Phát triển công nghiệp phụ trợ cho ngành Da giày Việt Nam giai đoạn 2010 – 2015 - Pdf 31

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mục lục
Lời mở đầu ………………………………………………………………………. 2
Chương I: Giới thiệu ngành công nghiệp phụ trợ ..…………………………... 4
1.1. Vài nét về công nghiệp phụ trợ ………………………………………….. 4
1.1.1. Khái niệm công nghiệp phụ trợ …………………………………………… 4
1.1.2. Đặc điểm công nghiệp phụ trợ …………………………………………….. 5
1.2. Vai trò của ngành công nghiệp phụ trợ tới ngành công nghiệp sản xuất
chính ………………………………………………………………………. 6
1.3. Một số nhân tố tác động tới sự phát triển của ngành công nghiệp phụ
trợ …………………………………………………………………………. 7
Chương II: Thực trạng phát triển ngành CNPT da giày ở Việt Nam ……… 10
2.1. Ngành da giày Việt Nam ……………………………………………………. 10
2.1.1. Sự hình thành ngành da giày Việt Nam …………………………………… 10
2.1.2. Tiềm năng phát triển ngành da giày Việt Nam ……………………………. 11
2.2. Công nghiệp phụ trợ ngành da giày Việt Nam …………………………….. 13
2.2.1. Đánh giá chung công nghiệp phụ trợ Việt Nam …………………………... 13
2.2.2. Thực trạng công nghiệp phụ trợ da giày Việt Nam ………………………. 17
Chương III: Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ ngành da giày …....... 21
3.1. Về phía Nhà nước, Chính phủ ……………………………………………... 21
3.1.1. Tạo dựng môi trường đầu tư, khuyến khích phát triển sản xuất kinh
doanh …………………………………………………………………..... 21
3.1.2. Nâng cao hạ tầng cơ sở …………………………………………………… 22
3.1.3. Giải pháp về tài chính ……………………………………………….......... 22
3.2. Về phía các doanh nghiệp ………………………………………………….. 23
3.2.1. Giải pháp công nghệ ………………………………………………………. 23
3.2.2. Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực ………………………………………… 23
3.2.3. Giải pháp về liên kết doanh nghiệp ……………………………………..….24
Nguyễn Mạnh Thắng QTKD CN & XD 50c
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu

thành đề án này.
Kết cấu đề án: Gồm 3 nội dung chính
Nguyễn Mạnh Thắng QTKD CN & XD 50c
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chương I : Giới thiệu ngành công nghiệp phụ trợ.
Chương II : Thực trạng ngành công nghiệp phụ trợ da giày Việt Nam.
Chương III: Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ ngành da giày.
Nguyễn Mạnh Thắng QTKD CN & XD 50c
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ
1.1. Vài nét về công nghiệp phụ trợ
1.1.1. Khái niệm công nghiệp phụ trợ
“Công nghiệp phụ trợ - Supporting Industries“ thực ra là một khái niệm mới
xuất hiện ở Đông Á, cùng với trào lưu đầu tư trực tiếp (chủ yếu là hoạt động lắp ráp
– assembly plants) của Nhật vào các nước ASEAN (đặc biệt là Thailand, Malaysia và
Indonesia) giữa thập kỷ 80, và chỉ được dùng phổ biến (ở Đông Á) từ đầu thập kỷ 90.
Các chuyên gia Nhật Bản cho rằng, không có định nghĩa chính xác tuyệt đối
về ngành Công nghiệp phụ trợ. Một chiếc xe ô tô cấu thành từ 2 vạn linh kiện, còn
máy điện thoại di động cao cấp cấu thành bởi 1.500 linh kiện khác nhau. Ngoài ra,
cần phải có nhiều nguyên vật liệu khác như sắt, thép, sản phẩm hóa học… và không
thể thiếu nhóm các công ty kỹ thuật cơ bản như khuôn, đúc, nhiệt luyện, hàn… để
sản xuất linh kiện.
Ngắn ngọn hơn, các chuyên gia Hàn Quốc khái niệm, Công nghiệp phụ trợ là
ngành công nghiệp vật liệu và phụ tùng. “Đây là khái niệm rộng và chính xác”,
nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển tán thành. Song ông nói
thêm: “Chính xác hơn, đây là ngành công nghiệp sản xuất chi tiết, bộ phận để lắp ráp
một sản phẩm trong một ngành công nghiệp chế tạo”.
Theo cách tổng quát. Định nghĩa chính thức của quốc gia về công nghiệp phụ
trợ được Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (METI) đưa ra vào vào
năm 1993: Công nghiệp phụ trợ là các ngành công nghiệp cung cấp các yếu tố cần

ngành sử dụng tất cả các kỹ thuật gia công cơ bản (đúc, dập, gò, hàn, cắt gọt, khoan
đột, uốn kéo, cán ép, tạo hình, dệt lưới, in ấn bao bì...) gia công các loại vật liệu từ
các loại kim loại, tới cao su, nhựa, gốm, gỗ và các loại vật liệu tổng hợp khác, nhằm
chế tạo ra các linh kiện, phụ tùng phục vụ lắp ráp.
Công nghiệp phụ trợ ở đây được hiểu không bao hàm chế tạo vật liệu cơ bản
(như các loại sắt thép, nguyên vật liệu thô). Quan hệ giữa các ngành sản xuất linh
kiện bộ phận và các ngành lắp ráp có thể được mô tả như hình bên. Cùng một phần
chân núi (sản xuất phụ tùng linh kiện) muốn sản xuất sản phẩm gì, chỉ cần thay đổi
phần đỉnh (lắp ráp). Điều này cũng nói lên tầm quan trọng của CNPT: không có
chúng, công nghiệp lắp ráp sẽ không thể tồn tại.
Nguyễn Mạnh Thắng QTKD CN & XD 50c
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Kenichi Ohno - Giáo sư Viện Nghiên cứu chính sách quốc gia Nhật Bản
(2005) đưa ra mô hình chia sẻ của các ngành công nghiệp phụ trợ. Theo Ohno, thuật
ngữ các ngành công nghiệp phụ trợ liên quan nhiều hơn đến sản xuất theo kiểu lắp
ráp, theo đó các quy trình, các sản phẩm có thể chia sẻ các đầu vào chung. Các ngành
dệt may, giày dép, chế biến thực phẩm đòi hỏi những loại nguyên liệu đặc thù cho
từng ngành, do đó không nhấn mạnh nhiều đến phát triển công nghiệp phụ trợ trong
các chiến lược đầu tư vào thượng nguồn.
Đặt trong khung phân tích chuỗi giá trị, với mục tiêu xây dựng một chiến lược
quốc gia về phát triển công nghiệp, Kenichi Ohno tổng quát hóa thành các nhóm
ngành công nghiệp phụ trợ sẽ đóng vai trò đảm bảo quá trình công nghiệp hóa “lành
mạnh và trôi chảy”:
- Các ngành cứng như sản xuất nguyên vật liệu và linh kiện…
- Các ngành mềm như thiết kế sản phẩm, mua sắm, marketing quốc tế, viễn
thông, vận tải, năng lượng, cấp nước…
- Các ngành phục vụ nhu cầu nội địa như thép, hóa chất, giấy, ximăng…
Những ngành này, theo Ohno, cần phải đánh giá về chi phí và khả năng cạnh tranh
trước khi đi theo chiến lược tập trung nội lực phát triển các ngành công nghiệp chủ
đạo.

CNPT không phát triển sẽ làm cho môi trường đầu tư kém hấp dẫn. Không thu hút
được vốn đầu tư vào các ngành công nghiệp sản xuất chính.
Thứ ba, CNPT còn góp phần thúc đẩy việc chuyển giao công nghệ, áp dụng
các kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất. Bởi lẽ, dưới áp lực cạnh tranh, các công ty CNPT
phải tỏ ra có tiềm năng cung cấp linh kiện, phụ liệu với chất lượng và giá thành cạnh
tranh được với hàng nhập.
1.3. Một số nhân tố tác động tới sự phát triển của ngành công nghiệp phụ trợ
1.3.1. Đặc thù ngành
Sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp phụ trợ gắn chặt với sự phát
triển của các ngành mà nó hỗ trợ. Nói một cách cụ thể hơn, các doanh nghiệp hỗ trợ
có mối quan hệ tương hỗ, cộng sinh và phụ thuộc lẫn nhau với các doanh nghiệp chế
biến và lắp ráp lớn trong ngành mà chúng hỗ trợ. Các doanh nghiệp lớn này thường là
hạt nhân sự phát triển và các doanh nghiệp phụ trợ đóng vai trò là các vệ tinh phụ
cận. Cần xác định cụ thể các nghành công nghiệp mũi nhọn trước khi xây dựng công
nghiệp phụ trợ. Trên cơ sở chiến lược công nghiệp mũi nhọn, sẽ hình thành mạng
lưới các hoạt động của công nghiệp phụ trợ.
Nguyễn Mạnh Thắng QTKD CN & XD 50c
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Sự phát triển các ngành công nghiệp chiến lược sẽ tạo cơ sở cho sự phát triển
các ngành công nghiệp phụ trợ liên quan. Đồng thời phát tiển công nghiệp phụ trợ
cũng sẽ là lợi thế thu hút được các ngành công nghiệp sản xuất chính.
1.3.2. Chính sách của chính phủ
Phát triển công nghiệp phụ trợ trước hết phải được thúc đẩy từ Chính phủ.
Chính phủ cần xây dựng, hình thành các chính sách về công nghiệp phụ trợ, phải đảm
bảo khi áp dụng nó không được can thiệp qua sâu vào thị trường hay tạo sự bất bỉnh
đẳng trong cạnh tranh, đặc biệt là giữa khối doanh nghiệp nhà nước và tư nhân hay
với khối đầu tư nước ngoài. Đồng thời phải tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa
và nhỏ. Đây sẽ là nguồn bổ sung và thay thế quan trọng trong thị trường, đồng thời
tăng cường cạnh tranh, tạo ra hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp phụ trợ.
Hoàn thiện các dịch vụ tài chính dành cho công nghiệp hỗ trợ. Lúc này, vai trò

Xác định rõ được yếu tố cầu cung, sẽ giúp cho các doanh nghiệp hình thành
được phương hướng phát triển. Đầu tư đổi mới thiết bị nâng cao cao nâng suất; chất
lượng, hay mở rộng sản xuất để đáp ứng nhu cầu tăng cao, …
Phối hợp vớ các trung tâm nghiên cứu và đạo tạo, tạo điều kiện cho doanh
nghiệp tiếp cận được với những công nghệ mới có thể đưa vào thực tiễn sản xuất,
đồng thời phát triển. chuẩn bị sẵn nguồn nhân lực kế cận cho doanh nghiệp.
Nguyễn Mạnh Thắng QTKD CN & XD 50c
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ DA GIÀY
VIỆT NAM
2.1. Ngành gia dày Việt Nam
2.1.1. Sự hình thành ngành da giày Việt Nam
Năm 2010 ngành da giày Việt Nam tổ chức kỷ niệm 20 năm thành lập. Thực
chất việc sản xuất và kinh doanh giày dép tại Việt Nam đã có từ lâu đời nhưng phần
lớn là sản xuất bằng phương pháp thủ công với những cơ xưởng vài mươi nhân công.
Việc thành lập ngành da giày Việt Nam cách đây 20 năm là mốc đánh dấu sự
ra đời của ngành công nghiệp da giày sản xuất theo phương thức hiện đại trên dây
chuyền công nghiệp, từ đó hình thành những nhà máy có quy mô từ vài trăm đến
hàng chục ngàn lao động và tham gia vào việc xuất khẩu giày dép ra thế giới.
Ngành công nghiệp da giày Việt Nam đã phát triển rất nhanh và được xem là
một trong những ngành công nghiệp chính đưa nền kinh tế Việt Nam phát triển. Da
giày là một trong 3 ngành đem lại kim ngạch xuất khẩu lớn nhất hiện nay sau dầu thô
và dệt may, và Việt Nam đã đứng trong Top 5 các nước xuất khẩu giày dép lớn nhất
thế giới. Cho đến nay, toàn ngành đã có 812 DN, gồm 516 DN sản xuất giày dép, 263
DN sản xuất cặp - túi xách, 33 DN thuộc da, thu hút hơn 600.000 lao động.
Trước khi mở cửa nền kinh tế vào những năm 1990, ngành da giày Việt Nam
chủ yếu may mũi giày để xuất sang Liên bang Xô Viết nhưng chất lượng không cao
và chủng loại ít. Khi đó ngành da giày Việt Nam phải đối mặt với cuộc khủng hoảng
gay gắt do không có nhà nhập khẩu.
Vì vậy, vào giữa những năm 1990, các doanh nghiệp ngành da giày Việt Nam


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status