Trường đại học hàng hải Việt Nam
Khoa kinh tế vận tải biển
Bộ môn kinh tế ngoại thương
Bài tập lớn
Môn: kinh tế ngoại thương
Tên đề tài: hoạt động của các tập đoàn đa quốc gia và xuyên quốc gia tại Việt
Nam. ảnh hưởng của các tập đoàn này đến ngoại thương Việt Nam.
Giáo viên hướng dẫn: Đỗ Việt Thanh
Lớp: KTN51-ĐH1
Sinh viên thực hiện: Phạm Thị Oanh
Hải Phòng, năm 2012
1
Lời mở đầu:
Các công ty đa quốc gia và xuyên quốc gia đang ngày càng có vai trò quan trọng
trong việc phát triển nền kinh tế thế giới cũng như nền kinh tế mỗi quốc gia.Hoạt
động của các công ty này đã tác động không nhỏ tới tất các lĩnh vực kinh tế, chính
trị, văn hóa, xã hội ở nước sở tại. Để làm rõ hơn về ảnh hưởng của các công ty này
chúng ta có thể tìm hiều sự ảnh hưởng của các công ty đa quốc gia và xuyên quốc
gia tới nền kinh tế Việt Nam. Các công ty đó đã tác động gì vào nền kinh tế nước
ta, giải pháp để phát triển các tập đoàn này ở Việt Nam.
Mục tiêu
-Hiểu thế nào là công ty đa quốc gia
-Hoạt động của các công ty này ở Việt Nam
-Tác động của các công ty này tới nền kinh tế Việt Nam
- Giải pháp thu hút
-Tìm hiểu tác động của các tập đoàn này tới ngoại thương Việt Nam.
Đối tượng: công ty đa quốc gia và xuyên quốc gia.
Phương pháp: + phân tích.
+ dùng số liệu.
2
Chương 1: Nghiên cứu công ty đa quốc gia:
+ Sự nổi lên của các công ty độc quyền và sự vươn mạnh ra thế giới còn nhờ sự kết
hợp chặt chẽ giữa quyền lực kinh tế với quyền lực chính trị của nhà nước TBCN.
Sau Chiến tranh Thế giới II, sự phát triển của nền kinh tế thế giới, nhu cầu tăng
cường quan hệ kinh tế quốc tế và sự hợp tác chính trị giữa các TBCN đã tạo điều
kiện cho sự phát triển tiếp tục của các MNC, đặc biệt trong thế giới tư bản. Nhiều
MNC ra đời và phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ này.
+ Sự phát triển của MNC không chỉ ở sự nắm giữ các lĩnh vực kinh tế trọng yếu,
năng lực tài chính và khoa học kỹ thuật,… mà còn ở sự mở rộng hoạt động kinh
doanh ra khắp thế giới tư bản. Vai trò của MNC trong QHQT cũng vì thế mà đã
tăng lên qua sự đóng góp rất lớn vào việc tăng trưởng các dòng đầu tư nước ngoài,
thúc đẩy thương mại xuyên quốc gia và mở rộng phân công lao động quốc tế.
+ Đáng chú ý, sự thay đổi cách nhìn nhận về MNC ở các nước TBCN đã góp phần
đáng kể cho sự mở rộng hoạt động kinh doanh quốc tế của các MNC. MNC ngày
càng được coi là công cụ phát triển, là sự tạo công ăn việc làm, là nguồn thuế thu,
là sự khắc phục về vốn, kỹ thuật, công nghệ và kinh nghiệm làm ăn quốc tế. Bởi
thế, các nước đều mở cửa thị trường, khuyến khích FDI và thậm chí còn cạnh tranh
với nhau trong việc thu hút MNC. Nhờ đó, các MNC đã bành trướng khá nhanh và
mở rộng vai trò trong đời sống quốc tế.
+ Sau Chiến tranh Lạnh, MNC đã có sự phát triển chóng mặt với số lượng các
MNC tăng gần gấp đôi, từ khoảng 37.000 đầu thập kỷ 1990 lên gần 70.000 vào
4
năm 2004. Đồng thời, mức độ quốc tế hoá của chúng cũng phát triển chưa từng
thấy với số lượng chi nhánh nước ngoài tăng gần bốn lần, từ 170.000 đầu thập kỷ
1990 lên gần 690.000 vào năm 2004. Một điểm khác cũng đáng chú ý, MNC
không còn là độc quyền của các nước phát triển hàng đầu mà đã xuất hiện cả trong
các nền kinh tế đang phát triển hoặc mới nổi. Tuy nhiên, quy mô và vai trò của các
MNC này vẫn còn rất khiêm tốn. Các MNC cũng là người nắm giữ hầu hết vốn
đầu tư nước ngoài. Các MNC thực hiện hơn 80% thương mại thế giới. Các MNC
chi phối hầu hết các ngành công nghiệp và dịch vụ quan trọng của thế giới. Các
MNC cũng nắm giữ phần lớn công nghệ tiên tiến và quá trình chuyển giao công
doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong 500 tập đoàn lớn nhất được bình chọn hàng năm,
ở Việt Nam cho đến nay mới chỉ có 10% trong số đó có dự án m
Thứ nhất là lợi thế so sánh chủ yếu của Việt Nam hiện tại chủ yếu là lao
động rẻ nguyên liệu rẻ và thị trường rộng lớn những ngành sản suất tận dụng các
lợi thế này chủ yếu là những nghành sử dụng nhiều lao động và công nghệ chuyển
giao thường không cao. Trong điều kiện toàn cầu hoá khi lợi thế cạnh tranh trên thị
trường quốc tế đã chuyển trọng tâm sang cho các nghành đòi hỏi có hàm lượng cao
về công nghệ và tri thức thì theo lôgic của sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế toàn cầu
6
phần xâm nhập sâu vào thị trường Việt Nam chủ yếu thuộc về các doanh nghiệp
vừa và nhỏ.
Thứ hai như trên đã phân tích phần đầu tư và chu chuyển thương mại ở Việt
Nam được thực hiện chủ yếu bởi các MNC châu Á.
Thứ ba sự yếu kém về hạ tầng cơ sở về môi trường đầu tư về năng lực và
thẩm định dự án đầu tư của phía Việt Nam đang có nhiều bất cập so với yêu cầu
đòi hỏi từ các phía đối tác nước ngoài là các tập đoàn xuyên quốc gia lớn.
Thứ tư cho đến nay Việt Nam mới đang ở những bước đầu tiên của tiến trình
hội nhập quốc tế .
Thứ năm,Các MNC lớn nhất là các MNC đến từ châu Âu và châu Mỹ còn dè
dặt trong việc đầu tư vào VN.
2. Tác động của các công ty đa quốc gia đến nền kinh tế quốc dân VN:
a/Tác động tích cực đối với sự nghiệp cải cách và đối với nền kinh tế VN:
Hiện diện của MNC đồng nghĩa với việc cung cấp một nguồn vốn
quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hóa của đất nước.
Các MNC đã đóng góp phần tích cực trong việc thực hiện sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo yêu cầu CNH-HĐH đất nước.
Các nước MNC tham gia tích cực vào việc duy trì nhịp độ tăng
trưởng cao và ổn định cho nền kinh tế mở rộng xuất khẩu,tăng nguồn thu ngân
sách.
Giải quyết số lượng lớn lđ tham gia phát triển nguồn nhân lực cho đất nước.
8
tăng trưởng xuất khẩu để nhanh chóng hội nhập vào thị trường quốc tế. Các công
ty xuyên quốc gia, nhất là các công ty có công nghệ và tài chính hùng hậu hoàn
toàn có thể giúp Việt Nam thực hiện được những yêu cầu này. Các công ty xuyên
quốc gia đã chiếm một tỷ trọng cao trong nhiều ngành sản xuất công nghiệp, tạo ra
nhiều ngành công nghiệp mới cho nước ta đã góp phần tạo ra một bước ngoặt quan
trọng trong sự phát triển của các ngành kinh tế quốc dân. Cùng với sự phát triển
của các ngành công nghiệp, các ngành sản xuất và cung cấp dịch vụ cũng được
phát triển theo. Hiện nay đã có nhiều nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài ở Việt Nam
trên nhiều lĩnh vực như tài chính, bảo hiểm, viễn thông...Bên cạnh đó, sự hiện diện
của các công ty xuyên quốc gia còn làm cho các doanh nghiệp Việt Nam phải tự
thay đổi để thích ứng và cạnh tranh tốt. Có thể nói các công ty xuyên quốc gia đã
góp phần đưa Việt Nam tham gia vào sự phân công lao động quốc tế, đồng thời
giúp các doanh nghiệp Việt Nam thích ứng cao nhất với các đòi hỏi của nền kinh tế
thị trường mở cửa và hội nhập.
Thứ ba, các công ty xuyên quốc gia đã tham gia tích cực vào việc duy trì nhịp độ
tăng trưởng cao và ổn định cho nền kinh tế, mở rộng xuất khẩu, tăng nguồn thu
ngân sách. Các công ty xuyên quốc gia đều có tốc độ tăng trưởng cao kể cả thời kỳ
nền kinh tế Việt Nam phải chịu nhiều sự tác động nặng nề của cuộc khủng hoảng
tài chính - tiền tệ khu vực. Bên cạnh đó các công ty xuyên quốc gia cũng góp phần
tạo ra nhiều sản phẩm công nghệ và chất lượng cao, trong đó có nhiều hàng thay
thế nhập khẩu nên tiết kiệm ngoại tệ cho đất nước
Thứ tư, các công ty xuyên quốc gia đã tiến hành giải quyết số lượng lớn lao động,
tham gia phát triển nguồn nhân lực cho đất nước. Sự hoạt động của các công ty
xuyên quốc gia đã thu hút hàng ngàn lao động Việt Nam vào làm việc. Những
người lao động làm việc cho các công ty này thường được tuyển chọn kỹ lưỡng,
được bồi dưỡng tay nghề, công việc gắn với công nghệ mới, với tác phong công
nghiệp hiện đại và trình độ quản lý tiên tiến, do đó họ trở thành những người lao
động lành nghề, có kỹ năng và tính kỷ luật cao.
9
người đòi bảo hộ mạnh mẽ nhất để hướng tới độc quyền.
3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty xuyên
quốc gia tại Việt Nam.
3.1. Tạo lập đối tác đầu tư trong nước.
Đối tác đầu tư có năng lực và biết làm ăn với nước ngoài chính là một nhân tố hấp
dẫn các công ty xuyên quốc gia, giúp cho chúng ta có thể quan hệ bình đẳng với họ
và tăng thêm thế thương lượng của nước mình. Bên cạnh đó, khi đầu tư vào một
nước để hạn chế rủi ro, các nhà đầu tư thường tìm kiếm đối tác là các công dân
nước chủ nhà. Vì vậy việc tạo lập đối tác đầu tư trong nước là vô cùng quan trọng.
Để tạo lập các đối tác đầu tư trong nước chúng ta cần tiếp tục củng cố và phát triển
các doanh nghiệp, xây dựng các tập đoàn kinh tế mạnh. khuyến khích đầu tư phát
triển các thành phần kinh tế và nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp.
Cùng với sự nỗ lực của nhà nước, bản thân các doanh nghiệp cũng cần phải không
ngừng phấn đấu vươn lên, quyết tâm đổi mới tổ chức quản lý, tự chủ, năng động,
sáng tạo trong hoạt động sản xuất kinh doanh để trở thành các đối tác tương xứng,
liên doanh có hiệu quả với các công ty xuyên quốc gia.
3.2. Hoàn thiện, đổi mới cơ chế quản lý, tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực quản
lý vĩ mô của nhà nước.
Cơ chế quản lý và năng lực quản lý của Nhà nước giữ vai trò quyết định trong việc
tạo lập môi trường đầu tư. Cơ chế quản lý ngày càng hoàn thiện, được thực hiện
bởi một bộ máy quản lý mạnh sẽ tạo được sự tin tưởng của các công ty xuyên quốc
gia vào sự ổn định và cởi mở của môi trường đầu tư. Như vậy muốn thu hút được
các công ty xuyên quốc gia thì chúng ta phải quan tâm đến việc xây dựng và hoàn
11
thiện cơ chế quản lý và bộ máy quản lý của mình. Việc xây dựng bộ máy quản lý
đầu tư cần được thực hiện theo hướng:
Toàn bộ quá trình tiếp nhận cho đến việc cấp phép đầu tư phải thực hiện theo
nguyên tắc một cửa, một đầu mối.
Tăng cường kiểm tra, giám sát tiến độ thực hiện đầu tư để kịp thời hỗ trợ, điều
tạo điều kiện để tăng tính hấp dẫn đối với việc thu hút các công ty xuyên quốc gia.
Để phát triển nguồn nhân lực cho cả trước mắt và lâu dài, chúng ta cần quan tâm
đến một số mặt sau:
Cần có kế hoạch đào tạo và đào tạo lại đội ngũ lao động hiện có và phổ cập nghề
cho lực lượng lao động xã hội. Gắn đào tạo và dạy nghề với thực tế đời sống sản
xuất đảm bảo cho lực lượng lao động thích ứng được với yêu cầu của thị trường
lao động hiện nay.
Điều chỉnh cơ cấu đào tạo hợp lý giữa việc đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật, lao
động có tay nghề cao với đội ngũ cán bộ quản lý; giữa các ngành, các nghề..
Mở rộng và phát triển các trung tâm dạy nghề, phối hợp với các nhà đầu tư nước
ngoài đào tạo nghề cho người lao động.
Đa dạng hoá các hình thức đào tạo. Huy động mọi lực lượng, thành phần tham gia
vào lĩnh vực giáo dục đào tạo.
B) ảnh hưởng của các tập đoàn xuyên quốc gia và đa quốc gia đến hoạt động
ngoại thương Việt Nam.
1. Thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam, đặc biệt là xuất khẩu.
13