhau. Thí dụ: đầu đuôi, sống chết, già trẻ, gần xa,
trong ngoài,...
- Xét về mặt nội dung, nói chung, từ ghép đẳng lập thường gợi lên những phạm vi
sự vật mang ý nghĩa phi cá thể hay tổng hợp (tức biểu thị sự vật, tính chất hay hành
động chung, mang tính chất khái quát).
- Tuy có quan hệ bình đẳng về mặt ngữ pháp, nhưng không đưa đến hệ quả là ý
nghĩa từ vựng của các thành tố trong từ đều có giá trị ngang nhau trong mọi trường
hợp. Như ta sẽ thấy, những trường hợp một trong hai thành tố phai mờ nghĩa xảy ra
phổ biến trong từ ghép đẳng lập.
- Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa và phạm vi biểu đạt của
từ ghép, có thể phân từ ghép đẳng lập thành ba loại nhỏ là từ ghép đẳng lập gộp nghĩa,
từ ghép đẳng lập đơn nghĩa và từ ghép đẳng lập hợp nghĩa.
+ Từ ghép đẳng lập gộp nghĩa: bao gồm những từ ghép thuộc mô hình ngữ nghĩa
AB = A+B. Tức là loại mà nghĩa của từng thành tố cùng nhau gộp lại để biểu thị ý
nghĩa khái quát chung của cả từ ghép, trong ý nghĩa chung đó có ý nghĩa riêng của
từng thành tố. Ví dụ, từ quần áo chỉ đồ mặc nói chung, trong đó có cả quần lẫn áo.
Một số ví dụ về từ ghép gộp nghĩa: điện nước, xăng dầu, tàu xe, chạy nhảy, học
tập, nghe nhìn, thu phát, ăn uống, tốt đẹp, may rủi, hèn mọn, thầy trò, vợ con...
+ Từ ghép đẳng lập đơn nghĩa: bao gồm từ ghép thuộc mô hình ngữ nghĩa AB = A
hoặc B. Tức là loại mà nghĩa khái quát chung của cả từ ghép tương ứng với ý nghĩa
của một thành tố có mặt trong từ. Ví dụ: núi non, binh lính, thay đổi, tìm kiếm,...
Do nghĩa của cả từ ghép tương đương với nghĩa của một thành tố nên thành tố
còn lại có xu hướng bị mờ nghĩa hoặc bị mất nghĩa. Yếu tố này sẽ làm chỗ dựa cho ý
* Không tạo nên những trật tự khó đọc. Ví dụ: sửa chữa dễ đọc hơn chữa sửa.
1.1.3.2.2. Từ ghép chính phụ:
Là những từ ghép mà ở đó có ít nhất một thành tố cấu tạo nằm ở vị trí phụ thuộc
vào một thành tố cấu tạo khác, tức trong kiểu từ ghép này thường có một yếu tố chính
và một yếu tố phụ về mặt ngữ pháp. Loại này có những đặc điểm sau:
- Xét về mặt ý nghĩa, nếu từ ghép đẳng lập có khuynh hướng gợi lên các sự vật,
tính chất có ý nghĩa khái quát, tổng hợp, thì kiểu cấu tạo từ này có khuynh hướng nêu
lên các sự vật theo mang ý nghĩa cụ thể.
- Trong từ ghép chính phụ, yếu tố chính thường giữ vai trò chỉ loại sự vật, đặc
trưng hoặc hoạt động lớn, yếu tố phụ thường được dùng để cụ thể hóa loại sự vật, hoạt
động hoặc đặc trưng đó.
- Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa, có thể chia từ ghép
chính phụ thành hai tiểu loại:
+ Từ ghép chính phụ dị biệt: là từ ghép trong đó yếu tố phụ có tác dụng phân chia
loại sự vật, hoạt động, đặc trưng lớn thành những loại sự vật, hoạt động, đặc trưng, cụ
thể. Vì vậy có thể nói tác dụng của yếu tố phụ ở hiện tượng này là tác dụng phân loại.
Thí dụ:
• Máy may, máy bay, máy bơm, máy nổ, máy tiện,...
• Làm việc, làm thợ, làm duyên, làm ruộng, làm dâu,...
• Vui tính, vui tai, vui mắt, vui miệng,...
Ở kiểu từ ghép này trật tự của các yếu tố trong từ ghép thuần Việt, hoặc Hán Việt, Việt hoá khác từ ghép Hán - Việt. Ở hai trường hợp đầu, yếu tố chính thường
đứng trước, ở trường hợp cuối, yếu tố phụ thường đứng trước. Ví dụ:
• Vùng biển, vùng trời, xe lửa, nhà thơ,...
• Hải phận, không phận, hỏa xa, thi sĩ,...
+ Từ ghép chính phụ sắc thái hóa: là những từ ghép trong đó thành tố phụ có tác
dụng bổ sung một sắc thái ý nghĩa nào đó khiến cho cả từ ghép này khác với thành tố
chính khi nó đứng một mình như một từ rời, hoặc khiến cho từ ghép sắc thái hóa này
khác với từ ghép sắc thái hóa khác về ý nghĩa. Thí dụ, so sánh xanh lè với xanh và
tít,...cổ hũ, mè nheo, ba láp, ba hoa, bồ hóng,...
1. Hiện tượng chuyển di kiểu cẩu tạo từ trong tiếng Việt:
Không kể từ đơn và từ ngẫu hợp, tiếng Việt có 3 kiểu cấu tạo từ cơ bản cùng với
các kiểu nhỏ là:
- Từ ghép đẳng lập: gộp nghĩa, hợp nghĩa, đơn nghĩa.
- Từ ghép chính phụ: dị biệt, sắc thái hoá.
- Từ láy: phỏng thanh, sắc thái hóa, cách điệu.
Xét các đơn vị trên trục đồng đại hay lịch đại, ở bình diện ngôn ngữ hay lời nói,
việc nhận thức về kiểu cấu tạo lớn nhỏ của chúng có thể di chuyển khá phức tạp, làm
cho con đường phân giới giữa chúng có thể bị nhòe đi. Trong những trường hợp đó,
nếu thiên về mặt này thì từ đang xét được xếp vào kiểu cấu tạo này, nhưng nếu thiên
về mặt khác thì nó thuộc kiểu cấu tạo khác.
Chẳng hạn từ chùa chiền, đất đai, hỏi han, xét về mặt lịch sử chúng là từ ghép
đẳng lập, tuy nhiên do sự tác động của phương thức cấu tạo từ và mô hình ngữ nghĩa
(nghĩa khái quát của A+B = A hoặc B) đã làm cho nghĩa của một trong hai yếu tố bị
mờ nghĩa. Ngoài ra do sự trùng hợp ngẫu nghiên về mặt ngữ âm đã làm cho người bản
ngữ hiện đại nhận diện chúng như là những từ láy. Xuất phát từ đặc điểm vừa nêu,
trong tiếng Việt ngày nay tồn tại nhiều từ có thể có hai hướng nhìn nhận như học hành,
hình hài, nhăn nheo, chăm chú, đền đài,...Như vậy, để biện luận kiểu cấu tạo của một
từ, cần dựa vào một tiêu chí rõ ràng, dứt khoát. Trong khi chờ đợi những phát hiện mới
mẻ hơn nữa của ngôn ngữ học lịch sử, ta có thể dựa vào tiêu chí đồng đại để xác định
kiểu cấu tạo của từ.
Việc nhận thức các tiểu loại trong từ ghép đẳng lập cũng không nhất thành bất
biến nếu xét từ ở bình diện ngôn ngữ hay lời nói. Trong sử dụng có thể xảy ra hiện
tượng chuyển di từ tiểu loại này sang tiểu loại khác đối với những từ cụ thể. Ví dụ:
- Cửa hàng ăn uống (gộp nghĩa); ở đây ăn uống khá thật (rất có thể là đơn nghĩa,
chỉ nói về ăn đối với các nhà ăn tập thể).
- Cơm nước đã sẵn sàng (gộp nghĩa); cơm nước chán quá.
+ Nếu giữa các thành tố trong từ phức có quan hệ với nhau về mặt ngữ nghĩa thì
đó là từ ghép. Ở từ ghép, ta lại tiếp tục dựa vào các mô hình ngữ nghĩa cụ thể của từng
từ để xác định các kiểu cấu tạo cụ thể. Nếu một tổ hợp tiếng gợi lên các sự vật mang ý
nghĩa khái quát, tổng loại thì đó là từ ghép đẳng lập. Còn nếu một tổ hợp nêu lên một
phạm vi sự vật mang ý nghĩa cụ thể thì đó là từ ghép chính- phụ.
+ Nếu giữa các thành tố không có quan hệ ngữ âm hoặc ngữ nghĩa thì đó là từ
ngẫu hợp.
1.2. TỪ XƯNG HÔ
1.2.1 Khái niệm về từ xưng hô
“Đại từ điển Tiếng Việt” định nghĩa từ xưng hô là: “Tự xưng mình và gọi người
khác trong giao tiếp hoặc trong thư từ” [28; 1880]. Còn “Từ điển tiếng việt 1997” thì
định nghĩa từ xưng hô là: “Tự xưng mình và gọi người khác là gì đó khi nói với nhau
để biểu thị tính chất của mối quan hệ với nhau”[20;1124]. Trong khi đó, “Từ điển
Tiếng Việt 1999 – 2000” cho rằng từ xưng hô là: “Biểu thị bằng lời bậc của mình
(xưng) và bậc của người khác (hô) trong trật tự xã hội, gia đình, họ hàng” [7; 95]
Trong “Ngữ pháp tiếng Việt” Diệp Quang Ban đã đồng nhất từ xưng hô với đại từ
xưng hô và ông cho rằng: “Đại từ xưng hô dùng thay thế và biểu thị các đối tượng
tham gia quá trình giao tiếp”[1;111].
Với các định nghĩa khác nhau, tác giả Đỗ Hữu Châu trong “Cơ sở ngữ dụng học” đã
viết “Xưng hô là hành vi chiếu vật, ở đây là quy chiếu các đối ngôn trong ngữ cảnh,
nó sẽ gắn diễn ngôn của người nói, người tiếp thoại. Xưng hô thể hiện vai giao
tiếp”[4;264]
Từ những định nghĩa, ta nhận thấy có sự phong phú trong cách định nghĩa khái
niệm xưng hô.
Để thực hiện một hành động xưng hô thì người nói phải có phương tiện, và
phương tiện ở đây chính là từ xưng hô. Khác với các định nghĩa khác, định nghĩa về từ
xưng hô đều chỉ xoay quanh ở những khía cạnh như: các nhân tố chi phối việc sử dụng