BÀI TIỂU LUẬN MÔN ĐỊA VĂN HÓA
Đề tài: Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên
của người Nga.
1:Lý do chọn đề tài:
Ngày nay, khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển, con người không còn phụ thuộc vào tự
nhiên nữa, mà chuyển sang giai đoạn cải tạo, chế ngự tự nhiên và chung sống hòa đồng cùng với
tự nhiên. Tận dụng thiên nhiên và chống chọi với tự nhiên luôn là vấn đề huyết mạch trong văn
hóa ứng xử. Có thể nói, tự nhiên có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của con người. Tự
nhiên không chỉ là môi trường sống, mà đó còn là môi trường để con người thích ứng, sáng tạo
ra những giá trị vật chất, tinnh thần.
Nước Nga, hay còn gọi là Liên Bang Nga, là một trong những nước trên thế giới có vị trí
địa lý vô cùng đặc biệt, trải dài trên phần phía bắc của siêu lục địa Á-Âu. Nga chiếm phần lớn
khu vực Bắc cực và cận Bắc cực. Đại hình đa dạng, khí hậu phức tạp, phân bố trải dài theo
đường kinh tuyến đã ảnh hưởng rất lớn đối với đời sống lao động của nhân dân Nga.
Qua việc tìm hiểu, nghiên cứu văn hóa ứng xử môi trường tự nhiên của con người Nga
dưới góc nhìn địa văn hóa, chúng ta sẽ trả lời được câu hỏi, địa lý, điều kiện tự nhiên có vai trò
như thế nào, chúng ảnh hưởng và chi phối ra sao đối với một nền văn hóa. Phải chăng điều kiện
địa lý là yếu tố tiên quyết và chủ đạo trong việc hình thành bản sác, phạm trù văn hóa của một
dân tộc?
2: Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và con người Nga:
2.1:Điều kiện địa lý của nước Nga:
2.1.1:Vị trí địa lý, phạm vi lãnh thổ:
Liên Bang Nga là một đất nước có diện tích lớn nhất thế giới với 17,1 triệu ki lô mét
vuông. Lãnh thổ trải dài từ Đông Âu đến Bắc Á. Liên Bang Nga có 11 múi giờ, giáp với 14 quốc
gia, cụ thể: Phía Bắc giáp với Bắc Băng Dương; phía tây bắc giáp với Na Uy, Phần Lan; phía tây
giáp với Ba Lan, Belaruts, Litva, Extonia; phía tây nam giáp với Ucraina; phía nam giáp với
Grudia, Adecbaigian, Cadăcxtan; phía đông nam giáp với Trung Quốc, Mông Cổ, Cộng hòa Dân
Với lợi thế về nhiều sông hồ sâu và rộng nhất thế giới, kinh tế, đời sống nhân dân Nga gắn
bó sâu sắc với sông hồ và việc phát triển, khai thác mạnh mẽ các nguồn tài nguyên nước: Thủy
điện, nuôi trồng thủy hải sản, đánh bắt, nuôi trai lấy ngọc, trồng trọt, chăn nuôi… nên các tuyến
định cư, khai khẩn kinh tế mới đều được bố trí xây dựng bên bờ sông.
Về đặc điểm khí hậu, khí hậu Nga nhìn chung là khắc nghiệt, phân biệt rõ mùa đông kéo
dài, thậm chí đến nửa năm, mùa hạ mát mẻ nhưng ngắn ngủi. Tháng lạnh nhất thường vào tháng
1, nóng nhất thường ở tháng 7. Có sự chênh lệch nhiệt độ lớn giữa các vùng. Vào màu đông,
nhiệt độ lạnh đi cả từ phía nam tới phía bắc và từ phía tây tới phía đông. Mùa hè có thể khá nóng
và ẩm, thậm chí tại Siberia và những vùng nội địa lại có khí hậu khô nhất.
Nguyên nhân là do khí hậu ở Nga được hình thành và ảnh hưởng dưới nhiều yếu tố xác
định. Khí ôn đới chiếm phần lớn diện tích. Diện tích to lớn của lãnh thổ và sự xa cách biển của
nhiều vùng dẫn tới kiểu khí hậu lục địa ẩm và cận Bắc Cực, cụ thể: Phía Bắc có khí hậu cận cực,
phần lớn Xibia nằm trong vùng băng giá lâu năm, còn phía Nam có khí hậu cận nhiệt, tuy nhiên,
khí hậu ở lục địa lại nóng, ấm do sự xa tách khỏi biển.
Tóm lại, đặc điểm tự nhiên của đất nước Nga có tính phân vùng, thể hiện rất rõ ở các bình
nguyên. Từ bắc xuống nam lần lượt thay đổi từ vùng hoang mạc Bắc cực, đài nguyên, rừng đài
nguyên, rừng taiga, rừng hỗn hợp, đến rừng thảo nguyên và bán sa mạc. Khí hậu thì dần về phía
đông càng mang tính chất lục địa hơn. Mặc dù gặp phải một số khó khăn do khí hậu khắc nghiệt,
cực giá vào mùa đông, trong khi lại khô hạn ở vùng nội địa, nhưng nhìn chung, nước Nga vẫn là
một nước siêu cường về lợi thế tự nhiên, có nhiều thuận lợi để phát triển kinh tế đa ngành: luyện
kim, hóa dầu, nông, lâm, ngư nghiệp,…
2.2:Chủ thể văn hóa (con người) Nga:
Dân số đông: 143 triệu người (2010), đứng thứ 8 thế giới với 160 sắc tộc. Nhìn chung, dân
số Liên Bang Nga có bốn đặc điểm sau:
-Dân số phân bố không đều, mật độ dân số ở các vùng có sự chênh lệch rất lớn. Khu vực
lãnh thổ thuộc châu Âu thì mật độ dân số dày đặc, còn dân số ở phần lãnh thổ thuộc châu Á thì
mật độ lại thưa thớt 3,5 người/k𝑚2 , trong khi đó, mật độ ở tây Bolia là 1 người/k𝑚2 . Khu vực có
dân số thưa thớt nhất ở Nga là ở vành đai hàn đới Bắc Băng Dương, mật độ dân số là 0,1 – 0,3
người/k𝑚2 .
-Tỷ trọng dân số thành thị lớn, chiếm 74%, dân số nông thôn chiếm tỷ trọng ít, khoảng
người Nga, vừa đối phó tính khắc nghiệt, vừa tận dụng nguồn lợi dồi dào từ tự nhiên trong ẩm
thực, chính là món trứng cá hồi. Có thể nói, món trứng cá hồi đã trở thành điểm nhấn sáng tỏa,
một trong những biểu tượng của ẩm thực Nga- luôn tươi lành,bổ dưỡng, hài hòa vị béo và đạm.
Các món ăn từ cá hồi và trứng cá hồi đã được người dân Nga sử dụng từ rất sớm. Trứng cá
hồi có hai loại, trứng cá hồi đỏ và trứng cá hồi đen. Cá hồi vốn luôn được người dân Nga mệnh
danh là “ Hoàng đế” của biển, hàm ý nói về tầm quan trọng, vai trò của nó đối với ẩm thực Nga.
Trứng cá sau khi được lấy từ bụng cá sẽ được bảo quản thận trọng. Sau đó được ướp muối và
phân loại cẩn thận. Người ta chia trứng cá theo dạng và độ béo của trứng. Trứng cá đen được
chia theo độ tuổi, độ đàn hồi của nó và mỗi loại có tên riêng. “King Black caviar” là loại trứng cá
tầm đã 20 tuổi, thường được đặt trên bàn của những vị vua chúa và những nhà triệu phú. Những
loại trứng cá 45 năm tuổi được gọi là “Rogen Osietra”, còn những loại trứng cá 85 tuổi được gọi
là “Caviar Imperial” thì được rót ra nhẹ nhàng như vàng. Trứng cá được chế biến thành nhiều
món ăn khác nhau, thường thì trứng cá sẽ dùng kèm bánh mì nướng, hoặc làm món bánh xèo
kếp, bên trong gói trứng cá hồi, ít sốt sữa đặc hoặc sốt phó mát, ít thịt lợn thái lựu. Người Nga
cũng có những nguyên tắc khi ăn trứng cá. Đó là những quy tắc về nghệ thuật. Trứng cá hồi sau
khi lấy ra sẽ được bảo quan ngay trong dụng cụ chuyên thiết kế để bảo quản trứng cá làm từ
băng. Người ta sẽ đựng trứng cá bằng vỏ sò, chén, đĩa bằng gỗ, gốm, sứ… nhưng tuyệt đối cấm
kị đựng trứng cá hồi bằng vật dụng bằng bạc hay kim loại, vì bạc hay kim loại sẽ nhanh chóng
làm trứng cá bị oxi hóa, mất đi độ tươi ngon của sản phẩm. Trứng cá hồi khi ăn vào miệng sẽ
cảm nhận từng trái trứng vỡ lụp bụp trong vòm họng, trứng có vị hơi tanh của cá và hơi dầu.
Trứng cá béo, săn tròn, bóng láng, không bết vào nhau, ít vị muối luôn có giá trị cao nhất, còn
trứng mềm và nhiều dầu là loại trứng chất lượng thấp. Người dân Nga luôn tự hào về cá hồi và
trứng cá hồi Nga luôn là một món ăn bổ dưỡng, có giá trị kinh tế cao và có thương hiệu trong
làng ẩm thực thế giới.
Vào mùa đông, nhiệt độ có thể xuống tới -20 độ C, vì thế, các thức ăn béo, giàu năng lượng
như bánh mì, trứng, bơ hay sữa là rất cần thiết. Bởi vậy, trong khẩu phần ăn của người Nga,
không thể thiếu các sản phẩm chế biến từ bơ, sữa.
Do đặc điểm khí hậu, cảnh quan tự nhiên, người dân Nga luôn chú ý tận dụng, bổ sung tối
bánh mì nóng hổi, vừa ra lò, và người khách sẽ phải hôn lên chiếc bánh, rồi dùng dao cắt ra một
miếng nhỏ, rắc lên ít muối rồi ăn, để bày tỏ thành ý cảm ơn của mình.
Sủi cảo Nga được làm từ bột mì cũng là món ngon được ưa chuộng. Bánh sủi cảo có nguồn
gốc từ Tây Bolia. Người Tây Bolia nổi tiếng với nghề săn bắn, khi đi săn, họ thường mang theo
ít bánh sủi cảo. Trong khí hậu rét mướt, tuyết rơi lạnh lẽo, những người thợ săn thường nhóm
lửa, nấu một nồi bánh sủi cảo lớn với nước sôi, vừa để sưởi ấm, vừa để no bụng. Cho đến nay,
bánh sủi cảo Nga vẫn được gọi là bánh Tây Bolia.
Về thức uống, tận dụng những nguyên liệu có sẵn xung quanh, người dân Nga đã chế biến
ra một loại đồ uống truyền thống, không cồn, có tác dụng giải nhiệt rất tốt, đó là Kvas. Kvas
được làm từ bột lúa mạch đen, sau khi lọc lấy những chất tan trong nước, người ta bổ sung nước
củ cải, men bánh mì, pha thêm đường rồi ủ lên men. Người Nga chế biến và sử dụng Kvas đã
hơn 1000 năm. Đây là một loại nước uông có mùi thơm, vị dễ chịu và có gas. Kvas ttacs động tốt
đến quá trình tiêu hóa nhờ có các vi khuẩn tạo ra axit hữu cơ, vitamin và các chất khoáng khác
trong thành phần của nó. Hơn nữa, Kvas lại ít lượng đường nên không gây béo phì. Có thể nói,
thức uống Kvas như một sản phẩm “men tiêu hóa” tích cực, giúp cơ thể cảm thấy thoải mái hơn,
trong chế độ ăn giàu đạm và chất béo hằng ngày.
Nhân dân Nga còn dùng mầm lúa mạch, lúa mì trong việc chưng cất nên các loại đồ uống
có cồn như: Sbiten, Yuri Dolgoruki, Russky Standart, Putinka… và rượu Vodka trứ danh.
Nhưng nhìn chung, thức uống hằng ngày của người dân Nga vẫn là trà và cà phê. Vì khí hậu
lạnh và khô, cho nên dù là trà hay cà phê, khi uống đều được pha rất loãng và dùng ngay khi còn
nóng. Người Nga dùng trà kèm với một vài lát chanh xắt mỏng, hoặc cho thêm sữa. Bên cạnh đó
còn có một đồ uống nổi tiếng là Sbiten, được làm từ mật ong và thêm chút hương liệu khác như
dâu.
Có thể thấy, ẩm thực Nga là sự kết hợp hoàn hảo giữa nguồn tài nguyên dồi dào sẵn có
trong tự nhiên, sự ưu ái của địa lý, bàn tay khéo léo, tấm lòng cởi mở hồn hậu. Vượt trên sự
khắc nghiệt của thời tiết, người Nga đã tạo ra một nền văn hóa ẩm thực đậm đà bản sắc dân tộc.
3.2:Con người đối phó với tự nhiên qua trang phục:
Do khí hậu khắc nghiệt, trang phục thường ngày của nhân dân Nga không thể thiếu những
ở Vlamishen thì có đặc điểm các họa
tiết phức tạp, màu sắc rực rỡ hơn,
nhưng cũng không làm mất đi sự hài hòa.
Sarafan là kiểu áo liền váy, rất phổ biến ở Nga. Phổ biến
đến độ người dân dùng nó cho cả năm, do đó, tùy mùa mà
Sarafan sẽ có thay đổi, biến chế cho phù hợp. Mùa đông,
Sarafan dày, có lớp da hoặc lông thú. Người Nga thường mặc áo bông bên trong và mặc thêm
Saragan ở bên ngoài, sau đó còn choàng thêm khăn lông dày ở cổ, vì thế, Sarafan có tác dụng
chống lạnh rất tốt. Khi thời tiết trở nên ấm áp và mát dịu hơn, phụ nữ Nga sẽ mặc Sarafan dệt
bằng bông.
Bề mặt Sarafan thường được in hoa, có họa tiết điểm xuyến, ngoài ra còn có thêm dải lụa
hài hòa, khiến trang phục thêm sinh động, tự nhiên. Đây cũng là trang phục phụ nữ nông dân
Nga thời xưa.
Do ảnh hưởng bởi điều kiện khí hậu mà trang phục Sarafan ở các vùng khác nhau về kiểu
dáng. Ở phía Bắc giá rét, Sarafan được thiết kế có liệu dày, lớp bông lót bên trong, và thường dệt
thủ công, dùng loại bông dày để dệt, thường có màu xanh, xanh da trời, trắng. Sarafan ở
Matxcơva thì cầu kì hơn, người ta dùng da dê, chất liệu và màu sắc tương đối cao cấp và cầu kỳ.
Nếu xét về sự đối lập của Sarafan và Poneva, thì có lẽ là ở công năng sử dụng. Ở miền Bắc,
Sarafan ( áo ấm dày) đóng vai trò chủ chốt, còn ở miền Nam nước Nga, Poneva ( váy ống dài )
lại phổ biến và quan trọng hơn. Poneva là trang phục ở các tỉnh phía Nam, gần Châu Âu:
Voronezzh, Kaluga, Kursk, Riazan, Tambov, Tula, Orlov, Smolensk,... Áo Sarafan thường sử
dụng ở các vùng thuộc châu Âu của nước Nga, trên dãy Ural, Siberi, dãy Altai, Arkhalelsk,
Vologod, Novogorod, Olonets,…
Bên cạnh đó còn có Suba (còn gọi là áo khoác da), là trang phục chống lạnh không thể
thiếu vào mùa đông của người Nga. Suba có thể dùng chất liệu da chồn, da dê, da chó, da
thỏ,…để may thành. Từ rất lâu, Suba của người Nga còn được gọi là áo da dê. Sau này còn xuất
hiện trang phục bằng lông vũ. Nhưng chất liệu may mặc bằng da vẫn được người Nga ưa chuộng
điện hay nhà thờ đều được làm từ chất liệu này. Bàn tay sáng tạo, trí tuệ, khả năng ứng dụng của
dân tộc Nga đã khiến cho kiến trúc gỗ đạt đến một trình độ huy hoàng, đến mức mà có những
khu kiến trúc phức hợp chỉ được thiết kế, xây dựng bằng duy nhất chất liệu gỗ. Các công trình
nguy nga, diễm lệ, độc đáo, độc nhất từ gỗ, ví dụ: nhà thờ Kizhi, Suzdal, Peredki, St.George,…
đã phản ánh phần nào về nguồn tài nguyên rừng đồ sộ ở đây.
Ngoài gỗ, người Nga còn dùng gạch, đá, vôi. Khoa học hiện đại càng tạo điều kiện cho
kiến trúc Nga phát triển với nhiều chất liệu xây dựng tiên tiến, hiện đại.
Các nhà thờ, lâu đài, thánh đường… với kiểu mái vòm đặc trưng, dáng như những ngọn
đuốc, được xây dựng bằng những bức tường đá trên nền một không gian thoáng đạt. Những
công trình tôn giáo, chính trị luôn được thiết kế nổi bật với những mái vòm cong hùng vĩ, tường
thành cao vút, những tòa tháp trập trùng xếp cạnh nhau, màu sắc trang nhã, điềm đạm, các công
trình này đều nhấn mạnh tính bề thế, tạo cảm giác choáng ngợp về không gian cho người nhìn.
Rõ ràng, hình ảnh tự nhiên với những ngọn núi cao trùng điệp, phủ nhòa tuyết trắng đã trở thành
nguồn cảm hứng xuyên suốt cho những người nghệ nhân thiết kế, xây dựng những công trình vĩ
mô của mình. Do đó mà những công trình kiến trúc độc đáo này đã hòa hợp tài tình với khung
cảnh xung quanh, biến thiên nhiên trở thành tấm phông nền cho công trình tỏa sáng.
Để ứng phó với cuộc sống mưu sinh trong điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, cần phải có sức
mạnh cộng đồng, do đó, ở Nga đã hình thành thôn trang, một hình thức sinh sống chủ yếu của
người Nga. Thôn trang là một thôn rộng lớn, có một nhà thờ làm trung tâm, các căn nhà gỗ của
cư dân phân bố, quây quần xung quanh.
Tận dụng những vật liệu dễ kiếm, người dân Nga đã tạo nên những ngôi nhà gỗ độc đáo.
Nhà gỗ tuy đa dạng, nhưng xét về kết cấu thì có hai loại: chỉ dùng gỗ để xây dựng khung giàn,
vách tường dùng chất liệu khác và kiểu nhà dùng gỗ hoàn toàn. Những ngôi nhà hoàn toàn xây từ
gỗ có một phương pháp xây dựng đặc biệt khiến cả thế giới ngưỡng mộ, đó là không hề có một
vết búa, một dấu đinh trong kiến trúc, đặc biệt một số ngôi nhà ở miền Bắc nước Nga.
Kiểu xây dựng nhà ở bằng khung giàn gỗ vẫn phổ biến hơn, cho đến tận ngày nay, một số
tỉnh hẻo lánh ở miền núi vẫn còn sử dụng kiểu nhà này. Thời gian từ thế kỷ 12-19, kiểu kết cấu
khung giàn bằng gỗ và phần tường bằng hỗn hợp dăm, đá vụn, đất sét trét vữa bên ngoài phổ
nghệ hiện đại như máy cắt gỗ công nghiệp điều khiển bằng phần mềm máy tính. Ở trong ngôi
nhà khung gỗ dùng các vật liệu tự nhiên không có chất phụ gia có cảm giác ấm cúng hơn, không
bức bối khó chịu như trong nhà bêtông và đặc biệt tốt cho người mẫn cảm, dễ bị dị ứng.
3.4:Con người chinh phục địa hình,khoảng cách địa lý bằng phương tiện đi lại:
Với sức mạnh kinh tế, khoa học kĩ thuật, dân tộc Nga không gặp nhiều trở ngại khi di
chuyển trong điều kiện khí hậu bất lợi của đất nước mình. Cụ thể, giao thông vận tải ở Nga rất
phát triển, hệ thống đường sắt ở Nga có tổng chiều dài là 149.000km, đường cao tốc 952km, tàu
điện ngầm là phương tiện vận chuyển chủ yếu ở các vùng đô thị, Matxcơva đứng đầu thế giới về
lượng vận chuyển hành khách, mỗi năm có đến 2,5 tỉ lượt người sử dụng tài điện ngầm, bởi vì
tàu điện ngầm vừa nhanh chóng, tiện lợi lại vừa có thể tránh tuyết lạnh do chạy sâu dưới lòng
đất.
Do đặc điểm khí hậu lạnh giá, tuyết bao phủ nhiều nên các phương tiện công cộng luôn là
giải pháp di chuyển được người dân chọn lựa: xe buýt, tàu cao tốc, tàu điện, taxi… Bên cạnh các
phương tiện cá nhân có động cơ: ô tô, mô tô, xe điện…người Nga thường chọn những phương
tiện cá nhân nhỏ gọn, dễ di chuyển trong điều kiện tuyết rơi như: xe đạp, ván trượt cá nhân,..
Hơn nữa, việc sử dụng những phương tiện sử dụng sức người này sẽ giúp xua đi cái rét hiệu quả.
Nga có vị trí tiếp giáp với nhiều biển lớn nhỏ, vì vậy Nga có rất nhiều cảng và hải cảng, đội
thương thuyền của Nga là một phương tiện quan trọng để kết nối Nga với các quốc gia khác trên
thế giới.
Đường hàng không Nga có khoảng trên 300 công ty hàng không với 2.743 sân bay, chỉ
riêng thành phố Matxcơva đã có đến 4 sân bay quốc tế, vì thế tiềm lực phát triển kinh tế, thông
thương, du lịch ở Nga là vô cùng thuận lợi.
Để đối phó với tình trạng băng tuyết rơi dày, gây cản trở giao thông, nước Nga luôn chú ý
phát triển đội ngũ xe dọn tuyết trên đường phố, tàu phá băng, thậm chí là robot điều khiển từ xa.
Con người Nga luôn nỗ lực sử dụng mọi cách để vượt lên, chống chọi lại những bất lợi của thiên
nhiên.
Bên cạnh việc sử dụng phương tiện giao thông hiện đại, nhân dân Nga còn di chuyển bằng
ngựa, xe ngựa, cỗ xe tam mã, tứ mã, đôi chỗ dùng bò. Nhưng những phương tiện bằng sức kéo
Do ưu thế có tự nhiên nhiều sông hồ đóng băng suốt mùa đông dài làm môi trường tập
luyện, người Nga làm quen với bộ môn thể thao trượt băng từ bé, Đội tuyển Nga luôn là một đối
thủ đáng ghờm, thống lĩnh bảng xếp hạng của bộ môn trượt băng nghệ thuật thế giới.
3.5:Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến các hoạt động khác của con người:
3.5.1: Tư duy, tính cách dân tộc:
Điều kiện tự nhiên, nhân tố thời tiết đã ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành tư duy, tính
cách của con người Nga. Sinh sống trên lãnh thổ nơi mùa đông kéo dài đến gần nửa năm, người
Nga đã tạo cho mình một sức mạnh ý chí lớn lao, tính kiên trì trong tranh đấu vì sự sống còn
trong điều kiện khí hậu giá lạnh. Nhiệt độ thấp trong suốt phần lớn của năm đã ảnh hưởng đến
khí tính dân tộc.
Mùa đông Nga khắc nghiệt ảnh hưởng đến truyền thống hiếu khách của người Nga. Từ
chối người đi đường trong điều kiện khí hậu mùa đông có nghĩa là đẩy họ vào cái chết lạnh. Vì
vậy, tính hiếu khách được người Nga hiểu là nghĩa vụ.
Tính khắc nghiệt và hà khắc của thiên nhiên dạy cho người Nga tính chịu đựng và biết
lắng nghe. Để có đủ sức mạnh để vượt lên hoàn cảnh, phải kể đến tinh thần lạc quan, niềm tin
cuộc sống vô bờ của nhân dân Nga. Người Nga quý những ngày làm việc sáng sủa, vì những
ngày này không nhiều. Lòng yêu lao động là một phẩm chất nổi bật ở người Nga.
Ta có thể khẳng định, khí hậu,điều kiện tự nhiên đã góp phần không nhỏ, đã ảnh hưởng đa
diện đến tư duy, phẩm chất của dân tộc Nga.
3.5.2: Lễ hội, vui chơi:
Khí hậu tuy gây nhiều trở ngại, nhưng bù lại, sản lượng tài nguyên trong tự nhiên lại rất
phong phú, dồi dào, cộng với tinh thần luôn lạc quan, yêu đời, sôi nổi và mến khách, người Nga
rất thích những buổi tiệc, những ngày lễ hội và luôn hết mình trong những dịp ấy.
Bên cạnh các lễ hội truyền thống và các ngày lễ chính thức của Nhà nước Nga, như: Ngày
lễ Năm mới, Giáng sinh, ngày Bảo vệ Tổ quốc, Phục sinh, ngày Kiến thức,… có một số lễ hội
dân gian truyền thống, thể hiện ước mong của nhân dân Nga trước sức mạnh thiên nhiên ngày
ngày tác động vào cuộc sống lao động của họ. Tiêu biểu là lễ hội Tiễn mùa đông-một trong
những lễ hội khó quên của đất nước Nga.
ngay trong gia đình để tiễn mùa đông, đón mùa xuân), Lễ hội mùa xuân, Lễ Chăn cừu vào mùa
xuân, lễ hội Ivan Kupala mùa hạ .
Bắt đầu buổi lễ Ivan Kupala, người ta trải cuộn rơm lên bàn, phủ tấm khăn trải bàn lên
trên, đặt lên đó một hũ cháo đại mạch trộn mật ong theo phong tục. Khi chủ và khách ăn xong,
phần còn lại đem để ra ngoài sân cho thần băng giá, mọi người hát bài hát cầu xin thần đừng làm
hại hoa màu. Tiếp đó, các em nhỏ xuất hiện, chúng đeo mặt nạ, đội lốt con dê, con sếu, con gấu...
những con vật gần gũi với người nông dân Nga. Những đứa trẻ cùng nhau hát những lời cầu
mong mùa màng bội thu và nhận những đồng tiền nhỏ từ người lớn.
Hội Ivan Kupala mùa hạ thì khác. Trong ngày hội, các cô gái bói tìm người yêu bằng cách
bện các vòng hoa, thả chúng xuống sông trong đêm Ivan Kupala. Trên các bãi cỏ trong rừng,
những người mạnh bạo nhất nhảy qua đống lửa trong tiếng cười và tiếng hò hét, khích lệ của
người xem. Trong đêm hội mùa hè ngắn ngủi, nam nữ thanh niên rủ nhau vào rừng, họ tin rằng,
trong những cánh rừng âm u, điều huyền bí nhất có thể xảy ra.
Lễ hội Chăn cừu là một hội có từ thời xa xưa, hội diễn ra vào mùa xuân. Sau những ngày
mùa đông, tuyết bắt đầu tan, cây cỏ, thảo nguyên bừng thức.
Những con cừu bị nhốt trong chuồng, ăn cỏ khô suốt mùa đông, giờ đây được đưa lên các
thảo nguyên, hít thở khí trời trong lành, ăn cỏ non. Những người chăn cừu phải tạm biệt gia đình
đi theo, chăm sóc, quản lý đàn cừu. Do vậy, người ta tổ chức ngày hội chăn cừu để tiễn những
người chăn cừu lên núi. Ngày hội mở đầu bằng tiếng kèn hiệu trembita lớn. Người chăn cừu ăn
mặc quần áo dân tộc sặc sỡ nhiều màu sắc, mang kèm theo những nhạc cụ truyền thống. Theo
sau họ là những chiếc xe ngựa chở đồ trang trí bằng những tấm thảm thêu. Một số người đóng
vai chăn cừu đứng trên thùng xe biểu diễn những tiết mục hài, vui nhộn, hoặc tái hiện những
cảnh tượng sinh động phản ánh sinh hoạt của người chăn cừu như vắt sữa, nấu pho-mát từ sữa
cừu. Ở một bãi cỏ gần nhất trên sườn núi, người ta đã chuẩn bị sẵn một đống củi lớn để đốt.
Người chăn cừu nhiều tuổi nhất nhóm lửa dùng roi chăn cừu dài, vung lên vài lần, đập vào đống
lửa ra hiệu lệnh bắt đầu buổi lễ hội. Người ta nhảy các điệu nhảy dân tộc, điệu nhảy rồng rắn,
mời nhau nếm pho-mát cừu, uống rượu sữa cừu, ăn bánh ngọt. Sau đêm hội là những ngày làm
việc bình thường của người chăn cừu.
nổi tiếng trên văn đàn thế giới: “Sông đông êm đềm”, “Số phận con người” của Sôlôkhôp; “Con
đầm bích” của Aleksandr S.Pushkin; “Chiến tranh và hòa bình”, “Chuông nguyện hồn ai” của
Lev N.Tolstoy; “Bút ký người đi săn” của Ivan Turgenev, “Thời thơ ấu” của Maksim Gorky,…
Bên cạnh đó là kho tàng văn học dân gian: truyện cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, thơ, dân
ca,… cũng phản ánh sâu sắc đời sống con người, gắn chặt với với điều kiện địa lý nước Nga.
Trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày, nhằm đối phó với khí hậu rét mướt, nhân dân Nga
đã có những sáng tạo đồ vật không chỉ đáp ứng hiệu quả công năng sử dụng, mà còn trở thành
biểu tượng văn hóa.
Ấm Samovar thực sự không chỉ là một vật dụng quen thuộc trong cuộc sống hằng ngày của
người Nga, mà đó còn là một thành quả nghệ thuật, biểu
tượng cho văn hóa độc đáo, khả năng ứng xử với tự nhiên
của cả dân tộc Nga. Đến nay vẫn chưa thể biết chính xác
chiếc ấm Samovar đầu tiên ra đời khi nào, nhưng nhiều
nghiên cứu cho rằng, chiếc ấm được sáng chế vào cuối thế
kỉ 13.
Do tác động tiêu cực của thời tiết buốt giá quanh năm,
thậm chí có lúc, nhiệt độ xuống thấp cực độ là -20𝑜 𝐶,
người Nga có thói quen uống trà, cà phê pha loãng, loãng
đến độ một người có thể uống một lít cà phê là bình thường,
và phải luôn luôn dùng nóng để sưởi nhiệt. Ấm Samovar ra
đời, đây là một loại ấm bằng kim loại có thể giữ nhiệt cho nước để pha trà, đun trà, cà phê.
Người ta có thể đốt than hoặc củi theo một đường ống thẳng đứng giữa ấm, và nhiệt độ của nó sẽ
nhanh chóng làm sôi nước dùng pha trà. Trên đỉnh ấm là một bình nhỏ để trà hoặc cà phê. Trong
bình này này, người ta sẽ để trà hay cà phê đặc, sau đó những tinh chất từ trà, cà phê sẽ được hòa
tan vào nước nóng bốc lên từ ấm Samovar. Thân ấm có một chiếc vòi để chiết nước từ ấm ra
tách.
Tùy theo mục đích sử dụng trong gia đình, bàn tiệc hay công xưởng mà ấm Samovar có
2: Huỳnh Đào; “Văn hóa các nước châu Âu”; nxb
3: Trần Trọng Đăng Đàn; “Nước Nga tình yêu và nỗi nhớ: những kỷ niệm sâu và đẹp về
đất nước Nga, con người Nga”; nxb Văn học; 2008.
-Internet:
1: />2: />3: />4: />5: />6: />7: />8: />9: />10: />
1: /> /> /> /> /> /> /> /> /> />