TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
*************
ĐOÀN VĂN SĨ
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ
THANH THẢO QUA HAI TẬP
DẤU CHÂN QUA TRẢNG CỎ
VÀ KHỐI VUÔNG RUBIC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. DƢƠNG THỊ THÚY HẰNG
HÀ NỘI – 2015
LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới cô
giáo: ThS. Dƣơng Thị Thúy Hằng – ngƣời đã trực tiếp hƣớng dẫn, tận tình chỉ bảo
để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô giáo trong khoa Ngữ Văn,
trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện cho tôi đƣợc thực hiện khóa
luận này, đây là một cơ hội tốt để tôi bƣớc đầu hình thành các kĩ năng nghiên cứu
khoa học.
Mặc dù đã có những cố gắng song chắc chắn khóa luận không thể tránh khỏi
những thiếu sót, tôi mong rằng sẽ nhận đƣợc những ý kiến đóng góp của các thầy cô
và các bạn để khoá luận hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
1.3. Thanh Thảo: Tiểu sử - Hành trình sáng tác – Quan niệm nghệ thuật...............7
1.3.1. Tiểu sử ........................................................................................................7
1.3.2. Hành trình sáng tác ....................................................................................8
1.3.3. Quan niệm nghệ thuật ..............................................................................19
1.4. Hai tập thơ Dấu chân qua trảng cỏ và Khối vuông Rubic.............................18
1.4.1. Dấu chân qua trảng cỏ (1978) .................................................................18
1.4.2. Khối vuông Rubic (1985) .........................................................................19
CHƢƠNG 2: CẢM HỨNG NGHỆ THẬT CHỦ ĐẠO TRONG DẤU CHÂN QUA
TRẢNG CỎ VÀ KHỐI VUÔNG RUBIC ..................................................................21
2.1. Cảm hứng sử thi ..............................................................................................21
2.1.1. Cảm hứng về chiến tranh bi tráng............................................................22
2.1.2. Cảm hứng về cái tôi thế hệ .......................................................................23
2.2. Cảm hứng thế sự - đời tƣ ................................................................................30
2.2.1. Triết luận về đời sống (đời thường, tình yêu và hạnh phúc…) ................31
2.2.2. Đối thoại với quá khứ ...............................................................................34
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ PHƢƠNG DIỆN HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT TRONG
DẤU CHÂN QUA TRẢNG CỎ VÀ KHỐI VUÔNG RUBIC ....................................37
3.1. Thể thơ ............................................................................................................37
3.1.1. Thơ lục bát ................................................................................................37
3.1.2. Thơ tự do ..................................................................................................38
3.1.3. Thơ văn xuôi .............................................................................................40
3.2. Biểu tƣợng thơ ................................................................................................41
3.2.1. Biểu tượng cỏ ...........................................................................................42
3.2.2. Biểu tượng ngọn lửa .................................................................................44
3.3. Ngôn ngữ thơ ..................................................................................................47
3.3.1. Ngôn ngữ đậm chất đời thường ................................................................47
3.3.2. Ngôn ngữ thơ nhiều khoảng trống ...........................................................49
KẾT LUẬN ...............................................................................................................53
Cho đến nay, đã có rất nhiều các ý kiến, bài viết, chuyên luận, luận văn, luận
án… bàn về thơ Thanh Thảo. Đa số các nhà nghiên cứu khi đánh giá về Thanh Thảo
1
đều đánh giá thơ ông “mới” và “lạ”, một bản lĩnh thơ luôn táo bạo, quyết liệt với sự
cách tân thơ ca rõ rệt.
Trong bài Thanh Thảo - nghĩa khí và cách tân (2004), TS. Chu Văn Sơn
khẳng định: “Và đến nay, dấu ấn mạnh mẽ anh gieo vào lòng người đọc cũng là
những táo bạo của một bản lĩnh dám dấn thân, dám tiên phong. Đó không phải là
những dấu chân thảm cỏ thời gian hiền lành mà những dấu chân mở lối giữa chông
gai nhiều khi rớm máu”.
Ở Thanh Thảo – gương mặt tiêu biểu sau 1975, nhà nghiên cứu PGS.TS.
Bích Thu đã đƣa ra ý kiến sắc sảo: “Thanh Thảo đã đem đến cho người đọc một
thực đơn tinh thần mới mẻ và độc đáo, làm phong phú tiếng nói của thơ hôm nay”.
PGS.TS. Mai Hƣơng trong bài “Nghĩ về đóng góp của đội ngũ trẻ trong thơ
chống Mĩ” in trên Tạp chí Văn học số 1 năm 1981, đã đánh giá “Thanh Thảo là một
trong những cây bút tiêu biểu cho khuynh hướng tăng cường chất chính luận khái
quát trong thơ ca chống Mĩ”.
Trong bài viết Thanh Thảo – Nhà thơ của những cách tân đầy sáng tạo,
tác giả Đỗ Quang Vinh cho rằng “Thanh Thảo đặc biệt chú ý đến việc xây dựng các
hệ thống hình tượng được kết cấu theo kiểu phức điệu của âm nhạc giao hưởng
nhằm tạo ra nhiều tầng ngữ nghĩa đa dạng và độc đáo. Có khi anh sử dụng thủ
pháp đồng hiện – so sánh của điện ảnh, có khi là thủ pháp gián cách, ước lệ của
sân khấu hiện đại, có khi anh mô phỏng lối nói của nhà thơ dân gian Việt Nam
nhưng thổi vào đó tâm hồn của thời đại mình đang sống. Thơ anh trong những
trường hợp này luôn giàu nhạc tính và trùng điệp hình tượng, cấu trúc câu thơ, bài
thơ biến hóa một cách thông minh, kì ảo”.
Và rất nhiều nhà nghiên cứu khác cũng quan tâm đến thơ Thanh Thảo nhƣ
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, khóa luận đƣợc tổ chức theo ba chƣơng là:
Chƣơng 1: Giới thuyết chung.
Chƣơng 2: Cảm hứng nghệ thuật chủ đạo trong Dấu chân qua trảng cỏ và
Khối vuông Rubic.
Chƣơng 3: Một số phƣơng diện hình thức nghệ thuật trong Dấu chân qua
trảng cỏ và Khối vuông Rubic.
Cuối cùng là Tài liệu tham khảo.
3
NỘI DUNG
CHƢƠNG I: GIỚI THUYẾT CHUNG
1.1. Thế giới nghệ thuật thơ
Năm 1985 trong luận án tiến sĩ khoa học: “Sự hình thành và những vấn đề
của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn học Việt Nam hiện đại”,
PGS.TS Nguyễn Nghĩa Trọng đã xác định hàm nghĩa khái niệm thế giới nghệ thuật
nhƣ sau:
“Thế giới nghệ thuật là một phạm trù mỹ học bao gồm tất cả các yếu tố của
quá trình sáng tạo nghệ thuật và tất cả kết quả của quá trình hoạt động nghệ thuật
của nhà văn. Nó là một chỉnh thể nghệ thuật và một giá trị thẩm mỹ. (…) Thế giới
nghệ thuật là thiên nhiên thứ hai được người nghệ sĩ tạo dựng trong đó chứa đựng
hiện thực và quan niệm về hiện thực, tự nhiên và con người… là thế giới sinh động
và đa dạng vô cùng, mỗi nhà văn, mỗi trào lưu văn học, mỗi dân tộc, mỗi thời kì
lịch sử đều có thế giới nghệ thuật riêng của mình” [17, 63].
Trong cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học”, nhóm tác giả Lê Bá Hán -Trần
Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (chủ biên) định nghĩa “Thế giới nghệ thuật là một khái
niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tạo nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác
phẩm, một tác giả, một trào lưu)” [9, 302 – 303].
Nghiên cứu cụ thể loại thơ trữ tình, trong cuốn “Thơ trữ tình Việt Nam 1975
động của các thể loại văn học nhƣ: thơ, văn xuôi, kịch đã góp phần tạo nên những
thành công bƣớc đầu, tạo đà cho bƣớc nhảy vọt của văn học sau 1986.
Mƣời năm sau chiến tranh, thơ ca Việt Nam đƣợc viết theo cảm hứng mới,
hình thức mới. Tiêu biểu cho kiểu sáng tác này là Dấu chân qua trảng cỏ và Khối
vuông Rubic của Thanh Thảo, Đường đến thành phố của Hữu Thỉnh, Bài thơ
không năm tháng của Lâm Thị Mỹ Dạ, Tự hát của Xuân Quỳnh, Ánh trăng của
Nguyễn Duy, Người đàn bà ngồi đan của Ý Nhi, Ngôi nhà có ngọn lửa ấm của
Nguyễn Khoa Điềm… Nhƣ vậy, đề tài thơ ca thời kì này đã có sự thay đổi, từ đề
tài cuộc chiến tranh, đề tài về nhân dân anh hùng, quật khởi đã đƣợc chuyển dần
sang đề tài cuộc sống đời thƣờng, đi sâu phản ánh những vấn đề nhân sinh, tâm
trạng của cái tôi cá nhân sau cuộc chiến với nhiều tìm tòi phong phú, thể hiện
5
những suy nghĩ thấm thía về cuộc đời, con ngƣời: “Sau chiến tranh và những năm
gần đây, thơ bắt nhịp cuộc sống đa chiều hơn, phức tạp hơn. Cảm hứng ngợi ca
trong thơ hôm nay dường như lắng lại, thay vào đó là những dòng thơ mang chính
nội tâm tác giả, trước sự bề bộn, lo toan đời thường. Nhà thơ hướng vào nội tâm
lấy cái tôi làm chủ đạo. Sự đổi mới trong thơ hôm nay là trở về với bản chất vốn
có của thơ, tạo ra giọng điệu thích hợp với thời đại mình sống” (Sự đổi mới trong
thơ – Nguyễn Đức Mậu). Cũng trong thời hậu chiến này, nhiều nhà thơ đã dồn
sức cho việc hoàn thành trƣờng ca để nói lên những vấn đề mới, bao quát hiện
thực của đất nƣớc và nhân dân. Có thể nói, đây là giai đoạn nở rộ của trƣờng ca,
trong đó tiêu biểu nhất là các trƣờng ca: Những người đi tới biển của Thanh
Thảo, Ngọn giáo búp đa của Ngô Văn Phú, Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh,
Trường ca sư đoàn của Nguyễn Đức Mậu, Đất nước hình tia chớp của Trần
Mạnh Hảo…
Có thể nói, phong trào sáng tác thơ dần trở lại gắn bó với cuộc sống hiện
tại. Những vấn đề trong chiến tranh không đƣợc đụng chạm đến thì nay đã đƣợc
khao khát tìm lại mình, tìm lại những giá trị đích thực trong cuộc đời, trong tình
yêu bằng những rung động chân thành:
“Em trở về đúng nghĩa trái tim em
Biết khao khát những điều anh mơ ước
Biết xúc động qua nhiều nhận thức
Biết yêu anh và biết được anh yêu”
(Tự hát – Xuân Quỳnh)
Qua khảo sát thơ mƣời năm thời hậu chiến, mặc dù cảm hứng ngợi ca vẫn
là nổi trội nhƣng mạch ngầm ẩn sâu trong đó là cảm hứng thế sự đời tƣ, giai đoạn
khởi động để chuẩn bị cho những bứt phá mạnh mẽ sau 1985.
Tìm hiểu thơ Việt Nam thời kỳ hậu chiến không chỉ có ý nghĩa khoa học mà
còn có ý nghĩa thực tiễn trong việc nghiên cứu, giảng dạy về tác giả và tác phẩm thơ
thời kỳ hiện đại.
1.3. Thanh Thảo: Tiểu sử - Hành trình sáng tác - Quan niệm nghệ thuật
1.3.1. Tiểu sử
Nhà thơ Thanh Thảo tên thật là Hồ Thành Công sinh năm 1946, quê gốc xã
Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Tốt nghiệp khoa Ngữ Văn, trƣờng Đại
7
học Tổng hợp Hà Nội, Thanh Thảo tham gia chiến đấu ở chiến trƣờng miền Nam.
Sau 1975, ông hoạt động trong lĩnh vực văn nghệ và báo chí. Ông giữ chức vụ Phó
chủ tịch Hội đồng thơ, Hội Nhà văn Việt Nam, Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật
Quảng Ngãi.
Trong sự nghiệp sáng tác của mình, ông viết tới 9 trƣờng ca: Những người
đi tới biển (1976), Trẻ con ở Sơn Mỹ (1976 – 1978), Những nghĩa sĩ Cần Giuộc
(1978 –1980), Bùng nổ của mùa xuân (1980 – 1981), Đêm trên cát (1982), Trò
chuyện với nhân vật của mình (1983), Cỏ vẫn mọc (1983), Khối vuông Rubic
(1985), Mêtrô (2009) và 5 tập thơ: Tàu sắp vào ga (1986), Bạch đàn gởi bạch
nhân sinh mới mẻ. Cái riêng của Thanh Thảo là ông đã phản ánh hiện thực với điểm
nhìn, giọng điệu riêng, không hoà lẫn. Là một ngƣời trung thực, có nghĩa khí, có
lòng yêu mến quê hƣơng, đất nƣớc, nhân dân, nhà thơ Thanh Thảo đã chọn cho
mình giọng thơ trữ tình đằm thắm, giàu “hiện thực” và “chất nghĩ” (Chu Văn Sơn).
Nhiều vần thơ của Thanh Thảo đậm chất suy tƣ và trăn trở: “Chúng tôi không muốn
chết về hư danh/ Không thể chết vì tiền bạc/ Chúng tôi xa lạ với những tin tưởng
điên cuồng/ Những liều thân vô ích/ Đất nước đẹp mênh mang/ Đất nước thấm tự
nhiên đến tận cùng máu thịt/ Chỉ riêng cho Người chúng tôi dám chết!/ Đêm nay ai
cầm tay nhau vào tiệc cưới/ Ai thức trắng lội sình ai trầm ngâm viết những câu thơ
thông minh/ Ai trả nghĩa đời mình bằng máu” (Thử nói về hạnh phúc)
Giai đoạn này chính là bƣớc chuẩn bị quan trọng cho những giai đoạn sáng
tác sau này của nhà thơ.
Thơ Thanh Thảo từ 1975 – 1985
Đây có thể coi là giai đoạn nở rộ trong cuộc đời thơ Thanh Thảo với hàng
loạt các trƣờng ca ra đời đã đƣa ông trở thành “ông vua trường ca” (Chu Văn Sơn).
Trƣờng ca đầu tiên gây đƣợc tiếng vang lớn đó là trƣờng ca Những người đi tới
biển (1976). Sau đó là hàng loạt các trƣờng ca ra đời trong thời gian rất ngắn: Trẻ
con ở Sơn Mỹ (1976 - 1978), Những nghĩa sĩ Cần Giuộc (1978 - 1980), Bùng nổ
của mùa xuân (1980 - 1981), Đêm trên cát (1982), Trò chuyện với nhân vật của
mình (1983), Cỏ vẫn mọc (1983), Khối vuông Rubic (1985)…
Ở thời kì này, đóng góp mới mẻ của Thanh Thảo trƣớc hết thể hiện ở phƣơng
diện nội dung. Thanh Thảo là nhà thơ của “nghĩa khí và cách tân”, là nhà thơ “lấp
lánh chất người” (Chu Văn Sơn). Ông đam mê tìm kiếm chất ngƣời trong những
9
con ngƣời có nghĩa khí. Bởi vậy, không phải ngẫu nhiên mà ông viết nhiều và viết
rất hay về nhân dân, về thế hệ mình, về mẹ, về những nhân vật đã làm nên lịch sử,
văn hoá của dân tộc, nhân loại. Đó là những Người mẹ Bàng Long, Mẹ Quảng
10
Biết bao thế hệ thi sĩ tự cổ chí kim đã không ngừng dằn vặt suốt cuộc đời mình để
đi tìm chân dung đích thực của nàng thơ, mà muôn đời đó vẫn là một bí mật lớn
không dễ gì hoá giải. Với Thanh Thảo, nói về thơ cũng là một cách để giãi bày
nguồn năng lƣợng sáng tạo chƣa kịp chuyển hoá thành thơ, là con đƣờng để ngƣời
nghệ sĩ tỏ bày những suy tƣ của mình lên trang giấy một cách trực diện nhất.
Theo Thanh Thảo, thơ là một thế giới bí ẩn. Đó là “tiếng nói của tâm linh,
tiếng nói của sự chiêm nghiệm nhiều khi là cả đời người, của nhiều đời người
(Thanh Thảo), là “kinh thánh của tâm hồn”, là “thứ không thể mua và không thể
bán” [25, 233]. Thơ “cao hơn bản năng. Đó là tiếng gọi từ một thiên năng” [25,
299], do đó không phải lúc nào cũng nằm trong tầm nắm bắt của con ngƣời: “Thơ
vẫn là cái gì mờ mờ ảo ảo, vẫn là cái gì ta vừa bắt được đó lại vừa tuột mất. Thơ
vẫn là hình bóng, đôi khi là bóng của bóng nữ” (Thanh Thảo). Trong ánh nhìn của
Thanh Thảo, thơ có vẻ nghiêng về phía của vô thức, nó xuất phát từ nguồn nội lực
sâu thẳm dồn nén tận sâu bên trong con ngƣời: “Thơ là tiếng thét trong im lặng, là
những dồn nén tận cùng dưới một vẻ bình thản như đất” (Trần Hữu Nghiễm – Thơ
vẫn âm thầm tự hát). Đến với thơ ca, con ngƣời đang làm một cuộc hành trình đi
tìm mình, đi khám phá những bí mật vô tận ẩn náu trong những vùng tối tăm của
tâm hồn mình, bởi thơ “buộc tiềm thức, vô thức của ta phải làm việc, buộc ta phải
ngụp lặn xuống lòng nước tối, ngụp lặn vào chính những giấc mơ của ta” (Tản mạn
về thơ ).
Chính vì vậy, theo Thanh Thảo, thơ là tiếng nói bí mật dành cho từng cá
nhân, là “thánh đường dành cho một người, cho từng người một”. Ông cho rằng:
“Thơ có thể cùng một lúc kích động được nhiều người, nhưng thơ lại chỉ dành cho
từng con người riêng biệt, từng con người muốn qua cảm nhận thơ để cảm nhận
chính con người mình, và qua chính con người mình mà cảm nhận thế giới” [1, 13].
Nói cách khác, thơ là con đƣờng tƣơng thông đi từ thế giới tinh thần của mỗi cá thể
ra thế giới bao la của vũ trụ. Mỗi ngƣời thông qua thơ để khám phá chính mình,
tu chứng lâu dài đến khi chín muồi, chỉ cần bắt gặp một hình tƣợng ngẫu nhiên nào
đó cũng đều có thể khơi dẫn đến cảnh giới giác ngộ. Tƣơng tự, những suy tƣ chất
chứa trong tâm tƣởng nhà thơ bắt gặp một hình ảnh nào đƣa đẩy, gợi nhắc, sẽ bùng
phát thành cảm hứng sáng tạo. Điều này Chu Quang Tiềm từng gọi là “sự phát sinh
của linh cảm”: “Linh cảm phát sinh do sự uẩn nhưỡng của tiềm thức nên nó xuất
12
hiện bất thình lình, nhưng không phải là không có sự chuẩn bị (…) Gọi là linh cảm,
chính là tích luỹ ẩn dấu cả một kho thuốc nổ để gặp có mồi lửa là nổ bùng”. Nhƣ
vậy, cái nhìn thức tỉnh theo quan niệm của Thanh Thảo thực ra là sự bừng tỉnh của
tiềm thức, là cái đột khởi của tƣ tƣởng đã đƣợc thai nghén lâu ngày.
Bên cạnh đó, thức tỉnh không chỉ là đặc trƣng của hành trình sáng tạo mà còn
là chức năng của thơ ca. “Thơ có ích không phải vì thơ giáo huấn ai, giáo dục ai,
cải tạo ai, mà vì thơ thức tỉnh con người trước cái “trăm năm”, thơ đặt con người
đối diện với nghìn năm, thơ cho con người một thoáng nhìn lại chính mình một cách
bình thản”. “Thơ luôn ở tầng ngầm, dòng sâu của dòng chảy cuộc sống. Nó chỉ chợt
đến với từng người, rồi chợt đi. Nhưng mỗi khoảnh khắc tiếp xúc ấy, thơ có thể
khiến con người bừng tỉnh, có thể khiến con người thay đổi (…).Và cái đáng quý
nhất ở thơ, là nó có khả năng khiến người đọc thơ, trong một chớp mắt, tự tách ra
khỏi bản thân mình để nhìn lại chính mình, như mặt trăng nhìn trái đất bằng một
ánh nhìn dịu dàng” (Tản mạn về thơ).
Nhƣng thơ không phải chỉ là sự tỉnh táo. Thanh Thảo từng viết: “Tôi xoay
những ô vuông. Có nhà thơ than rằng đời bây giờ tỉnh quá. Tôi, ngược lại, tôi
thích: tỉnh táo, tinh khôi, tỉnh bơ, tỉnh như sáo! Vì tôi biết, cái tình đó chỉ là phía
nhìn thấy được của đam mê” [24, 25]. Và cũng chính ông, trong một bài viết khác:
“Nhìn tỉnh quá chưa chắc đã có thơ hay. Và không nhìn thấy gì cả cũng chưa hẳn
thơ vụt sáng. Thơ vẫn là cái gì mờ mờ ảo ảo, vẫn là cái gì tôi vừa bắt được đó lại
vừa tuột đâu mất. Thơ vẫn là hình bóng, đôi khi là bóng của bóng nữa” (Người
cả hai nhà thơ cả. Đó là thách thức, và cũng là cái làm nên sức quyến rũ của thơ”
(Mười năm cõng thơ leo núi). Phẩm chất ấy góp phần quan trọng làm nên sức sống
bền bỉ của thơ ca vƣợt qua những giới hạn của đời ngƣời; ngƣợc lại, nếu thiếu nó,
thơ sẽ không thể nào tồn tại. Đó là cái khắc nghiệt mà nhà thơ phải đối diện trong
hành trình sáng tạo của mình.
* Quan niệm về nhà thơ
Lev Tolestoi từng có một câu nói: “Thân phận nhà thơ cao hơn thân phận
của chính bản thân anh ta”. Bên cạnh sống cuộc đời riêng của mình với tƣ cách là
một con ngƣời bình thƣờng, nhà thơ còn đa mang số phận của nghiệp cầm bút.
Anh ta phải lấy chính đời mình, chính những nghịch cảnh, những buồn đau
của mình làm đối tƣợng trƣớc tiên để suy nghiệm, mà mục đích cuối cùng không gì
14
khác là sáng tạo cái đẹp và kháng cự lại sự suy tàn. Theo Thanh Thảo: “Với người
nghệ sĩ, nhiều khi những nghịch cảnh lại là những đặc ân của số mệnh mà dẫu
muốn tránh, cũng không có cách gì tránh khỏi” (Văn Cao vẫn đồng hành với
chúng ta). Nhà thơ, nói đến cùng, luôn luôn và trƣớc hết chỉ hƣớng sự quan tâm
đến bản thân, thông qua nỗi đau của bản thân để nói về nỗi đau của nhân loại, bởi
hơn ai hết, nhà thơ hiểu rằng: “phàm làm thơ dù viết về ai, về cái gì cuối cùng cũng
nhằm bộc lộ mình” [25, 470], và “dù thi sĩ một phút thôi cũng không giấu nổi mình”
[24, 59]. Nhà thơ đi tìm thi hứng ở chính tâm hồn mình với tất cả những biến động
sâu thẳm của nó: “Nhà thơ là người đánh cá thả lưới vào chính mình, vào cái
khoảng biển đen sâu hút trong mình, mong được vài ba con cá, hay một nhánh san
hô, một ít rong rêu nào đó. Nghe được những cơn chấn động, dù nhỏ, người làm thơ
sở hữu được một tiếng nói. Biết chờ nó, lắng nghe nó, là anh đã có thơ. Chẳng có
“linh hồn văn hoá, thân xác thơ ca” nào cả, chỉ có một con người cô đơn đang lắng
nghe mình, sau khi đã “mở cửa” cho tất cả thế giới vào mình” [26, 2].
Do đó, đối với thi sĩ, thơ là chốn giãi bày nhƣng cũng là một hành trình cô
lọc, chỉ khi nào để yên cho thân thể mình lọc lại đời sống, rồi bất chợt nó bật ra cái
gì, thì đó mới là thơ” [25, 300].
Nội lực tự ngã mạnh mẽ khiến nhà thơ có khả năng “đi trƣớc” về trực giác.
Sự sáng tạo của nhà thơ không chỉ có ý nghĩa nhƣ một kiểu phát tiến cảm xúc hay
giải tỏa gánh nặng tinh thần, sứ mệnh cao cả hơn của anh ta là dự cảm. Từ chính
những ám ảnh của bản thân, nhà thơ phải tự hình thành cho mình một lý tƣởng thẩm
mỹ, để tác phẩm của anh ta không chỉ dừng lại ở mức độ phản ánh những gì đang
tồn tại mà còn hình dung về những giá trị có khả năng hình thành hay biến mất.
Năng lực dự cảm ấy của ngƣời nghệ sĩ là một yếu tố quan trọng tạo nên tiềm năng
tự tái sinh của nghệ thuật: “Nhà văn không chỉ phản ánh mà còn phải nhìn thấy
trước. Tác phẩm và nhân vật của họ không chỉ là tấm gương cố định hay “tấm
gương kéo trên đường” mà còn phải là tấm gương có khả năng tái sinh qua thời
gian, do những dự cảm về bản chất nhân vật, bản chất, hiện tượng của nhà văn đã
khiến tác phẩm như tự tái sinh trong mắt người đọc nhiều thế hệ” (Nhà văn “nhìn
thấy trước”). Quan điểm này của Thanh Thảo hết sức có ý nghĩa trong việc lý giải
sức sống và khả năng sinh tồn của văn chƣơng giữa một thời đại đầy biến động,
đồng thời nó cũng đặt ra sứ mệnh cho những ngƣời cầm bút, không chỉ tâm hồn của
16
họ mà còn với tinh thần của đời sống tinh thần của xã hội. Nhƣng dẫu luôn hƣớng
về tƣơng lai, thơ tuyệt đối không phải là sự phản bội hay cự tuyệt quá khứ: “Mỗi
nhà thơ đi qua cuộc đời này theo một lối riêng, và trong khi hướng về phía trước,
nhà thơ cũng biết nhìn về phía sau, về nơi từ đó mình ra đi” [25, 265]. Nhà thơ là
ngƣời không ngừng sống trong quá khứ, bởi đó là tất cả kinh nghiệm làm nên chiều
dày, chiều sâu tâm hồn của con ngƣời.
Mặt khác, nhà thơ, dù ở trong hoàn cảnh nào, phải luôn gìn giữ sự tự do
trong tâm hồn. Thanh Thảo quan niệm: “… thơ cần sự tự do tuyệt đối trong tâm hồn
người làm thơ” (Đường thơ, Đường nào?). Tự do tâm hồn là điều kiện tiên quyết
và ca ngợi sự suy tàn, thi ca – dù nó muốn hay không – vẫn bác bỏ sự sụp đổ, cái
chết và suy tàn. Thơ là sự khẳng định cuộc sống”.
Xuất phát từ một góc nhìn khác, Thanh Thảo cho rằng sáng tạo bên cạnh là
một hành trình tinh thần mang tính giải khuây còn là một phiêu lƣu đầy hứng thú và
nguy hiểm. Một mặt, “thơ đưa người làm thơ vào cách đi của người mộng du, đi
trong mơ với cặp mắt mở to, mở to những như không thấy gì, nghe tất cả mà cuối
cùng chỉ là tiếng văng vẳng” [25, 300]. Thơ là nguyên nhân đem lại niềm hứng khởi,
khoái cảm thẩm mỹ cho nhà thơ, đồng thời cũng là duyên cớ đem lại cho nhà thơ biết
day dứt, khổ sở. Nhƣng, vì tính hai mặt đó của thơ khiến con ngƣời không thể thiếu
thơ trong cuộc đời, bởi bản thân cuộc đời cũng là một bể hỗn độn vui - buồn, cƣời khóc. Nhà thơ Heine có lần tự hỏi liệu có phải thơ là căn bệnh của loài ngƣời, giống
nhƣ “viên ngọc thực ra chỉ là tác nhân khiến loài trai khốn khổ”(Samtliche Schriften
– Toàn tập tác phẩm). Nhƣ vậy, cho đến cuối cùng, thơ vẫn “mãi mãi là bí mật”, là
một kênh giải thoát cũng là một chốn “đày ải” tinh thần con ngƣời trong một niềm
say mê, khát khao không bao giờ dứt.
1.4. Hai tập thơ Dấu chân qua trảng cỏ và Khối vuông Rubic
1.4.1. Dấu chân qua trảng cỏ (1978)
Dấu chân qua trảng cỏ là một trong những tập thơ đầu tay của Thanh Thảo,
vừa trong sáng, hồn nhiên, vừa khiêm nhƣờng và giản dị. Tập thơ Dấu chân qua
trảng cỏ chủ yếu viết về vẻ đẹp tâm hồn của ngƣời lính. Nó không ồn ào nhƣ những
tiếng kèn xung trận của cả thế hệ đang náo nức ra trận. Nó cũng không bay bƣớm
“lãng mạn hoá” kiểu nhƣ thể thơ trữ tình cổ động “Không có kính không phải vì xe
không có kính” rất tài hoa, kích thích trực diện vào khí thế của ngƣời lính thời chiến
18
nhƣ thơ Phạm Tiến Duật, thơ Thanh Thảo thấm đƣợm vẻ đẹp bên trong tâm hồn, vẻ
đẹp vừa cƣờng tráng, lãng mạn lại vừa có ý tƣởng sâu xa… Với Dấu chân qua
trảng cỏ, Thanh Thảo đã khắc hoạ hình ảnh ngƣời lính trong vẻ đẹp mộc mạc, “thô
sơ và hực sáng”, trong ý thức về trách nhiệm, số phận của thế hệ mình trƣớc Tổ
dưới pháo sáng nhạt nhoà”
Trong khi đó, trƣờng ca Đêm trên cát lại mang phong vị khác. Nó có thể
đƣợc coi là bản trƣờng ca “thế sự” bên “bàn trà”. Đây là trƣờng ca mà Thanh Thảo
dành nhiều tâm huyết khi viết về một đêm của nhà thơ tài hoa, khí phách nhƣng
“làm loạn” Cao Bá Quát. Cấu trúc của trƣờng ca này gồm từng đoạn ngắn vài ba
câu, năm bảy câu nhƣng cô đọng, súc tích, vẽ lên bức chân dung tinh thần, nhân
cách của vị Thánh Quát dân tộc, trong đó có những câu rất hay: “ai thảnh thơi ăn
măng trúc mùa thu/ gió heo may ta cúi đầu từ biệt”
Trong cả tập thơ Khối vuông Rubic này, có lẽ bài thơ văn xuôi dài Khối
vuông Rubic là ấn tƣợng với bạn đọc nhất. Thanh Thảo đã để cho độc giả chơi trò
chơi Rubic, nhằm đƣa thể loại trƣờng ca tham gia vào cuộc chơi xoay và xoay bất
tận từ sử thi về chiến tranh đến những mảnh ghép của cuộc sống đời thƣờng. Thanh
Thảo đã cấu trúc Khối vuông Rubic thành 57 lần xoay. Mỗi lần xoay đều đƣợc mở
đầu bằng câu:“Tôi xoay những ô vuông”. Tác giả xoay theo ý mình, ngƣời đọc
tham gia chơi Rubic thì cứ tuỳ ý mà xoay những ô vuông cho thơ chuyển động tròn.
Mỗi ô màu là mỗi mảnh đời, mỗi giai đoạn, mỗi số phận khác nhau. Lối thơ đó của
Thanh Thảo rất lạ. Nó vừa là thơ, vừa là văn, vừa là kịch, vừa là phim.. nhƣng cuối
cùng vẫn cứ là thơ khi liên tục những vòng xoay Rubic vẫn còn chuyển động tròn.
Thanh Thảo gọi “Rubic - đó là cấu trúc của thơ”.
20