LỜI MỞ ĐẦU
1. Ý nghĩa và tính cấp thiết của đề tài:
Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, du lịch đang nhanh chóng trở thành
một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia trên thế giới, bao gồm cả
nước phát triển và đang phát triển.
Ngày nay, hoạt động kinh doanh du lịch đang ngày càng phát triển mạnh,
chiếm tỷ trọng lớn hơn trong thu nhập quốc dân của nhiều quốc gia trên thế
giới. Du lịch là chìa khoá mang lại sự thịnh vượng cho cả nước giàu và
nước nghèo, hiện chiếm tới 40 % thương mại dịch vụ toàn cầu. Theo số
liệu thống kê của Tổ chức du lịch thế giới, trong năm 2007, số người đi du
lịch trên thế giới là 889 triệu khách, đem lại nguồn thu tới 735 tỉ USD cho
ngành du lịch và giải quyết công ăn việc làm cho gần 300 triệu người. Tuy
nhiên, trong tương lai con số này sẽ không ngừng tăng lên. Dự tính đến
năm 2020, số người hàng năm đi du lịch quốc tế trên thế giới sẽ là 1,6 tỷ
người, gấp đôi so với năm 2005. Thu nhập xã hội ngày càng tăng cộng với
sự gia tăng dân số thế giới khiến cho nhu cầu tiêu dùng, vui chơi, giải trí,
du lịch của con người tăng theo và ngành du lịch hiện đang trở thành ngành
kinh tế quan trọng bậc nhất trên thế giới.
Các nước thuộc khu vực Đông Nam Á cũng không phải là một ngoại lệ khi
ngành du lịch ở các nước này đang ngày càng đóng một vai trò quan trọng
trong nền kinh tế đất nước. Tại Thái Lan, xứ sở “đất nước của nụ cười”,
ngành du lịch đã đóng góp 6.7% vào tổng GDP cả nước, giải quyết công ăn
việc làm cho 1,8 triệu người vào năm 2007. Ngành du lịch tại “Quốc đảo sư
tử” Singapore cũng không kém phần quan trọng khi đóng góp tới hơn 5%
tổng GDP cả nước, tạo ra khoảng hơn 150.000 việc làm mỗi năm
1
. Tận
dụng được những thế mạnh sẵn có về vị trí địa lý, cảnh quan thiên nhiên
1
Nhật Minh - “Năm chữ A của Du lịch Singapor” - Việt Báo - 17/12/2006
1
trong khu vực Đông Nam Á (Thái Lan, Singapore, Malaysia),
từ đó rút ra các bài học cho Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng phát triển ngành du lịch hiện tại của Việt
Nam
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hiệu quả ngành du
lịch của Việt Nam trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
a. Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài trước tiên đi sâu nghiên cứu thực trạng và kinh nghiệm phát triển du
lịch của một số nước Đông Nam Á điển hình như Thái Lan, Singapore và
Malaysia, sau đó đi vào phân tích thực trạng phát triển du lịch Việt Nam.
Từ đó rút ra bài học và đề xuất giải pháp phù hợp cho vấn đề phát triển du
lịch Việt Nam trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế.
b. Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào việc phân tích, tổng hợp thực
trạng và kinh nghiệm phát triển ngành du lịch tại ba nước điển hình của
khu vực Đông Nam Á là Thái Lan, Singapore, Malaysia xuyên suốt giai
đoạn 1995 – 2009. Từ đó có sự so sánh với thực trạng phát triển du lịch
Việt Nam và rút ra bài học phát triển cho du lịch Việt Nam giai đoạn 2010
– 2020. Trong khóa luận này, du lịch sẽ được xem xét dựa trên góc độ là
một ngành kinh tế tổng hợp cùng những tác động của nó đến nền kinh tế
đất nước.
4. Điểm mới của đề tài:
Đây là Khoá luận nghiên cứu chuyên sâu về mảng thực trạng phát triển du
lịch tại Việt Nam và các nước Đông Nam Á trong thời kì hội nhập kinh tế
quốc tế hiện nay.
3
Đề xuất được những giải pháp mang tính cấp bách và có ý nghĩa thực tiễn
để xúc tiến phát triển du lịch – ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam trong
xu thế toàn cầu hoá hiện nay.
bao gồm: Khách du lịch; Các doanh nghiệp cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho
khách du lịch; Chính quyền sở tại; Cộng đồng dân cư địa phương.
5
Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourism Organization - WTO) đã đưa ra
định nghĩa:
Du lịch được hiểu là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt
động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay
tập thể ở bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ với mục đích hoà bình.
Nơi họ đến không phải là nơi làm việc của họ.
Luật Du Lịch Việt Nam (được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 7, Khoá
XI năm 2005) đã nêu ra khái niệm về du lịch như sau:
Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài
nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm
hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.
Tóm lại, dù được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau nhưng dựa trên vai
trò của du lịch đối với người đi du lịch và đối với nền kinh tế của một đất
nước thì du lịch được hiểu trên hai góc độ:
Thứ nhất, khi xem xét ở góc độ cầu, góc độ người du lịch: Du lịch là một
dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú
với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử,
công trình văn hoá nghệ thuật.
Thứ hai, khi xem xét ở góc độ một ngành kinh tế: Du lịch là một ngành
kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt như nâng cao hiểu biết
về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đó góp phần làm
tăng thêm tình yêu đất nước. Đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với
dân tộc mình; Về măt kinh tế du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu
quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tại chỗ.
2. Các loại hình du lịch
Việc phân loại du lịch sẽ giúp xác định được những đóng góp về mặt kinh
tế cũng như hạn chế của từng loại hình du lịch, giúp các tổ chức du lịch có
7
hội họp, MICE, … Đối tượng khách du lịch này thường có khả năng chi
trả lớn.
2.1.5 Du lịch thể thao: Mục tiêu chính của loại hình du lịch này là hướng
vào các hoạt động thể thao ngoài trời, giúp con người phục hồi sức khoẻ,
nâng cao thể chất, thể hiện mình và đặc biệt là đáp ứng lòng ham mê thể
thao của du khách. Tuy nhiên, loại hình này lại có những yêu cầu khắt khe
như điểm du lịch phải có các điều kiện tự nhiên thích hợp, có cơ sở trang
thiết bị phù hợp với từng loại hình cụ thể. Đội ngũ nhân viên phải được
huấn luyện chuyên nghiệp để có thể hướng dẫn và giúp đỡ khách du lịch
chơi đúng cách.
Du lịch thể thao còn được phân nhỏ thành du lịch thể thao chủ động và du
lịch thể thao bị động. Du lịch thể thao chủ động là loại hình mà du khách
có thể tham gia trực tiếp các môn thể thao, bao gồm cả các môn thể thao
mạo hiểm như leo núi, lướt ván, trượt tuyết, săn bắn. Du lịch thể thao bị
động là các chuyến đi xem các cuộc thi đấu thể thao mà khách du lịch ưu
thích. Khi đó, chính du khách sẽ trở thành cổ động viên của cuộc các cuộc
thi đấu thế thao đó.
2.1.6 Du lịch nghỉ dưỡng: Một trong những chức năng xã hội của du lịch
là phục hồi sức khoẻ cộng đồng. Điểm đến của loại hình du lịch này thường
là những nơi có không khí trong lành, khí hậu dễ chịu, nhiều cảnh đẹp như
các bãi biển, vùng sông, suối, hồ, vùng núi hay vùng nông thôn lý tưởng.
Cho đến nay, đây vẫn là loại hình du lịch kinh doanh chủ yếu của Ngành du
lịch Việt Nam.
2.1.7 Du lịch lễ hội: Lễ hội ở đây có thể là lễ hội truyền thống, liên hoan
phim, âm nhạc hay festival chuyên đề, …Mục đích của du lịch lễ hội là tạo
cơ hội cho du khách tham gia vào một lễ hội được tổ chức tại một địa danh
nào đó, qua đó nâng cao hiểu biết về văn hoá, bản sắc và tăng cường mở
rộng quan hệ giao tiếp. Ngày nay, loại hình du lịch này đang có sức hấp
8
thực tế như vật lý, địa chất, lịch sử, khảo cổ, môi trường, sinh học, kinh
doanh, du lịch. Nhiều nhà cung ứng dịch vụ đã biết tận dụng thực tế này để
thiết kế các lớp học ngoài trời phù hợp với nội dung môn học. Thông
thường, các giáo viên phụ trách chuyên môn ở các trường sẽ trở thành
chính những nhà điều hành tour, các huớng dẫn viên du lịch.
2.1.11 Du lịch thăm thân:
Mục đích chính của du khách trong hình thức này là thăm viếng gia đình,
bà con, bạn bè, v.v. Tuy nhiên, trong quá trình đó, họ kết hợp tham quan,
tìm hiểu thêm về đặc trưng văn hoá, điều kiện tự nhiên của khu vực đó và
sự thay đổi theo thời gian mà họ muốn trải nghiệm.
Đối với các nước có nhiều ngoại kiều, loại hình du lịch này rất được coi
trọng vì nó đáp ứng nhu cầu giao tiếp, thăm hỏi người thân giữa các vùng
miền, các nước. Tổng cục Du lịch Việt Nam trong những năm gần đây đã
thống kê được rằng có khoảng 20 % số khách đến Việt nam với mục đích
thăm thân.
2.2Phân loại theo loại hình du lịch đặc thù khác:
Trong vài chục năm gần đây, song song với sự phát triển của kinh tế và
khoa học kỹ thuật đã xuất hiện một số hình thức du lịch đặc thù theo tính
chất của từng hoạt động du lịch. Các loại hình du lịch này ngày càng trở
nên phổ biến, bao gồm:
2.2.1 Du lịch sinh thái (Du lịch thiên nhiên):
Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch mới và đang có xu hướng phát
triển nhanh chóng ở nhiều quốc gia trên thế giới. Nó ngày càng thu hút sự
quan tâm rộng rãi của nhiều tần lớp trong xã hội, đặc biệt là các nhà nghiên
cứu, các nhà khoa học.
Mục đích của du lịch sinh thái là thoả mãn sự khát khao đến với thiên
nhiên, thưởng thức thiên nhiên của khách du lịch, đồng thời có tác dụng
10
bảo tồn và phát triển thiên nhiên, ngăn ngừa các tác động tiêu cực với sinh
thái văn hoá.
- Các trung tâm thông tin, cơ sở lưu trú, ăn uống sinh thái, sách báo,…
là các phương tiện hỗ trợ chính cho các chương trình hoạt động du
lịch sinh thái
- Thông qua hoạt động này, khách du lịch nâng cao được hiểu biết về
thiên nhiên, nhận thức về môi trường và bảo tồn thiên nhiên, tôn
trọng văn hoá bản địa
- Hoạt động này đem lại lợi ích về kinh tế cho xã hội và cộng đồng,
tạo việc làm cho người dân địa phương, góp phần xoá đói giảm
nghèo.
2.2.2 Du lịch hoài niệm: là loại hình du lịch mà du khách thực hiện các
chuyến đi hướng về tổ tiên, cội nguồn gia đình, dân tộc
2.2.3 Du lịch văn hoá: là loại hình du lịch mà du khách nhằm mục đích
tham quan các di tích lịch sử, các thành phố và các di sản văn hóa.
2.2.4 Du lịch di sản: Tham quan các di tích lịch sử, các chiến trường và
các công trình cổ xưa như các công trình xây dựng, kênh đào,..
2.2.5 Du lịch nông nghiệp: là loại hình du lịch đi đến các trang trại để
nhằm mục đích hỗ trợ kinh tế nông nghiệp địa phương
2.2.6 Du lịch vườn: là loại hình du lịch nhằm giúp khách thăm các vườn
thực vật tại các nơi nổi tiếng.
2.2.7 Du lịch hành hương: là loại hình du lịch hành hương đến các vùng
đất thánh cổ xưa như đến nhà thờ Mome (Ý), các đền thờ Phật Giáo tại Ấn
Độ, Trung Quốc, các đền thờ đạo Hindu tại Nepal. Ở Việt Nam cũng có
hành hương về Kiệu La Vang (Quảng Trị).
2.2.8 Du lịch sức khoẻ: Là loại hình mà khách du lịch muốn tìm đến địa
điểm du lịch vì mục đích giảm stress hoặc vì mục đích chữa bệnh.
12
2.2.8 Du lịch vũ trụ: là các cuộc hành trình vào vũ trụ với mục đích tham
quan chứ không vì mục đích nghiên cứu khoa học. Loại hình du lịch này
mới chỉ bắt đầu phát triển vào năm 2004 khi con tàu vũ trụ tư nhân
SpaceShipOne
- Du lịch thúc đẩy sự phát triển kinh tế và đa dạng hoá các ngành nghề kinh
tế của các quốc gia, các địa phương.
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp liên quan đến nhiều ngành nghề
trong nền kinh tế quốc dân. Sự phát triển của du lịch thường kéo theo sự
phát triển của một loạt các ngành khác như hàng không, vận tải, thương
mại, công nghiệp, ngân hàng, nông nghiệp, v.v.
Khi một khu vực nào đó trở thành một điểm du lịch thì nhu cầu về hàng
hoá, dịch vụ của khách du lịch tại điểm đó sẽ tăng lên đáng kể. Việc đòi hỏi
một số lượng lớn hàng hoá, dịch vụ như vậy sẽ kích thích mạnh mẽ sự phát
triển của các ngành kinh tế có liên quan, đặc biệt là công nghiệp, nông
nghiệp, chế biến. Hơn thế nữa, các háng hoá, vật tư cung cấp cho khách du
lịch thường có yêu cầu cao về chất lượng, đa dạng về kiểu dáng, chủng
loại. Điều này có nghĩa là chúng phải được sản xuất bằng công nghệ cao,
dây chuyền sản xuất hiện đại, tiên tiến. Do đó, để đáp ứng được yêu cầu
của thị trường, các chủ doanh nghiệp buộc phải đầu tư trang thiết bị hiện
đại, tuyển chọn các lao động có tay nghề cao.
- Du lịch cũng đóng góp đáng kể vào tốc độ tăng trưởng kinh tế của thế
giới và các quốc gia nhờ nguồn thu không ngừng tăng lên trong cơ cấu tổng
sản phẩm trong nước (GDP). Theo thống kê của Tổ chức Du lịch Thế giới,
năm 2004, thu nhập du lịch chiếm 10,9% GDP của thế giới. Trong đó,
khách du lịch quốc tế đạt 2,93 triệu người, tăng 20,5 %; khách du lịch nội
địa đạt 14,5 triệu lượt người, tăng 11,3 %; Thu nhập từ du lịch đạt 26,500
tỷ đồng, tăng 18,1 % so với năm trước, tương đương gần 2 tỷ USD. Con số
này còn lớn hơn cả lượng vốn ODA giải ngân và chỉ kém hơn lượng vốn
14
FDI thực hiện trong năm.. Dự kiến trong năm 2010, thu nhập du lịch sẽ đạt
khoảng 4-5 tỷ USD.
Bên cạnh đó, du lịch còn đóng góp vào nguồn thu chính phủ thông qua
nghĩa vụ thuế trực tiếp và gián tiếp. Thuế trực tiếp là thuế thu nhập của các
đơn vị kinh doanh du lịch và thuế thu nhập cá nhân. Thuế gián tiếp và thuế
phát triển nhiều hoạt động kinh tế khác như: sản xuất thực phẩm, vật liệu
xây dựng, lắp đặt hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống cấp điện, cấp nước.
John Tribe – Tác giả cuốn “The Economics of Leisure and Tourism” đã
nhận định rằng, cứ mỗi USD tiêu dùng của khách du lịch sẽ tạo ra khoảng
2-3 USD thu nhập gia tăng.
3.2 Vai trò của du lịch đối với xã hội:
- Du lịch tạo ra nhiều công ăn việc làm, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp.
Đây được xem là ngành thu hút một lực lượng lao động vô cùng đông đảo
tại nhiều nước trên thế giới. Theo thống kê của Tổ chức Du lịch thế giới
năm 2008, lực lượng lao động trực tiếp và gián tiếp phục vụ du lịch hiện
chiếm hơn 10,7 % tổng lao động trên toàn thế giới. Và cứ 1 việc làm trong
ngành du lịch sẽ tạo ra 1,3-3,3 việc làm ở các ngành khác. Tại Việt Nam,
du lịch cũng tạo thêm 15.000 – 20.000 việc làm trực tiếp mỗi năm trong
các cơ sở du lịch, nhà hàng, khách sạn.
- Phát triển du lịch góp phần giảm nghèo đói và hạn chế sự di dân từ nông
thôn ra thành thị. Tại các nơi có du lịch phát triển, người dân địa phương có
cơ hội tìm việc làm với thu nhập cao ngay trên chính quê hương của mình.
Đồng thời, họ còn có cơ hội phát triển dịch vụ và tiêu thụ các sản phẩm
nông nghiệp, thủ công mỹ nghệ với số lượng nhiều và giáo cao hơn hẳn.
Bên cạnh đó, dân cư tại các điểm du lịch cũng có cơ hội được đào tạo nghề,
được hưởng thụ hạ tầng kỹ thuật tốt, góp phần nâng cao thu nhập và cải
thiện đời sống.
- Du lịch nội địa đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi giải trí, giao lưu, tiếp cận cuộc
sống hiện đại và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân địa phương.
Ở chừng mực nào đó, du lịch có vai trò hạn chế bệnh tật, phục hồi sức
16
khỏe, tăng tuổi thọ và khả năng lao động của con người. Công trình nghiên
cứu về y sinh học của Crivosev, Dorin 1981 đã chỉ ra rằng bệnh tật của dân
cư thế giới giảm trung bình 30% nhờ chế độ nghỉ ngơi và du lịch tối ưu,
trong đó bệnh tim mạch giảm 50%, bệnh thần kinh giảm 30 %, v.v.
hơn, hiệu quả hơn các không gian thiên nhiên như hang động, núi đá, sông
suối, v.v. Đồng thời, nó thúc đẩy việc nghiên cứu, phát hiện và công nhận
thêm nhiều vườn quốc gia, khu bảo tồn, tăng cường đầu tư xây dựng nhiều
khu vui chơi, giải trí.
- Du lịch làm tăng cả chất và lượng các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Để
thu hút được khách du lịch, các nhà đầu tư phải không ngừng làm giàu các
nguồn tài nguyên thiên nhiên, cảnh quan đặc sắc và đặc hữu. Họ làm giàu
tự nhiên thông qua các dự án trồng rừng, mở rộng rừng, tái sinh rừng cạn
kiệt. Đầu tư du lịch của họ cũng góp phần làm đa dạng sinh học thông qua
việc bổ sung các loài động thực vật mới tại những khu du lịch trọng điểm.
- Du lịch làm tăng những giá trị tài nguyên và môi trường. Những cảnh
quan bình thường như miệt vườn, các tràn chim, rặng san hô vốn không có
gì là mới lạ đối với người dân địa phương nhưng lại là điểm đến lý tưởng
của các du khách.
4. Các yếu tố ảnh hưởng đến du lịch:
4.1 Tài nguyên du lịch:
a. Tài nguyên du lịch thiên nhiên
Nếu khách du lịch là chủ thể của du lịch thì tài nguyên du lịch là khách thể
của du lịch, là cơ sở quan trọng để phát triển du lịch.
Tài nguyên du lịch được hiểu là tất cả các yếu tố thiên nhiên, nhân văn, xã
hội và sự kiện có thể thu hút khách du lịch và được ngành du lịch khai thác
18
nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách, mang lại lợi ích kinh tế, xã hội cho
quốc gia, địa phương.
Luật Du lịch Việt Nam (2005) đã định nghĩa: Tài nguyên du lịch là cảnh
quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao
động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể sử dụng
nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản hình thành các khu du lịch,
điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.
Tài nguyên du lịch chia làm hai loại: Tài nguyên du lịch thiên nhiên và tài
khoảng 22 vườn quốc gia cùng hàng trăm khu bảo tồn khác nhau, Việt
Nam đang hứa hẹn một bước tiến mạnh trong loại hình du lịch sinh thái, du
lịch nghiên cứu.
Các nguồn tài nguyên nước mặt như ao, hồ, sông, suối, đầm phá, biển, …
không chỉ giúp điều hòa khí hậu, phát triển hệ thống giao thông vận tải mà
còn tạo điều kiện để phát triển nhiều loại hình du lịch như du lịch nghỉ
dưỡng, du lịch biển, du lịch thể thao. Với chiều dài bờ biển hơn 3000 km,
Việt Nam đang có thế mạnh rất lớn trong việc phát triển loại hình du lịch
biển, đáp ứng phần lớn nhu cầu của khách nội địa trong những ngày hè
nóng bức. Hệ thống nước khoáng cũng là tiền đề không thể thiếu được đối
với việc phát triển du lịch chữa bệnh và hồi phục sức khỏe. Việt Nam cũng
là quốc gia có nguồn nước khoáng phong phú trên thế giới và phân bổ tại
nhiều địa phương như Khu nghỉ dưỡng Kim Bôi (Hòa Bình), Tản Dà (Hà
Tây), Sơn Kim (Hà Tĩnh), v.v.
b. Tài nguyên nhân văn
Tài nguyên du lịch nhân văn là những của cải vật chất và tinh thần do con
người tạo ra từ xa xưa đến nay có thể thu hút khách du lịch đến thưởng
thức. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên bao gồm: Các di tích lịch sử, di sản
20
văn hóa; các công trình kiến trúc; các nhà bảo tang, vườn tượng; các lễ hội;
các làng nghề truyền thống; ẩm thực; tôn giáo; âm nhạc, hội họa.
Trong đó, tiêu biểu là các di tích lịch sử - văn hóa là các công trình xây
dựng có các di vật, cổ vật, bảo vật của quốc gia có giá trị lịch sử. Các di
tích này được chia theo ba cấp độ: Di tích cấp quốc gia, di tích cấp tỉnh và
di sản văn hóa thế giới (được UNESCO công nhận). Tính đến năm 2005,
Việt Nam đã có 7 di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận.
Các lễ hội truyền thống có tính hấp dẫn cao đối với khách du lịch. Bản thân
nó là hình thức sinh hoạt văn hóa đặc sắc phản ánh đời sống tâm linh của
mỗi dân tộc hay hình thức sinh hoạt tập thể của người dân sau những ngày
mùa hay là một sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước. Bất cứ lễ hội nào
càng rẻ, tăng tốc độ vận chuyển còn tiết kiệm được thời gian đi lại, kéo dài
thời gian ở lại nơi du lịch và đi tận đến cả các nơi xa xôi.
4.4 Điều kiện kinh tế:
Tiềm lực kinh tế của một quốc gia là một trong những yếu tố quyết định sự
phát triển của khu vực. Khả năng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng du lịch, đa
dạng hóa các sản phẩm du lịch, quảng bá du lịch, bảo tồn các tài nguyên, di
tích văn hóa hay đầu tư phát triển nguồn nhân lực du lịch đều phụ thuộc
vào quy mô tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia. Thực tế, các nước có nền
kinh tế phát triển cao trên thế giới đều là những nước có ngành du lịch phát
triển lâu đời như Anh, Pháp, Mỹ. Khách du lịch cứ ùn ùn đổ về các nước
này, đơn giản bởi vì họ được hưởng các tiện nghi, các dịch vụ (như ngân
hàng, khách sạn, nhà hàng, hệ thống bán lẻ rộng khắp, đạt chuẩn mực quốc
tế, nhân viên ngành du lịch được đào tạo tốt, có tính chuyên nghiệp cao)
đáng với đồng tiền họ bỏ ra. Sự phát triển của các ngành công nghiệp, nông
nghiệp và thương mại ở nước này đã tạo đà cho ngành du lịch phát triển
thuận lợi. Đây cũng chính là những mặt hạn chế và khó khăn khiến các
22
ngành du lịch ở các nước đang phát triển kém sức cạnh tranh trên thị
trường quốc tế.
4.5 Điều kiện về an toàn đối với du khách.
Tình hình chính trị ổn định là một trong những yếu tố rất quan trọng để
phát triển du lịch tại mỗi quốc gia. Trước khi đi du khách, du khách thường
có quá trình tìm hiểu trước điểm du lịch mà mình sẽ đến. Họ có xu hướng
đến những nơi đảm bảo an toàn nhất cho họ, ít đến những nơi có chiến
tranh, bạo loạn, khủng bố, bắt cóc hay có dịch bệnh, thiên tai.
Hình thức du lịch bình đẳng (Tourism equitable) hay còn gọi là du lịch sự
kiện đặc biệt (Tourism Event) chỉ thu hút một lượng khách đặc biệt. Mục
đích của du khách hình thức này là vừa thưởng ngoạn, vừa chia sẻ và giúp
đỡ khắc phục những hậu quả của sự kiện đó.
4.6 Một số điều kiện khác
nhiệt đới gió mùa. Đặc trưng gió mùa vừa đem lại thuận lợi cho con người
đồng thời cũng tạo nên sự thất thường cho khí hậu trong vùng với biên độ
không lớn lắm. Mưa nhiệt đới trên địa bàn tự nhiên của khu vực tạo ra
những vùng nhỏ, xen kẽ giữa rừng nhiệt đới, đồi núi, bờ biển và đồng bằng,
tạo nên những cảnh quan đa dạng. Thực tế đó khiến cho Đông Nam Á thiếu
những không gian rộng cho sự phát triển kinh tế - xã hội trên quy mô lớn,
thiếu những điều kiện tự nhiên cho sự phát triển những kĩ thuật tinh tế,
phức tạp. Ở đây không có những đồng bằng rộng lớn như vùng châu thổ
24
sông Ấn, sông Hằng hay Hoàng Hà;cũng không có những đồng cỏ mênh
mông như vùng thảo nguyên. Không gian sinh tồn ở đây tuy nhỏ hẹp nhưng
lại rất phong phú, đa dạng. Đây là điều kiện thuận lợi để cho khu vực Đông
Nam Á phát triển mạnh ngành du lịch.
Về kinh tế, các nước Đông Nam Á đang bước vào thời kì hội nhập kinh tế
quốc tế năng động cùng khu vực và thế giới. Trong những thập kỷ qua, đã
không ít các tổ chức hợp tác kinh tế khu vực của các nước trên thế giới
được thành lập nhưng ASEAN được coi là một trong vài trường hợp thành
công nhất. Được thành lập từ năm 1967 tại Bangkok, trải qua quá trình
trưởng thành và phát triển hiện Hiệp hội các nước Đông Nam Á – ASEAN
đã có 10 thành viên gồm Campuchia, Brunei, Indonesia, Lào, Malaysia,
Myanmar, Phillipines, Thái Lan, Việt Nam và Singapore. Tuy nhiên, do
chịu tác động lớn từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới bắt đầu từ giữa năm
2008, nền kinh tế của các nước ASEAN cũng có phần bị sụt giảm. Năm
2009, khi tổng trị giá thương mại hàng hoá của thế giới giảm 24% thì tổng
kim ngạch hàng hóa buôn bán hai chiều của các nước ASEAN cũng chỉ đạt
gần 1539 tỷ USD, giảm 20% so với kết quả thực hiện của năm 2008, thấp
hơn cả mức giảm trị giá thương mại hàng hoá bình quân của thế giới. Tổng
kim ngạch xuất khẩu của tất cả các nước ASEAN trong năm 2009 là 814
tỷ USD (giảm 18 % so với kết quả thực hiện của 1 năm trước đó), tổng kim
ngạch nhập khẩu hàng hoá đạt 725 tỷ USD (giảm 23 % so với kết quả thực