Báo cáo thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.S Phan Thị Thu Hà
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế giới tiến vào quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu xuất hiện hàng loạt các tổ
chức kinh tế thế giới cùng nhau vượt qua những khó khăn, thách thức để chung tay
xây dựng nền kinh tế ổn định và bền vững. Năm 2014 vừa qua là một năm đầy biến
động của nền kinh tế thế giới cũng như nền kinh tế của Việt Nam. Đánh dấu sự phục
hồi của nền kinh tế tuy còn chậm nhưng phần nào đã nói lên những sự cố gắng của
chính phủ các quốc gia. Nền kinh tế Việt Nam trong năm qua đã có những sự phát
triển đáng mừng như tăng trưởng GDP đã vượt lên chỉ tiêu - đạt 5,93%, lạm phát đã
giảm đáng kể - đạt hơn 2%, lãi suất tín dụng giảm…tạo điều kiện cho người dân và
doanh nghiệp có thể tiếp cận được với nguồn vốn. Đây là những mảng sáng của nền
kinh tế Việt Nam bên cạnh đó thì nền kinh tế vẫn còn nhiều mặt hạn chế. Vì thế các
doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp sản xuất vật liệu nói riêng đang phải đối mặt
với nhiều khó khăn, thách thức.Doanh nghiệp muốn đứng vững và phát triển trong nền
kinh tế như hiện nay thì nhà quản trị cần có cái nhìn tổng quát về tình hình tài chính
của đơn vị. Để làm được điều này thì việc phân tích báo cáo tài chính là một nhu cầu
cấp thiết. Với chức năng là công cụ quản lý tài chính, phân tích báo cáo tài chính cần
được chú trọng tổ chức thực hiện với các chỉ tiêu phân tích phù hợp giúp nhà quản lý
điều hành hoạt động quản lý doanh nghiệp hiệu quả nhất.
Ngành xây dựng, sản xuất vật liệu xây dựng là một ngành phần chiếm tỷ trọng
cao trong cơ cấu kinh tế của Việt Nam. Những năm qua các công ty trong ngành luôn
nỗ lực phấn đấu không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, lớn mạnh về
quy mô và có uy tính về chất lượng, đồng thời phải đặt việc nâng cao hiệu quả quản lý
là điều kiện thiết yếu để đạt được các mục tiêu trên. Công ty Cổ Phần Lạc An - Hà
Tĩnh là một công ty trong ngành xây dưng và sản xuất vật liệu xây dựng, được thành
lập và phát triển trong điều kiện nền kinh tế thị trường luôn biến động, không nằm
ngoài quy luật chung của toàn bộ nền kinh tế, khi nền kinh tế trong nước biến đổi thì
3. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: Thông qua các báo cáo tài chính, giáo
trình, mạng internet...tiến hành thu thập, nghiên cứu để tìm hiểu về hoạt động phân
tích báo cáo tài chính tại Công ty.
Phương pháp phỏng vấn trực tiếp: Phương pháp hỏi trực tiếp người cung cấp
thông tin, dữ liệu cần thiết cho việc nghiên cứu đề tài. Phương pháp này sử dụng trong
giai đoạn thu thập những thông tin cần thiết và số liệu thô liên quan tới đề tài.
Phương pháp nghiên cứu và tham khảo tài liệu: Nghiên cứu những tài liệu, giáo
trình, khóa luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
Phương pháp phân tích: là phương pháp dựa trên những số liệu có sẵn để phân
tích nhằm hiểu rõ hơn về vấn đề từ đó tìm ra nguyên nhân và giải pháp khắc phục.
Phương pháp so sánh: phương pháp xem xét các chỉ tiêu phân tích bằng cách
dựa trên việc so sánh số liệu với một chỉ tiêu cơ sở (chỉ tiêu gốc). Tiêu chuẩn để so
sánh thường là: Chỉ tiêu kế hoạch của một kỳ kinh doanh, tình hình thực hiện các kỳ
kinh doanh đã qua, chỉ tiêu các doanh nghiệp tiêu biểu cùng ngành. Các chỉ tiêu so
sánh phải phù hợp về yếu tố không gian, thời gian, cùng nội dung kinh tế, đơn vị đo
lường, phương pháp tính toán. Với hai hình thức là so sánh tuyệt đối và so sánh tương
đối từ đó để thấy được sự tăng giảm chỉ tiêu của phân tích.
4. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các lý luận cơ bản và thực tiễn về các chỉ số phân tích báo cáo tài
chính tại Công ty Cổ Phần Lạc An - Hà Tĩnh.
SVTH: Phạm Thị Tuyết
2
Lớp ĐH Kế Toán K53
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁC CHỈ TIÊU PHÂN TÍCH
BÁO CÁO TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. KHÁI NIỆM VÀ MỤC ĐÍCH CỦA PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1.1. Khái niệm báo cáo tài chính
Trong quá trình hình thành và hoàn thiện báo cáo tài chính có nhiều khái niệm
về báo cáo tài chính đã được đưa ra, mỗi tác giả lại có một khái niệm riêng. Tác giả
trích dẫn một số khái niệm về báo cáo tài chính sau:
Theo PGS. TS Nguyễn Ngọc Quang: “ Báo cáo tài chính là sản phẩm cuối cùng
của kế toán tài chính, cung cấp nhưng thông tin hữu ích cho mọi đối tượng trong nền
kinh tế thị trường cạnh tranh và phát triển. Song để các thông tin trên hệ thống báo cáo
biết “ nói” phải thông qua các phương pháp phân tích, các chuyên gia đánh giá khi đó
các thông tin mới có ý nghĩa cho các đối tượng quan tâm đưa ra các quyết định có độ
tin cậy cao”[7]
Theo PGS. TS Nguyễn Văn Công: “ Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng
hợp nhất về tình hình tài sản, vốn chủ sở hữu và công nợ cũng như tình hình tài chính,
kết quả kinh doanh, tình hình lưu chuyển tiền tệ và khả năng sinh lời trong kỳ của
doanh nghiệp. Báo cáo tài chính cung cấp các thông tin kinh tế - tài chính chủ yếu cho
người sử dụng thông tin kế toán trong việc đánh giá, phân tích và dự đoán tình hình tài
chính kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính được sử dụng
như nguồn dữ liệu chính khi phân tích hoạt động tài chính”[1]
Cũng theo TS Phan Đức Dũng thì: “Báo cáo tài chính (còn gọi là báo cáo kế toán
định kỳ) bao gồm những báo cáo phản ánh các mặt khác nhau trong hoạt động kinh tế - tài
chính của doanh nghiệp nhằm phục vụ yêu cầu quản lý đa dạng ở cấp độ vĩ mô lẫn vi mô.
Báo cáo tài chính định kỳ được Nhà nước quy định thống nhất về danh mục hệ thống các
chỉ tiêu taì chính phương pháp tính toán và xác lập từng chỉ tiêu cụ thể”[2]
Mỗi khái niệm được nêu ra tuy khác nhau về câu từ nhưng đều tương đồng về
bản chất và chức năng của Báo cáo tài chính. Qua quá trình tìm hiểu và nghiên cứu tác
giả đưa ra một khái niệm về Báo cáo tài chính sau:
“Báo cáo tài chính là những báo cáo được tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán
-
Doanh thu, thu nhập khác, chi phí kinh doanh và chi phí khác;
-
Lãi, lỗ và phân chia kết quả kinh doanh;
-
Thuế và các khoản nộp Nhà nước;
-
Tài sản khác có liên quan đến đơn vị kế toán;
-
Các luồng tiền.
Ngoài các thông tin này, doanh nghiệp còn phải cung cấp các thông tin khác
trong “Bản thuyết minh báo cáo tài chính” nhằm giải trình thêm về các chỉ tiêu đã phản
ánh trên các báo cáo tài chính tổng hợp và các chính sách kế toán đã áp dụng để ghi
nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, lập và trình bày báo cáo tài chính.
1.2. KHÁI NIỆM, Ý NGHĨA VÀ MỤC ĐÍCH PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI
CHÍNH
1.2.1. Khái niệm về phân tích báo cáo tài chính [7]
Theo PGS. TS Nguyễn Ngọc Quang: “ Phân tích báo cáo tài chính thực chất là
phân tích các chỉ tiêu tài chính trên hệ thống báo cáo hoặc các chỉ tiêu tài chính mà
nguồn thông tin từ hệ thống báo cáo nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh
của cấp trên, cơ quan tài chính, ngân hàng như: đánh giá tình hình thực hiện các chế
độ, chính sách về tài chính của Nhà nước, xem xét việc cho vay vốn.
Các báo cáo tài chính phản ánh kết quả và tình hình thực hiện các mặt hoạt động
của doanh nghiệp bằng các chỉ tiêu kinh tế. Những báo cáo này do kế toán soạn thảo
định kỳ nhằm mục đích cung cấp thông tin về kết quả và tình hình tài chính của doanh
nghiệp cho những người có nhu cầu sử dụng nó. Tuy nhiên nhu cầu sử dụng các thông
tin trên báo cáo tình chính lại rất khác nhau phụ thuộc vào mục đích của họ.
• Đối với nhà quản lý doanh nghiệp như chủ doanh nghiệp, Hội đồng quản trị,
Ban giám đốc: báo cáo tài chính cung cấp thông tin để doanh nghiệp phân tích, đánh
giá tổng hợp về thực trạng và tiềm năng tài chính, khả năng thanh toán, tình hình và
kết quả hoạt động kinh doanh, tình hình và thực trạng quản lý kinh tế tài chính, để từ
đó hoạch định các chính sách quản lý và sử dụng tài sản, chính sách huy động và sử
dụng vốn, chính sách quản lý doanh thu, chi phí và sử dụng các luồng tiền của doanh
nghiệp.
• Đối với những đối tượng sử dụng bên ngoài doanh nghiệp như các nhà đầu
tư, các chủ nợ, ngân hàng: thông tin trên báo cáo tài chính có thể giúp họ đánh giá tiềm
năng và thực trạng tài chính, thực trạng hoạt động kinh doanh và khả năng sinh lời, khả
năng thanh toán và những rủi ro, để có những quyết định hợp lý đối với việc đầu tư,
mức độ và thời hạn cho vay, lãi suất cho vay, đối với các nhà cung cấp và khách hàng
thông tin trên báo cáo tài chính có thể giúp họ có những đánh giá về triển vọng kinh
doanh và khả năng cung cấp nguồn hàng, khả năng thanh toán ngắn hạn, để có những
quyết định đúng đắn về các quan hệ kinh doanh, bạn hàng.
• Đối với người lao động: thông tin trên báo cáo tài chính giúp họ hiểu được
khả năng tiếp tục hoạt động, khả năng sinh lời và khả năng thanh toán, chi trả của
doanh nghiệp để họ có những quyết định việc làm và thu nhập.
• Đối với các cơ quan quản lý nhà nước như cơ quan quản lý tài chính, đăng
ký kinh doanh, cơ quan thuế và các cơ quan quản lý nhà nước khác: căn cứ vào thông
tin trên báo cáo tài chính để thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát tính tuân thủ pháp
SVTH: Phạm Thị Tuyết
Các chỉ tiêu tài chính là một bộ phận cấu thành của hệ thống chỉ tiêu kinh tế
nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp trong hiện tại và quá khứ để đưa ra
quyết định trong tương lai. Hệ thống chỉ tiêu phân tích báo cáo tài chính của doanh
nghiệp quyết định đến chất lượng của thông tin phục vụ cho các cấp quản lý, để đưa ra
các quyết định điều hành trên tất cả các lĩnh vực kinh doanh. Do vậy để đánh giá tổng
hợp kết quả của các hoạt động tài chính, cần xây dựng một hệ thống chỉ tiêu phân tích
báo cáo tài chính hoàn chỉnh có độ chính xác cao phục vụ tốt các yêu cầu quản lý của
doanh nghiệp và tổng thể nền kinh tế.
1.3.2. Cơ sở xây dựng các chỉ tiêu phân tích báo cáo tài chính
Hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính được xây dựng dựa trên các nội dung phân
tích đã đề ra theo yêu cầu quản lý tài chính của doanh nghiệp. Thông thường các nội
dung phân tích bao gồm phân tích khái quát tình hình tài chính, khả năng thanh toán,
phân tích luồng tiền, phân tích hiệu quả sử dụng tài sản và phân tích khả năng sinh lãi.
Tuy nhiên, với những doanh nghiệp khác nhau có thể có những yêu cầu khác nhau về
nội dung phân tích.
SVTH: Phạm Thị Tuyết
7
Lớp ĐH Kế Toán K53
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.S Phan Thị Thu Hà
• Hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính được xây dựng dựa trên đặc điểm hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp. Những doanh nghiệp thuộc các ngành kinh
doanh khác nhau có các đặc thù về hoạt động kinh doanh khác nhau. Hệ thống chỉ tiêu
xếp theo một trình tự xác định nhằm đánh giá hoạt động tài chính của doanh nghiệp
theo yêu cầu của các cấp quản lý và cung cấp thông tin cho các nhà quản lý để đạt
được các lợi ích mong muốn. Vì vậy ta có thể chia hệ thống các chỉ tiêu phân tích báo
SVTH: Phạm Thị Tuyết
8
Lớp ĐH Kế Toán K53
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.S Phan Thị Thu Hà
cáo tài chính theo các tiêu thức khác nhau để thuận tiện cho quá trình quản lý và sử
dụng trong hoạt động kinh doanh.
Hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp thường bao gồm nhiều nhóm
chỉ tiêu nhằm phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp một cách toàn diện, trên
nhiều khía cạnh khác nhau, đảm bảo đáp ứng được nhu cầu về phân tích tài chính cho
nhiều đối tượng khác nhau. Mặc dù giữa các nhóm chỉ tiêu có sự giao thoa nhưng
thông thường, hệ thống chỉ tiêu được chia thành các nhóm như sau: chỉ tiêu đánh giá
khái quát tình hình tài chính, chỉ tiêu phân tích cấu trúc và tình hình tài chính, chỉ tiêu
phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán, chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh
doanh, chỉ tiêu phân tích khả năng sinh lãi và chỉ tiêu phân tích rủi ro tài chính.
Ta có thể khái quát hệ thống chỉ tiêu phân tích báo cáo tài chính theo nội dung
kinh tế theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Các chỉ tiêu phân tích báo cáo tài chính trong doanh nghiệp
a. Nhóm chỉ tiêu phân tích khái quát tài sản, nguồn vốn của doanh nghiệp
nội bộ doanh nghiệp. Ngoài việc xem xét tình hình phân bổ vốn, doanh nghiệp và các
đối tượng quan tâm khác cần phân tích cơ cấu nguồn vốn nhằm đánh giá được khả
năng tự tài trợ về mặt tài chính của doanh nghiệp cũng như mức độ tự chủ, chủ động
trong kinh doanh. Điều này được phản ánh qua việc xác định tỷ suất tự tài trợ.
Tỷ suất tự tài trợ
=
Vốn chủ sở hữu
Tổng nguồn vốn
x 100 (%)
Chỉ tiêu này càng cao thì khả năng độc lập về mặt tài chính hay mức độ tự tài
trợ của doanh nghiệp càng lớn. Bên cạnh chỉ tiêu trên, doanh nghiệp cũng có thể sử
dụng chỉ tiêu tỷ lệ nợ để phân tích cơ cấu nguồn vốn. Chỉ tiêu này tính theo tỷ lệ giữa
nguồn vốn vay nợ và tổng nguồn vốn. Ngược với chỉ tiêu trên, tỷ lệ nợ càng lớn thì khả
năng độc lập về mặt tài chính hay mức độ tự tài trợ của doanh nghiệp càng thấp.
Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu là chỉ số phản ánh quy mô tài chính của công
ty. Nó cho ta biết về tỉ lệ giữa 2 nguồn vốn cơ bản (nợ và vốn chủ sở hữu) mà doanh
nghiệp sử dụng để chi trả cho hoạt động của mình. Hai nguồn vốn này có những đặc
tính riêng biệt và mối quan hệ giữa chúng được sử dụng rộng rãi để đánh giá tình hình
tài chính của doanh nghiệp. Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu được tính bằng cách
chia tổng nợ cho vốn chủ sở hữu:
Tỷ lệ nợ
=
Nợ phải trả
Tổng nguồn vốn
khoản công nợ tồn đọng nhiều sẽ dẫn đến tình trạng chiếm dụng vốn của nhau ảnh
hưởng đến uy tín của doanh nghiệp và làm cho các hoạt động kinh doanh kém hiệu
quả. Tình hình công nợ của doanh nghiệp ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và hiệu
quả sử dụng vốn do vậy doanh nghiệp phải thường xuyên phân tích tình hình công nợ
và khả năng thanh toán trong mối quan hệ mật thiết với nhau để đánh giá chính xác
tình hình tài chính của doanh nghiệp với thực trang như thế nào.
Phân tích tình hình công nợ
Các hệ số này đánh giá năng lực hoạt động thông qua tốc độ luân chuyển hàng
tồn kho, khả năng kiểm soát các khoản phải thu, phải trả thông qua tốc độ thu hồi các
khoản phải thu và thanh toán các khoản phải trả. Với năng lực hoạt động tốt và khả
năng kiểm soát các khoản phải thu, phải trả một cách hợp lý sẽ tạo cơ sở cho doanh
nghiệp có khả năng thanh toán tốt.
-
Phân tích tình hình phải thu của khách hàng thông qua các chỉ tiêu:
Số vòng quay phải thu khách
hàng KH
Doanh thu hoặc doanh thu thuần
=
Số dư bình quân phải thu khách hàng
Số dư bình quân các khoản phải thu của khách hàng được tính như sau:
Số dư bình quân phải thu của
khách hàng
=
GVHD: Th.S Phan Thị Thu Hà
Trong đó, số ngày của kỳ phân tích có thể là tính theo tháng (30 ngày), quý (90
ngày) hoặc năm (360 ngày). Nếu chỉ tiêu số ngày của một vòng quay các khoản phải
thu tính được lớn hơn thời hạn thanh toán thông thường của các hợp đồng bán hàng trả
chậm thì có nghĩa là doanh nghiệp đã không kiểm soát tốt các khoản nợ phải thu, điều
này là không tốt do làm tăng vốn bị chiếm dụng, tăng chi phí nợ quá hạn và có thể dẫn
đến không thu hồi được nợ.
-
Phân tích tình hình phải trả người bán thông qua các chỉ tiêu:
Để đánh giá khả năng kiểm soát các khoản phải trả, doanh nghiệp có thể sử
dụng hệ số quay vòng các khoản phải trả:
Hệ số quay vòng các
khoản phải trả NB
Giá trị hàng mua trả chậm/ Giá vốn
=
Số dư bình quân các khoản phải trả NB
Cũng tương tự như ở hệ số quay vòng hàng tồn kho và hệ số quay vòng các
khoản phải thu, trong hệ số trên, mẫu số được tính như sau:
Số dư bình quân các khoản
=
SVTH: Phạm Thị Tuyết
12
Lớp ĐH Kế Toán K53
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.S Phan Thị Thu Hà
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp là nội dung quan trọng để đánh giá chất
lượng tài chính và hiệu quả hoạt động. Để đánh giá khả năng thanh toán có thể sử dụng
các chỉ tiêu sau:
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát
=
Tổng tài sản
Tổng nợ phải trả
Đây là chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán tổng quát của doanh nghiệp. Chỉ
tiêu này thể hiện mối tương quan giữa tổng tài sản mà doanh nghiệp có thể sử dụng để
trả nợ và tổng số nợ phải trả. Chỉ tiêu này càng lớn thì khả năng thanh toán tổng quát
của doanh nghiệp cũng càng lớn. Ngược lại, nếu chỉ tiêu này càng nhỏ thì doanh
nghiệp càng mất dần khả năng thanh toán.
Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn
=
SVTH: Phạm Thị Tuyết
13
Lớp ĐH Kế Toán K53
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.S Phan Thị Thu Hà
để phản ánh khả năng chuyển đổi thành tiền của tài sản ngắn hạn nhanh hay chậm, từ
đó xác định tiềm lực của doanh nghiệp trong việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn,
có thể xem xét chỉ tiêu hệ số khả năng chuyển đổi thành tiền của tài sản ngắn hạn:
Tổng số tiền và tương đương tiền
Hệ số khả năng chuyển đổi thành tiền
=
của tài sản ngắn hạn
Tổng tài sản ngắn hạn
Nếu hệ số này càng lớn thì doanh nghiệp càng nhiều tiền để đảm bảo thanh
toán, ngược lại hệ số này càng nhỏ thì doanh nghiệp càng thiếu tiền để chi trả cho các
khoản nợ của mình. Tuy nhiên, thừa hay thiếu tiền đều gây ảnh hưởng không tốt đến
tình hình tài chính của doanh nghiệp. Nếu thừa sẽ gây ứ đọng vốn, còn nếu thiếu sẽ
không bảo đảm khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Thông thường, nếu hệ số này > 0,5 thì lượng tiền và tương đương tiền của
doanh nghiệp quá nhiều, thừa khả năng thanh toán, nếu < 0,1 thì doanh nghiệp lại
không đủ tiền để đáp ứng nhu cầu thanh toán nợ ngắn hạn.
Cũng có thể xem xét khả năng thanh toán của doanh nghiệp trên một góc độ
khác, đó là khả năng thanh toán các khoản lãi vay. Để đánh giá vấn đề này có thể sử
dụng hệ số phản ánh khả năng thanh toán lãi vay:
Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh
SVTH: Phạm Thị Tuyết
14
Lớp ĐH Kế Toán K53
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.S Phan Thị Thu Hà
Tương tự như chỉ tiêu hệ số luồng tiền trên doanh thu thì chỉ tiêu hệ số luồng
tiền trên lợi nhuận cho ta thấy được khả năng tạo tiền từ lợi nhuận của công ty. Hệ số
này càng cao chứng tỏ khả năng tạo tiền từ lợi nhuận của doanh nghiệp càng lớn và
ngược lại.
Hệ số luồng tiền trên
tài sản
=
Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh
Tổng tài sản
Chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá khả năng tạo tiền nhưng ở mức độ tổng
quát hơn, phản ánh mức độ tạo tiền từ việc sử dụng toàn bộ tài sản của doanh nghiệp.
Cung như hai hệ số trên, chỉ tiêu này càng lớn thì mức độ tạo tiền từ việc sử dụng toàn
bộ tài sản của doanh nghiệp và càng tạo điều kiện tốt cho hoạt động thanh toán của
doanh nghiệp và ngược lại.
Để đánh giá hiệu quả sử dụng của TSCĐ thì sử dụng các chỉ tiêu sau:
Sức sản xuất của
TSCĐ
=
Doanh thu thuần
Tổng TSCĐ bình quân
Trong đó: Tổng tài sản bình quân được tính như sau:
TSCĐ đầu kỳ + TSCĐ cuối kỳ
Tổng TSCĐ bình quân =
2
SVTH: Phạm Thị Tuyết
15
Lớp ĐH Kế Toán K53
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.S Phan Thị Thu Hà
Chỉ tiêu này cho biết một đồng giá trị TSCĐ đem lại cho doanh nghiệp bao
nhiêu đồng doanh thu thuần. Chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả sử dụng TSCĐ càng
lớn và ngược lại, sức sản xuất của TSCĐ càng thấp thì hiệu quả sử dụng tài sản cố định
càng giảm.
Sức sinh lợi của
Tổng TSNH
=
bình quân
2
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng TSNH bình quân dùng sản xuất kinh doanh
trong kỳ đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Sức sinh lợi của TSNH càng lớn thì hiệu
quả sử dụng TSNH càng cao và ngược lại. Bên cạnh chỉ tiêu sức sinh lợi của TSNH thì
ta cần xét đến chỉ tiêu suất hao phí TSNH như sau:
Suất hao phí của
TSNH
Tổng TSNH bình quân
=
Doanh thu thuần hay lợi nhuận sau thuế
Chỉ tiêu này giúp nhà phân tích biết được để tạo ra một đồng doanh thu thuần
hay lợi nhuận sau thuế thì cần phải đầu tư bao nhiêu đồng giá trị TSNH bình quân. Chỉ
tiêu này càng cao thì hiệu quả sử dụng TSNH càng thấp và ngược lại.
Bên cạnh hai chỉ tiêu trên, thì để đánh giá hiệu quả của TSNH nhà phân tích có
thể sử dụng chỉ tiêu hệ số vòng quay TSNH để phân tích tốc độ luân chuyển TSNH.
Hệ số vòng quay
TSNH
SVTH: Phạm Thị Tuyết
=
Doanh thu thuần
Tổng TSNH bình quân
=
trên doanh thu (ROS)
Doanh thu thuần
x
100 (%)
Trong chỉ tiêu trên, mẫu số là doanh thu thuần để tăng tính chính xác của chỉ
tiêu do doanh thu thuần phản ánh giá trị doanh thu thực sự được thực hiện trong kỳ.
Chỉ tiêu này đánh giá số lợi nhuận thực tế để lại cho doanh nghiệp chiếm bao nhiêu
phần trong doanh thu thuần. Do vậy, chỉ tiêu này càng cao thì phản ánh khả năng sinh
lãi của doanh nghiệp càng lớn.
- Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA):
Để đánh giá khả năng sinh lãi của doanh nghiệp một cách khái quát hơn, người
phân tích thường sử dụng chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản. Chỉ tiêu này phản
ánh một đồng tài sản bình quân của doanh nghiệp tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận
trước hoặc sau thuế.
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế
Lợi nhuận sau thuế
x
100 (%)
Tổng tài sản bình quân
Trong chỉ tiêu này, mẫu số được dùng có thể là giá trị tài sản bình quân hoặc giá
trị tài sản cuối kỳ. Tuy nhiên, tử số trong chỉ tiêu này phản ánh lợi nhuận được tạo ra
trong suốt cả kỳ nên việc lấy mẫu số là số bình quân sẽ hợp lý hơn là chỉ lấy số cuối
trên tổng tài sản (ROA)
và lãi vay trên tổng tài sản
Tổng tài sản bình quân
- Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Để đánh giá khả năng sinh lãi của vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp, người
phân tích có thể sử dụng chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu, chỉ
tiêu này chỉ rõ một đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu
nhập doanh nghiệp:
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế
Lợi nhuận sau thuế
x 100 (%)
VCSH bình quân
Cũng tương tự như ở chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản, mẫu số
có thể sử dụng vốn chủ sở hữu bình quân hoặc vốn chủ sở hữu cuối kỳ nhưng ta sử
dụng vốn chủ sở hữu bình quân với lý do tương tự .
trên VCSH(ROE)
=
Cũng với lý do để loại bỏ ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp, người
phân tích có thể sử dụng chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn chủ sở hữu
Lợi nhuận trước thuế
Tỷ suất lợi nhuận trước thuế
=
x 100 (%)
trên VCSH(ROE)
VCSH bình quân
Trong khi sử dụng các chỉ tiêu trên, người phân tích cũng có thể xem xét mối
quan hệ và tác động lẫn nhau giữa các chỉ tiêu này. Mối quan hệ đó được thể hiện như sau:
x
x
doanh thu ROS
quay Tài sản
tài chính
(ROE)
Như vậy, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu chịu ảnh hưởng của ba yếu tố là
tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, hệ số quay vòng của tài sản và đòn bẩy tài chính. Ba
yếu tố này tác động cùng chiều đến tỷ suất lợi nhuận trên VCSH
f.
Chỉ tiêu phân tích hiệu quả sử dụng chi phí
Chi phí trong kỳ doanh nghiệp chi ra thường bao gồm: Giá vốn bán hàng, chi
phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí tài chính, chi phí khác,…Đó là các
SVTH: Phạm Thị Tuyết
18
Lớp ĐH Kế Toán K53
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.S Phan Thị Thu Hà
khoản chi phí bỏ ra để thu lợi trong kỳ. Để đánh giá hiệu quả sử dụng chi phí thường
thông qua số liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh. Bao gồm các chỉ tiêu sau:
phí quản lý DN
Chi phí quản lý DN
Chỉ tiêu này cho biết, doanh nghiệp dầu tư 100 đồng chi phí quản lý DN thì thu
được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ DN càng tiết kiệm chi
phí quản lý.
- Tỷ suất sinh lời của tổng chí phí
Lợi nhuận trước thuế
Tỷ suất sinh lời của tổng
=
x 100%
chí phí
Tổng chi phí
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích doanh nghiệp đầu tư 100 đồng chi phí
thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ mức
lợi nhuận trong chi phí càng lớn, doanh nghiệp có thể tiết kiệm được các chi phí chi ra
trong kỳ.
h. Phân tích rủi ro tài chính thông qua đòn bẩy tài chính
Đòn bẩy TC là mối quan hệ giữa tổng số nợ và vốn chủ sở hữu, hay hệ số nợ.
Thông qua hệ số nợ người ta xác định được mức vốn góp của vón chủ sở hữu vơi số nợ
vay, nó có vị trí và tầm quan trọng đặc biệt và được coi như một chính sách tài chính
của doanh nghiệp. Gồm các chỉ tiêu:
Nợ phải trả
Hệ số nợ
=
Tổng nguồn vốn
Chỉ tiêu này phản ánh trong một đồng vốn kinh doanh mà doanh nghiệp đang sử
dụng thì có bao nhiêu đồng được hình thành từ các khoản nợ. Hệ số này càng lớn thì
SVTH: Phạm Thị Tuyết
Độ nhạy của đòn bẩy tài chính
=
% thay đổi của lợi nhuận sau thuế
% thay đổi của lợi nhuận trước thế và lãi vay
1.4. TÀI LIỆU PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH [9]
Để tiến hành phân tích báo cáo tài chính yêu cầu phải có những tài liệu cần
thiết, cung cấp thông tin đầy đủ và kịp thời. Thông tin mà nhà phân tích cần để phân
tích các chỉ tiêu là chính dựa trên cơ sở của bốn bản báo cáo tài chính của doanh
nghiệp. Bốn bản báo cáo này được lập theo Chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành
theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20 tháng 03 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ
Tài Chính bao gồm:
+ Bảng cân đối kế toán
+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
+ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
+ Bản thuyết minh báo cáo tài chính
• Đây chính là những tài liệu chủ yếu được sử dụng khi phân tích hoạt động tài
chính của doanh nghiệp.
1.5. PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Phương pháp phân tích là sự tổng hợp các cách thức, thủ pháp, công thức, mô
hình,… được sử dụng để nghiên cứu bản chất và quy luật vận động của các hiện tượng kinh
tế. Trong phân tích các chỉ tiêu báo cáo tài chính, nhà phân tích sủ dụng các phương pháp sau:
SVTH: Phạm Thị Tuyết
20
Lớp ĐH Kế Toán K53
Đây là phương pháp chủ yếu dùng trong phân tích hoạt động kinh doanh để xác
định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích. Để tiến hành được cần
xác định số gốc để so sánh, xác định điều kiện để so sánh, mục tiêu để so sánh.
- Xác định số gốc để so sánh:
+ Khi nghiên cứu nhịp độ biến động, tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu, số gốc
để so sánh là chỉ tiêu ở kỳ trước.
+ Khi nghiên cứu nhịp độ thực hiện nhiệm vụ kinh doanh trong từng khoảng
thời gian trong năm thường so sánh với cùng kỳ năm trước.
+ Khi nghiên cứu khả năng đáp ứng nhu cầu của thị trường có thể so sánh mức
thực tế với mức hợp đồng.
- Điều kiện để so sánh được các chỉ tiêu kinh tế:
SVTH: Phạm Thị Tuyết
21
Lớp ĐH Kế Toán K53
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.S Phan Thị Thu Hà
+ Phải thống nhất về nội dung kinh tế của chỉ tiêu
+ Đảm bảo tính thống nhất về phương pháp tính các chỉ tiêu
+ Đảm bảo tính thống nhất về đơn vị tính, các chỉ tiêu về cả số lượng, thời gian
và giá trị.
- Mục tiêu so sánh trong phân tích kinh doanh:
+ Xác định mức độ biến động tuyệt đối và mức độ biến động tương đối cùng xu
hướng biến động của chỉ tiêu phân tích.
Lớp ĐH Kế Toán K53
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.S Phan Thị Thu Hà
từng nhân tố ảnh hưởng trong khi đó giả thiết là các nhân tố khác cố định. Do đó để áp
dụng nó phân tích hoạt động kinh tế cần áp dụng một trình tự thi hành sau:
- Căn cứ vào mối liên hệ của từng nhân tố đến đối tượng cần phân tích mà từ đó
xây dựng nên biểu thức giữa các nhân tố
- Tiến hành lần lượt để xác định ảnh hưởng của từng nhân tố trong điều kiện giả
định các nhân tố khác không thay đổi.
- Ban đầu lấy kỳ gốc làm cơ sở, sau đó lần lượt thay thế các kỳ phân tích cho
các số cùng kỳ gốc của từng nhân tố.
- Sau mỗi lần thay thế tiến hành tính lại các chỉ tiêu phân tích. Số chênh lệch
giữa kết quả tính được với kết quả tính trước đó là mức độ ảnh hưởng của các nhân tố
được thay đổi số liệu đến đối tượng phân tích. Tổng ảnh hưởng của các nhân tố tương
đối tương đương với bản thân đối tượng cần phân tích.
• Phương pháp số chênh lệch: Là trường hợp đặc biệt của phương pháp thay thế
liên hoàn. Phương pháp này sử dụng khi các nhân tố có quan hệ với chỉ tiêu phân tích
được biểu diễn dưới dạnh tích, các nhân tích được sắp xếp theo thứ tự nhân tố số lượng
rồi đến nhân tố chất lượng. Khi thực hiện phương pháp này, muốn phân tích sự ảnh
hưởng của một nhân tố ta lấy phần chênh lệch của nhân tố đó nhân với trị số các nhân
tố khác, nhân tố chưa thay đổi trị số giữ nguyên ở kỳ gốc, nhân tố đã thay đổi trị số
chuyển sang kỳ phân tích, cứ như thế cho đến khi hết.
Phương pháp loại trừ được sử dụng trong cả ba loại hình phân tích: phân tích
trước, phân tích tác nghiệp và phân tích sau.
1.5.2.3. Phương pháp liên hệ
phát hiện ra những nhân tố đã ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích theo một trình tự nhất định.
Dưới góc độ nhà đầu tư cổ phiếu, một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất là
hệ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE). Do vốn chủ sở hữu là một phần của tổng
nguồn vốn hình thành nên tài sản, nên ROE sẽ phụ thuộc vào hệ số lợi nhuận trên tổng
tài sản. Mối quan hệ này được thể hiện bằng mô hình Dupont như sau:
Lợi nhuận
Tỷ suất sinh lời
của vốn chủ sở
=
hữu (ROE)
sau thuế
Vốn chủ sở
hữu
Tỷ suất sinh lời của
Vốn chủ sở hữu (ROE)
=
Lợi nhuận
Doanh
sau thuế
=
Như vậy qua khai triển chỉ tiêu ROE chúng ta có thể thấy chỉ tiêu này được cấu
thành bởi ba yếu tố chính là lợi nhuận ròng biên, vòng quay tài sản và đòn bẩy tài
chính.Trên cơ sở nhận biết ba nhân tố trên, doanh nghiệp có thể áp dụng một số biện
pháp làm tăng ROE như sau:
– Tác động tới cơ cấu tài chính của doanh nghiệp thông qua điều chỉnh tỷ lệ nợ
vay và tỷ lệ vốn chủ sở hữu cho phù hợp với năng lực hoạt động.
– Tăng hiệu suất sử dụng tài sản. Nâng cao số vòng quay của tài sản, thông qua
việc vừa tăng quy mô về doanh thu thuần, vừa sử dụng tiết kiệm và hợp lý về cơ cấu
của tổng tài sản.
– Tăng doanh thu, giảm chi phí, nâng cao chất lượng của sản phẩm. Từ đó tăng lợi
nhuận của doanh nghiệp.
1.5.2.5. Phương pháp đồ thị
SVTH: Phạm Thị Tuyết
24
Lớp ĐH Kế Toán K53
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.S Phan Thị Thu Hà
Phương pháp này dùng để minh họa các kết quả tài chính thu được trong quá
trình phân tích bằng các biểu đồ, sơ đồ, đồ thị qua đó mô tả xu hướng, mức độ biến
động của các chỉ tiêu nghiên cứu hay mối quan hệ kết cấu của các bộ phận trong tổng
thể. Phương pháp đồ thị gồm nhiều dạng: đồ thị hình cột, đồ thị hình tròn, đồ thị hình
đường, …được sử dụng tùy theo nội dung phân tích cho phù hợp.
Do đó trong quá trình phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp cần phải áp
SVTH: Phạm Thị Tuyết
25
Lớp ĐH Kế Toán K53