SỰ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ THUỘC NGÀNH CÔNG
NGHIỆP ĐIỆN TỬ TRONG NHỮNG NĂM QUA
*****************
2.1.Tổng quan về sự phát triển công nghiệp điện tử khu vực Đông Á và
những ảnh hưởng đến công nghiệp phụ trợ điện tử Việt Nam
2.1.1. Bức tranh tổng quát về công nghiệp điện tử khu vực Đông Á
Vùng Đông Á đang trở thành cứ điểm sản xuất lớn nhất thế giới trong
nhiều loại sản phẩm điện tử do sự phân công lao động quốc tế. Hiện nay khu
vực này sản xuất khoảng 95% máy nghe nhạc DVD, 85% máy tính sách tay, gần
100% ổ cứng máy tính, 70% máy cát sét, trên 80% máy điều hòa không khí,
60% ti vi màu và 30% xe hơi của thế giới...
Khoảng 30 năm về trước, hầu hết các mặt hàng này chỉ sản xuất ở Nhật
Bản nhưng sau đó chuyển sang Hàn Quốc, Đài Loan rồi sang các nước ASEAN,
chủ yếu là Malaixia rồi Thái Lan, sau đó đến Trung Quốc. Do công nghệ trong
lĩnh vực này cũng dễ chuyển giao nên các cứ điểm sản xuất chuyển dần sang
những nơi nhân công rẻ hơn và các phí tổn khác cũng thấp do chính sách
khuyến khích đầu tư trực tiếp từ nước ngoài của các nước. Hiện nay, Nhật Bản
chỉ sản xuất các loại sản phẩm cao cấp còn lại thì tập trung nhập khẩu từ các cứ
điểm sản xuất của doanh nghiệp Nhật hoạt động tại ASEAN và Trung Quốc.
Ngoài bốn nước sản xuất nhiều sản phẩm điện tử và có thị phần đáng kể
là Trung Quốc, Hàn Quốc, Malaixia và Thái lan. Riêng Trung Quốc sản xuất
trên 30% tổng sản lượng thế giới, Hàn Quốc cũng sản xuất hầu hết các mặt hàng
này và chiếm thị phần khoảng 5 – 10%. Thái Lan cũng là cứ điểm sản xuất quan
trọng đứng đầu ASEAN trong các mặt hàng như tủ lạnh, máy giặt, máy điều hòa
không khí và đứng thứ hai tong các mặt hàng khác. Malaixia đứng đầu ASEAN
về ti vi màu, máy hút bụi, máy thu và phát hình, cát sét. Thái Lan và Malaixia
chiếm được vị trí quan trọng hiện nay nhờ họ có chính sách khôn ngoan đón
được dòng thác FDI từ Nhật Bản sau khi đồng yên lên giá đột ngột cuối năm
1985. Inđônêxia đi chậm hơn hiện nay mới chỉ sản xuất với số lượng tương đối
đáng kể như: tivi màu, máy thu, tủ lạnh và máy phát hình.
ASEAN và Trung Quốc đang cạnh tranh với nhau rất gay gắt tại các thị
chuyển dịch cơ cấu công nghiệp sang ngành B có giá trị gia tăng cao hơn
và tốc độ công nghệ cao hơn.
- Ngành A sẽ được chuyển sang các nước khác và cơ cấu kinh tế của các
nước có sự tiến triển nhanh chóng, các nước đi sau đuổi theo các nước đi
trước và rút ngắn khoảng cách phát triển công nghiệp.
Ví dụ: cho đến thập niên 1970 mới chỉ có Nhật Bản sản xuất tivi màu
nhưng sau đó ngành này bắt đầu phát triển tại Hàn Quốc và Đài Loan từ cuối
thập niên 1970, rồi tại Malaixia và Thái Lan từ cuối thập niên 1980. Sau đó là
Trung Quốc trở thành nước sản xuất tivi màu nhiều nhất trên thế giới từ nửa sau
thập niên 1990.
Trong quá trình đuổi bắt này, lượng sản xuất tại Nhật Bản giảm nhanh và
phải nhập khẩu nhiều từ các nước Đông Á. ( Năm 1990 Nhật Bản sản xuất 15
triệu tivi màu nhưng năm 2000 chỉ còn sản xuất khoảng 3 triêu chiếc, trong thời
gian này nhập khẩu tăng từ 1đến 9 triệu chiếc).
Từ mô hình “đàn sếu bay” cho thấy, Việt Nam cũng đang nằm trong làn
sóng công nghiệp của khu vực Đông Á mà tiêu điểm của sự lan tỏa này là ngành
công nghiệp điện tử. Hiện nay việc sản xuất các loại máy móc đồ điện tử, đồ
điện gia dụng, nhiều ngành thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin phần cứng như
điện thoại di động và các linh phụ kiện của các sản phẩm điện tử có nhu cầu
ngày càng lớn trên thế giới. Mặt khác công nghệ này lại lại dễ lan nhanh từ các
nước này sang nước khác nên những nước có nguồn lao động dồi dào, khéo tay
và tiền lương rẻ dễ trở thành những cứ điểm có sức cạnh tranh lớn. Việt Nam rất
có triển vọng canh tranh trong lĩnh vực này nhưng chưa trở thành một trong
những nơi sản xuất chính tại Châu Á. Trong hơn 15 năm qua, các cứ điểm sản
xuất các sản phẩm trên liên tục chuyển nhanh từ Nhật Bản sang các nước khác
(theo hiệu ứng đàn sếu bay), đầu tiên là sang Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore
sau đó sang Malaixia và Thái Lan và gần đây là Trung Quốc. Công nghiệp phụ
trợ cho công nghiệp điện tử gồm rất nhiều chủng loại mặt hàng, những loại có
hàm lượng công nghệ cao thì Nhật Bản và các nước công nghiệp mới vẫn còn
duy trì cạnh tranh và triển khai phân công hàng ngang ở các nước ASEAN. Việt
kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Ngoài 2 trung tâm này, chỉ còn một số ít các
doanh nghiệp điện tử nhỏ ở Đà Nẵng và Hải Phòng. Các doanh nghiệp FDI
trong ngành công nghiệp điện tử thường chọn các khu công nghiệp, khu chế
xuất có hạ tầng tốt và giao thông thuận tiện. Rất nhiều các doanh nghiệp tư
nhân cũng đang theo xu hướng này. Các doanh nghiệp FDI định hướng xuất
khẩu đều là các doanh nghiệp lớn, được đầu tư bài bản, trang thiết bị và công
nghệ khá cao. Các DN này đánh giá cao các điều kiện làm việc và chất lượng
nhân công trong ngành công nghiệp điện tử ở Việt Nam. Các doanh nghiệp tư
nhân trong ngành đều là các doanh nghiệp nhỏ. Trừ một số rất ít như TQT
(Nha Trang), CMS (Hà Nội) có công nghệ tương đối tiên tiến, các trang thiết
bị và công nghệ của hệ thống doanh nghiệp này đều lạc hậu, yếu kém. So với
các quốc gia láng giềng thì số lượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành
công nghiệp điện tử còn quá ít và chưa trở thành động lực thúc đẩy sự phát
triển của ngành. Doanh nghiệp nhà nước hầu hết có quy mô vừa với cơ sở hạ
tầng tốt, trình độ công nghệ ở mức trung bình tiên tiến.
Hoạt động chính của ngành công nghiệp điện tử Việt Nam hiện nay là lắp
sáp sản phẩm điện tử tiêu dùng nên dẫn tới cơ cấu sản phẩm mất cân đối
nghiêm trọng giữa sản phẩm điện tử tiêu dùng và điện tử chuyên dùng (với tỷ lệ
80%/20% - trong khi ở các quốc gia công nghiệp phát triển thì tỷ lệ này là
15%/85%). Công nghiệp sản xuất linh kiện phụ tùng (trừ các linh kiện xuất
khẩu 100%) và công nghiệp phụ trợ ít phát triển nên dẫn tới tỉ lệ nội địa hoá
các sản phẩm điện tử rất thấp, bình quân chỉ 20-30%, chủ yếu là bao bì đóng
gói với các chi tiết nhựa, chi tiết kim loại.
Điểm yếu của công nghiệp điện tử là công tác nghiên cứu phát triển sản
phẩm còn rất hạn chế nên giá trị gia tăng của các sản phẩm tạo ra thấp, chỉ đạt
từ 5-10%. Cũng theo kết quả điều tra được thì chỉ khoảng 40% các doanh
nghiệp điện tử để giành hơn 1% doanh thu cho việc phát triển thương hiệu và
quảng bá sản phẩm của mình. Số còn lại thường chỉ giành khoảng 0,5-1%, thậm
chí ít hơn 0,5% doanh thu cho phát triển thương hiệu. Đó là một trong những
nguyên nhân làm cho thương hiệu của các sản phẩm điện tử Việt Nam không
trị gia tăng lớn. Còn nhiều những mặt hàng khác hầu hết được triển khai phân
công hàng ngang ở các nước ASEAN. Việt Nam cần nắm bắt được tình hình này
nhanh chóng phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ điện tử đẩy mạnh sự phát
triển của ngành công nghiệp điện tử còn non trẻ trong nước và rút ngắn khoảng
cách với các nước khác trong khu vực. Những ảnh hưởng đến công nghiệp phụ
trợ trong ngành điện tử của Việt Nam được tóm tắt trong bảng sau:
Điểm mạnh
- Có nguồn lao động dồi dào học hỏi nhanh và đội ngũ cán bộ kỹ thuật điện tử
được đào tạo và có tích lũy khá về công nghiệp điện tử
- Chi phí lao động tương đối thấp
- Thị trường tiêu thụ nội địa tiềm năng với dân số đông
- Có thế mạnh về nguồn nguyên liệu để phát triển công nghệ vật liệu điện tử
Điểm yếu
- Năng lực sản xuất còn hạn chế
- Phụ thuộc nguồn cung cấp nguyên liệu từ bên ngoài
- Sản phẩm có sức cạnh tranh yếu
- Thiếu thông tin về thị trường thế giới
Cơ hội
- Có vị trí thuận lợi do nằm trong vòng cung Đông Á, nơi phát triển các sản
phẩm điện tử của thế giới
- Hệ thống pháp luật đang được hoàn thiện phù hợp với thông lệ quốc tế
Thách thức
-Chịu sự cạnh tranh gay gắt từ Trung Quốc và các nước ASEAN đã có nền
công nghiệp điện tử phát triển
- Chiếm lĩnh thị trường trong nước
Bảng 2.1 :Phân tích SWOT cho công nghiệp điện tử của Việt Nam
Phân tích các yếu tố điểm mạnh, điểm yếu từ môi trường bên trong và
những cơ hội, thách thức từ môi trường ngoài thông qua mô hình SWOT như
sau:
Điểm mạnh
+ Thiếu thông tin về thị trường thế giới là một bất lợi lớn cộng với khả
năng và kinh nghiệm xúc tiến xuất khẩu yếu đã kìm hãm sự phát triển của ngành
công nghiệp điện tử.
+ Khả năng cạnh tranh của sản phẩm chưa cao: chủng loại sản phẩm
nghèo nàn, chất lượng sản phẩm thấp, giá thành thì cao do chí phí về nguyên liệu
và linh kiện (chiếm 70% tổng chi phí sản xuất) tại Việt Nam cao hơn của các
nước trong khu vực, chưa có thương hiệu sản phẩm điện tử mạnh.
Cơ hội
+ Việt Nam có vị trí địa lý thuận lợi, nằm trong khu vực có nền công
nghiệp phát triển nhanh và năng động, đặc biệt là đối với ngành công nghiệp
điện tử. Việt Nam có cơ hội thuận lợi để thu hút vốn đầu tư, nhận chuyển giao
công nghệ và học tập các kiến thức quản lý vào đào tạo nhân lực từ các nước có
ngành công nghiệp điện tử phát triển trong khu vực.
+ Hệ thống luật pháp Việt Nam đang được tiếp tục hoàn thiện theo hướng
rõ ràng và phù hợp với thông lệ quốc tế. Luật Đầu tư nước ngoài được đổi đã tạo
điều kiện cho các nhà đầu tư nước ngoài dễ dàng tiến hành sản xuất các loại linh
phụ kiện điện tử và thực hiện công nghệ lắp ráp hiện đại tại Việt Nam. Các doanh
nghiệp đầu tư nước ngoài luôn có các thị trường xuất khẩu ổn định nên Việt nam
có thể thông qua đó mà tiếp cận vào mạng lưới tiêu thụ sản phẩm điện tử trên thế
giới.
+ Từ 1/1/2006 các cam kết AFTA về lịch trình giảm thuế trong đối với các
mặt hàng điện tử đã có hiệu lực hoàn toàn. Việt Nam cũng đã gia nhập WTO vừa
qua tạo điều kiện thuân lợi cho việc đưa các sản phẩm vươn ra khu vực và thế
giới.
+ Sự quan tâm và tăng cường đầu tư của hai quốc gia hàng đầu về công
nghiệp điện tử là Hoa Kỳ và Nhật Bản sẽ tạo đà kéo theo nhiều nhà đầu tư khác
tham gia vào công cuộc phát triển của Việt Nam.
Thách thức
+ Công nghiệp điện tử của Việt Nam phải chịu sự cạnh tranh gay gắt của
Trung Quốc và các nước ASEAN như Singapore, Thái Lan, Malaysia là những
sách công nghiệp :
Hiện tại, công ty SUZUKI Việt Nam đã tạo dựng được một hệ thống các nhà
cung cấp nội địa bao gồm 11 công ty Nhật Bản, 16 công ty Việt Nam, 22 công
ty Đài Loan và 7 công ty khác, tương tự như vậy với công ty Honda và VMEP.
Tuy nhiên các chi tiết, các cụm chi tiết khó và động cơ các nhà lắp ráp vẫn
phải nhập khẩu vì các nhà cung cấp nội địa chưa thể đảm nhận. Có một số nhà
cung cấp như MAP (Machino Auto Parts Co.,Ltd), TSUKUBA, Broard Bright
hay Vision... đã bắt đầu thực hiện sản xuất một số chi tiết khó nhưng với số
lượng ít và chất lượng chưa thể ngang bằng với hàng nhập khẩu.
(Nguồn: Viện nghiên cứu chiến lược chính sách công nghiệp, 2006)
Hai là, năng lực của các nhà cung ứng (bao gồm cả doanh nghiệp nội địa
và các doanh nghiệp FDI). Mặc dù các chính sách khai thông cho dòng đầu tư
nước ngoài ngày càng được cải thiện, song năng lực cũng như số lượng của các
doanh nghiệp cung cấp FDI vẫn chưa đủ mạnh. Trong khi đó các doanh nghiệp
nội địa có trình độ công nghệ lạc hậu, năng lực quản lý và tổ chức sản xuất chưa
đáp ứng được những đòi hỏi của các nhà lắp ráp FDI. Một trong những điểm
yếu của các doanh nghiệp nội địa là khả năng nghiên cứu và phát triển, tất nhiên
điều này cũng xuất phát một phần từ sự hạn chế về tài chính, trong khi đó các
doanh nghiệp cung cấp FDI ngày càng có những bước tiến khá quan trọng trong
khâu nghiên cứu và phát triển.
Ba là, những yêu cầu đặt ra và chính sách thu mua từ phía các công ty lắp
ráp FDI. Dù là hình thức sản xuất nào: theo dây chuyền (đối với các công ty
Nhật Bản và các nước tiên tiến) hay theo công đoạn (như các công ty Trung
Quốc), các công ty lắp ráp FDI đều có những yêu cầu rất khắt khe với nhà cung
ứng về chất lượng, các thông số kỹ thuật của sản phẩm, nguồn nguyên vật liệu
và thời hạn giao hàng. Bởi vậy, các doanh nghiệp nội địa khó có khả năng đáp
ứng các yêu cầu trên một cách toàn diện. Số lượng các doanh nghiệp phụ trợ nội
địa trong ngành công nghiệp xe máy là khá nhiều, nhưng số doanh nghiệp trở
thành nhà cung ứng các linh kiện, phụ tùng cho các công ty lắp ráp FDI thì
không đáng kể. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, một số doanh
khi cạnh tranh không lành mạnh. Thiếu sự liên kết, phân công chuyên môn hoá
giữa các cơ sở sản xuất hỗ trợ và gần như thiếu hẳn sự phân công sản xuất, liên
kết giữa nhà sản xuất chính với những nhà thầu phụ, giữa những nhà thầu phụ
với nhau và giữa các doanh nghiệp nội địa với các doanh nghiệp FDI.
Việt Nam chưa tạo ra được một môi trường kinh tế đủ sưc hấp dẫn để các
thành phần kinh tế mạnh dạn đầu tư vào các khâu sản xuất phụ trợ với định
hướng phát triển bền vững và dài hạn trong bối cảnh hội nhập như ngày nay.
Các mối liên kết kinh tế hiện nay chủ yếu được phân theo ngành dọc, gần như
chỉ bó hẹp trong quan hệ quen biết và bỏ vốn liên doanh, cùng đầu tư và bao
tiêu sản phẩm. Việc liên kết sản xuất giữa các doanh nghiệp khác chủ sở hữu và
chia sẻ thông tin thị trường với nhau rất hạn chế. Trên thực tế các nhà đầu tư
FDI ít quan tâm đến việc phát triển các doanh nghiệp phụ trợ nội địa. Trong khi
đó các doanh nghiệp nội địa vì nhiều lý do, trong điều kiện sản xuất kinh doanh
rất khó tiếp cận với các doanh nghiệp FDI. Trong vấn đề này, vai trò dẫn dắt
của các Hiệp hội nghề nghiệp chưa thực sự nổi rõ.