Xây dựng thương hiệu cho ngành du lịch Việt Nam - Pdf 14

Quản trị kinh doanh tổng hợp
MỤC LỤC
MỤC LỤC........................................................................................................1
CHƯƠNG I: LỜI MỞ ĐẦU...........................................................................3
CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN...................................................................4
I. XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU CHO DU LỊCH VIỆT NAM LÀ TẤT
YẾU CỦA THỊ TRƯỜNG..........................................................................4
1. Sự hình thành của thương hiệu..............................................................4
2. Khái niệm thương hiệu..........................................................................6
II. DU LỊCH VÀ CÁC LOẠI HÌNH DU LỊCH........................................7
1. Khái niệm du lịch..................................................................................7
2. Các loại hình du lịch.............................................................................8
III. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ KINH NGHIỆM XÂY DỰNG
THƯƠNG HIỆU DU LỊCH CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA......................10
1. Yếu tố ảnh hưởng tới du lịch...............................................................10
2. Kinh nghiệm xây dựng thương hiệu du lịch của một số quốc gia trên
thế giới.....................................................................................................11
IV. VAI TRÒ CỦA NGÀNH DU LỊCH ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN
QUỐC GIA................................................................................................12
1. Vị trí, vai trò của ngành du lịch và hệ thống các ngành của nền kinh tế
quốc dân..................................................................................................12
2. Vai trò của việc phát triển thương hiệu ngành du lịch đối với sự phát
triển kinh tế của đất nước........................................................................13
CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG VIỆC XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU DU
LỊCH VIỆT NAM.........................................................................................15
1. Thành tựu đạt được...............................................................................15
2. Hạn chế của ngành du lịch Việt Nam..................................................19
3. Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế..................................21
CHƯƠNG IV: NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN ĐỂ XÂY DỰNG
THƯƠNG HIỆU NGÀNH DU LỊCH NƯỚC TA HIỆN NAY.................24
I. MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI NƯỚC TA......................24

Việt Nam trên sân chơi WTO.
Điểm yếu lâu nay của ngành du lịch Việt Nam là chưa xây dựng được
cho mình một thương hiệu để tự giới thiệu ra bên ngoài. Quá trình xây dựng
thương hiệu du lịch cho Việt Nam hiện vẫn đang trong quá trình “tiềm ẩn”,
còn gặp nhiều khó khăn và trở ngại, nhưng tôi tin rằng, với sức trẻ và lòng
nhiệt huyết, con người Việt Nam đủ khả năng để xây dựng một thương hiệu
cho du lịch Việt Nam. Đề án em chọn lần này mang tên: “Xây dựng thương
hiệu cho ngành du lịch Việt Nam” em xin nêu lên và đóng góp 1 số ý kiến
của bản thân về vấn đề thương hiệu, về quá trình Việt Nam xây dựng thương
hiệu cho du lịch nước nhà, qua đó cũng nói rõ khó khăn và trở ngại gặp phải.
Do còn hạn chế về kiến thức và tài liệu tham khảo nên chắc chắn còn gặp
nhiều thiếu sót, hạn chế. Em mong qua bài viết này được sự đóng góp ý kiến
cũng như chỉ bảo của thầy cô để có thể nâng cao chất lượng bài viết trong các
bài viết sau. Cuối cùng em xin trân thành cám ơn thầy : PGS.TS Trương Đoàn
Thể đã giúp đỡ em trong bài viết này, đồng thời em xin cảm ơn các thầy cô
giáo khác đã góp ý cho bài viết của em trong quá trình giảng dạy.
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn các thầy cô!
SV: Nguyễn Thị Hồng Thuý 3
Đề án môn học chuyên ngành - Quản trị kinh doanh tổng hợp
CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN
I. XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU CHO DU LỊCH VIỆT NAM LÀ TẤT
YẾU CỦA THỊ TRƯỜNG.
1. Sự hình thành của thương hiệu
a. Thương hiệu có từ khi nào?
Thuật ngữ nhãn hiệu “brand” xuất phát từ người Aixolen cổ đại với
nghĩa là đốt cháy “to burn”. Hiện nay, nhã hiệu được phát triển đáng kể thông
qua một số phương tiện. thứ nhất, hệ thống pháp lý công nhân giá trị nhãn
hiệu và bảo hộ như là một tài sản cho cả nhà sản xuất lẫn người tiêu dùng.
Thứ hai, khái niệm nhãn hiệu hàng hóa được phát triển thành công ở các loại
dịch vụ. Thứ ba, đây chính là sự thay đổi quan trọng nhất, về phương diện

là những thương hiệu ưu tú của nền kinh tế đất nước. Các thời Lý - Trần - Lê
(thế kỷ XI - XVIII) kinh tế Đại Việt có nhiều khởi sắc, các thư tịch cũ như Dư
địa chí của Nguyễn Trãi, Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch triều hiến chương loại
chí của Phan Huy Chú... cung cấp cho chúng ta một bảng thống kê thương
hiệu - đặc sản - làng nghề nổi tiếng, những gạch Bát Tràng, gốm Chu Đậu,
khắc ván in Liễn Tràng, giấy Cót, nón Ma La... là những bằng chứng lịch sử
thương hiệu lớn. Gần đây trong khi khai quật khảo cổ học ở 18 đường Hoàng
Diệu đã tìm thấy nhiều thương hiệu thời Lý - Trần, nhất là những hàng vật
liệu xây dựng, như gạch ngói có các tên gọi: Vĩnh Ninh tràng, Hổ oai quân,
Trung oai quân... (tức là gạch sản xuất từ công trường Vĩnh Ninh và các đơn
vị quân lính Hổ oai và Trung oai...).
Ở Việt nam trước đây, hai khái niệm “nhãn hiệu” và “thương hiệu” đã
từng được phân biệt khá rõ rang ở cả khía cạnh pháp lý lẫn ngôn ngữ học Việt
Nam. Luật số 13/57 ngày 01/8/1957 ở Miền Nam đã quy định về “ nhãn hiệu
sản xuất” dung cho các sản phẩm kỹ nghệ canh nông và “ thương hiệu” dung
cho các thương phẩm. Trong hoạt động kinh doanh, thuật ngữ thương hiệu đó
không chỉ ứng với hoạt động của các thương nhân mà còn bao hàm cả các loại
hình hoạt động dịch vụ vủa mọi loại hiệu, tiệm, ngân hàng, ngành…và dần
dần mở rộng thành tên của doanh nghiệp nói chung. Cụ thể, vào giai đoạn đó,
theo Từ điển Việt Nam ban tụ Thư Khai Trí, “thương hiệu” là “tên hiệu của
nhà buôn” và nhãn hiệu là”giấy dán ngoài để làm hiệu”. Trong từ điển Việt-
Anh, “thương hiệu” được dịch là”sign board” và “nhãn hiệu” được dịch là
“trademark, brand”.
Tại Việt Nam, từ khi bắt đầu giai đoạn đổi mới cơ chế quản lý theo
hướng kinh tế thị trường, thuật ngữ “ thương hiệu” được sử dụng trở lại trong
truyền thống với hàm nghĩa rất rộng và không thống nhất, có thể bao hàm cả
SV: Nguyễn Thị Hồng Thuý 5
Đề án môn học chuyên ngành - Quản trị kinh doanh tổng hợp
tên doanh nghiệp, chỉ dẫn địa lý,nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hàng hóa…Trên
các phương tiện thông tin đại chúng, “thương hiệu” thường được dùng với ý

1. Khái niệm du lịch
Ngày nay , du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến
không chỉ ở các nước phát tiển mà còn ở các nước đang phát triển, trong đó
có Việt Nam. Tuy nhiên cho đến nay, không chỉ ở nước ta, nhận thức về nôi
dung du lịch vẫn chưa thống nhất. do hoàn cảnh khác nhau, dưới mỗi góc độ
nghiên cứu khác nhau nên mỗi người có một cách hiểu riêng về du lịch.
Dưới con mắt của Guer Freuler thì “du lịch với ý nghĩa hiện đại của từ
này là một hiện tượng thời đạic ủa chúng ta, dựa trên sự tăng trưởng về nhu
cầu khôi phục sức khỏe và sựu thay đổi của môi trường xung quanh, dựa vào
sự phát sinh, phát triển tình cảm đối với vẻ đẹp thiên nhiên”.
Kaspar cho rằng du lịch không chỉ là hiện tượng di chuyển của cư dân
mà là tất cả những gì liên quan tới sự di chuyển đó. Chúng ta cũng thấy ý
tưởng này trong quan điểm của Hienziker và Kraff: “du lịch là tổng hợp các
mối quan hệ và hiện tượng bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú tạm
thời của các các nhân tại những nơi không phải là nơi ở và nơi làm việc
thường xuyên của họ”(về sau định nghĩa này được hiệp hội các chuyên gia
khoa học về du lịch thừa nhận).
Theo các nhà kinh tế, du lịch không chỉ là một hiện tượng xã hội đơn
thuần mà nó phải gắn chặt với hoạt động kinh tế. Nhà kinh tế học Picara-
Edmod đưa ra định nghĩa: “du lịch là việc tổng hòa việc tổ chức và chức năng
của nó không chỉ về phương diện khách vãng lai mà chính về phương diện giá
trị do khách chỉ ra và của những khách vãng lai mang đến một túi tiền đầy,
tiêu dùng trực tiếp hoặc gián tiếp cho các chi phí của họ nhằm thỏa mãn nhu
cầu hiểu biết và giải trí”.
Khác với các quan điểm trên, các học giả biên soạn bách khoa toàn thư
Việt Nam đã tách 2 nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng biệt.
theo các chuyen gia này, nghĩa thứ nhất là “một dạng nghỉ dưỡng sức tham
quan tích cựccủa con người ngoài cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem
danh lam thắng cảnh...”. Theo định nghĩa thứ hai, du lịch được coi là “ một
ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt nâng cao hieur biết

 Du lịch lễ hội
 Du lịch tôn giáo
 Du lịch nghiên cứu
 Du lịch hội nghị
SV: Nguyễn Thị Hồng Thuý 8
Đề án môn học chuyên ngành - Quản trị kinh doanh tổng hợp
 Du lịch thể thao kết hợp
 Du lịch chữa bệnh
 Du lịch thăm thân
 Du lịch kinh doanh
• Phân theo lãnh thổ hoạt động
 Du lịch quốc tế
 Du lịch nội địa
 Du lịch quốc gia
• Phân theo đặc điểm địa lý cảu điểm du lịch
 Du lịch miền biển
 Du lịch núi
 Du lịch đô thị
 Du lịch thôn quê
• Phân theo phương tiện giao thông
 Du lịch xe đạp
 Du lịch ô tô
 Du lịch bằng tàu hỏa
 Du lịch bằng tàu thủy
 Du lịch máy bay
• Phân theo loại hình cư trú
 Khách sạn
 Nhà trọ thanh niên
 Camping
 Bungaloue

 Sự tăng cầu của các hãng về du lịch.
 Khả năng cung ứng của các nhà cung cấp du lịch
 Giá cả và chất lượng dịch vụ du lịch
SV: Nguyễn Thị Hồng Thuý 10
Đề án môn học chuyên ngành - Quản trị kinh doanh tổng hợp
 Việc xóa bỏ các hàng rào chắn, các quy định về việc hạn chế xâm nhập
và việc cung cấp dịch vụ du lịch ở nước ngoài.
 Sự can thiệp của chính phủ.
2. Kinh nghiệm xây dựng thương hiệu du lịch của một số quốc gia trên
thế giới
Du lịch là một “ngành công nghiệp không khói”, nó có định hướng tài
nguyên rõ rệt, điều này có nghĩa là tài nguyên và môi trường là nhân tố cơ bản
để tạo ra sản phẩm du lịch .
Trung Quốc là một trong những nước đã đạt được thành tựu lớn trong
việc bảo vệ môi trường để phát triển du lịch. Từ năm 1997, chính phủ Trung
Quốc đã 7 năm liền tổ chức toạ đàm trong thời gian họp quốc hội để nghe báo
cáo về môi trường. Qua đó chính phủ Trung Quốc có những biện pháp cụ thể
để cải tạo và bảo vệ môi trường. Các cơ chế chính sách về bảo vệ môi trường
được thiết lập, tăng vốn đầu tư bảo vệ môi trường, khuyến khích mọi người
dân bảo vệ môi trường. Với sự cố gắng của chính phủ, của toàn dân Trung
Quốc nạn ô nhiễm môi trường đã được kiểm soát toạ thuận lợi cho du lịch
phát triển một cách bền vững. Chính phủ Trung Quốc không ngừng tăng vốn
đầu tư vào bảo vệ môi trường, từ năm 1996 đến năm 2000, Trung Quốc đã chi
360 tỉ nhân dân tệ. Nhờ đó Trung Quốc đã xây dựng và bảo vệ hơn 1227 khu
bảo tồn thiên nhiên, hàng triệu hecta rừng với nhiều chủng loại động thực vật
phong phú rất phù hợp cho phát triển du lịch sinh thái- một loại hình du lịch
có xu thế tăng trong thời gian gần đây. Để bảo vệ sự phong phú của sinh vật,
Trung Quốc là một trong những nước tham gia ký kết rất sớm “công ước tính
đa dạng sinh vật”. Đồng thời chính phủ Trung Quốc tập trung sửa đổi và đưa
ra luật mở để nâng cao hiệu quả trong việc bảo vệ môi trường. Tính đến nay,

khách du lịch gần xa.
IV. VAI TRÒ CỦA NGÀNH DU LỊCH ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN
QUỐC GIA
1. Vị trí, vai trò của ngành du lịch và hệ thống các ngành của nền kinh tế
quốc dân
Xu hướng mang tính quy luật của cơ cấu kinh tế chỉ ra rằng tỉ trọng nông
nghiệp từ chiếm vị thế quan trọng đã dần nhường cho công nghiệp và cuối
cùng vai trò của ngành dịch vụ sẽ chiếm vai trò thống soái. Hiện nay ở các
nước có thu nhập thấp, các nước Nam Á, châu Phi, nông nghiệp vẫn còn
chiếm trên 30% GNP, công nghiệp khoảng 35%. Trong khi đó các nước phát
triển như Hoa kỳ, Nhật Bản, Italia...trên 70% GNP do nhóm ngành dịch vụ
đem lại, nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 3-5% tổng sản phẩm quốc dân.
Vai trò của ngành du lịch ngày càng rõ nét. Theo số liệu thống kê cho
thấy, năm 1994 du lịch quốc tế trên toàn thế giới đã chiếm 6% GNP, tức
SV: Nguyễn Thị Hồng Thuý 12
Đề án môn học chuyên ngành - Quản trị kinh doanh tổng hợp
doanh thu khoảng 4000 tỷ đô la , vượt trên công nghiệp ô tô, thép, điện tử và
nông nghiệp. Du lịch thu hút trên 200 triệu lao động chiếm hơn 12% lao động
trên thế giới. Ở Việt Nam, xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng đã thể
hiện rõ qua các năm : năm 2001 nông nghiệp chiếm 23,24% GDP, công
nghiệp chiếm 57,91% GDP, dịch vụ chiếm 38,63% GDP. Năm 2004, nông
nghiệp chiếm 21,76% GDP, công nghiệp chiếm 60,41%,dịch vụ chiếm
38,15% GDP. Với tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm thì du lịch đóng một
vai trò không nhỏ trong nền kinh tế. ngoài ra du lịch cũng tạo điều kiện cho
các ngành kinh tế khác cùng phát triển. với những thuận lợi, những mặt tích
cực mà phát triển du lịch đem lại thì du lịch thực sự có khả năng làm thay đổi
bộ mặt kinh tế của nước ta.
2. Vai trò của việc phát triển thương hiệu ngành du lịch đối với sự phát
triển kinh tế của đất nước
Trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được ghi nhận như là một sở thích,

điểm đến thu hút du khách,làm cho du khách nhớ mãi...
Trên bình diện chung, hoạt động du lịch có tác dụng làm biến đổi cán
cân thu chi của đất nước. Du khách quốc tế mang ngoại tệ vào đất nước có địa
điểm du lịch, làm tăng thêm nguồn thu ngoại tệ cho đát nước đó. Ngược lại,
phần chi ngoại tệ sẽ tăng lên đối với quốc gia có nhiều người đi du lịch ở
nước ngoài. Trong phạm vi một quốc gia, hoạt động du lịch làm xáo trộn hoạt
động luân chuyển tiền tệ, hàng hóa, điều hòa nguồn vốn từ vùng kinh tế phát
triển sang vùng kinh tế kém phát triển hơn, kích thích sự tăng trưởng kinh tế ở
các vùng sâu, vùng xa...
Một lợi ích khác của ngành du lịch đó là du lịch giải quyết vấn đề việc
làm. Du lịch đã tạo ra nguồn thu nhập cho người lao động, giải quyết các vấn
đề xã hội.
Phải nói rằng, sự phát triển thương hiệu của ngành du lịch rất quan trọng
đối với nền kinh tế đất nước. Nó không chỉ quan trọng với nền kinh tế, thúc
đẩy nền kinh tế phát triển mà hơn nữa đó là một cách thông minh để đưa hình
ảnh Việt Nam ra thế giới, góp phần tạo nên thương hiệu quốc gia !
SV: Nguyễn Thị Hồng Thuý 14
Đề án môn học chuyên ngành - Quản trị kinh doanh tổng hợp
CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG VIỆC XÂY DỰNG THƯƠNG
HIỆU DU LỊCH VIỆT NAM
1. Thành tựu đạt được
Nhận thức được vai trò của sự phát triển thương hiệu du lịch đối với sự
phát triển của nền kinh tế quốc dân và việc đánh giá đúng các tiềm năng để
phát triển một thương hiệu du lịch, Đảng và nhà nước ta đã đưa ra các chính
sách hỗ trợ cho sự phát triển của ngành du lịch. Trong thời gian qua du lịch
Việt Nam đã có những thành tựu tiến bộ vững chắc.
Ngay từ những năm mới thành lập, trong điều kiện chiến tranh, cơ sở vật
chất còn thiếu thốn, đội ngũ cán bộ còn ít, trình độ nghiệp vụ hạn chế, ngành
du lịch đã có nhiều cố gắng, đáp ứng nhu cầu phục vụ các đoàn khách của
Đảng, nhà nước và các đoàn khách quốc tế.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status