TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
NGUYỄN THỊ THU
LỬA THIÊNG CỦA HUY CẬN
TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
HÀ NỘI - 2015
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
NGUYỄN THỊ THU
LỬA THIÊNG CỦA HUY CẬN
TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. LA NGUYỆT ANH
HÀ NỘI - 2015
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................ 1
2. Lịch sử vấn đề .............................................................................................. 2
3. Mục đích nghiên cứu ................................................................................... 3
4. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................. 4
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.............................................................. 4
6. Phƣơng pháp nghiên cứu............................................................................ 4
7. Đóng góp của khóa luận ............................................................................. 4
8. Bố cục của khóa luận .................................................................................. 5
NỘI DUNG....................................................................................................... 6
Chƣơng 1. GIỚI THUYẾT CHUNG............................................................. 6
1.1. Khái niệm văn hóa, văn học .................................................................... 6
1.1.1. Khái niệm văn hóa ................................................................................. 6
1.1.2. Khái niệm văn học.................................................................................. 7
1.1.3. Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học .................................................. 8
1.2. Huy Cận và quá trình kiến tạo những giá trị văn hóa ......................... 9
1.2.1. Tác giả Huy Cận và quá trính sáng tác ................................................ 9
1.2.2. Tập thơ Lửa thiêng nhìn từ không gian văn hóa thời đại ................. 11
Chƣơng 2. CẢM THỨC VĂN HÓA TRONG LỬA THIÊNG
CỦA HUY CẬN .............................................................................................. 14
2.1. Những trầm tích văn hóa trong Lửa thiêng ......................................... 14
2.2.1. Cảm thức làng ấp iu, nồng đượm mang hơi thở ca dao .................... 14
2.1.2. Cảm thức hoài cổ với hồn buồn Á Đông ............................................ 19
2.2. Văn hóa, thời đại trong Lửa thiêng ...................................................... 28
2.2.1. Nỗi sầu thời đại .................................................................................... 28
2.2.2. Tình yêu thiên nhiên, khát khao gắn bó với đời, với người............... 35
Chƣơng 3. NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN CẢM THỨC VĂN HÓA
TRONG TẬP THƠ LỬA THIÊNG CỦA HUY CẬN ................................ 42
khuynh hướng lãng mạn và thoát li. Bên cạnh đó lại có một số ý kiến thừa
nhận Lửa thiêng và Thơ mới buồn nhưng đó không phải là “Cái buồn uỷ mị
dẫn đến bi quan, mất tin tưởng” mà thơ buồn, đau đời bởi yêu đời. Những ý
kiến này dù đúng hay sai đều không đánh giá đúng giá trị của Lửa thiêng nói
riêng và Thơ mới nói chung bởi họ chỉ đứng từ góc nhìn chính trị - xã hội. Để
khẳng định hơn những giá trị của tác phẩm cần phải đứng từ góc độ văn hóa
để xem xét, nhìn nhận. Tìm hiểu tập thơ Lửa thiêng từ góc nhìn văn hóa giúp
chúng ta thấy được giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật đích thực của tập thơ,
1
thấy được sự sáng tạo độc đáo của tác giả. Từ đó ta sẽ thấy rõ hơn nỗi buồn
trong Lửa thiêng không phải là nỗi buồn thê thiết uỷ mị, con người trong Lửa
thiêng không phải là con người thoát li hoàn toàn với cuộc sống nơi trời xa
cõi biếc. Huy Cận tìm đến quá khứ không phải là để chối bỏ hiện tại, tìm đến
vũ trụ không chỉ để thoát khỏi cuộc sống quẩn quanh bế tắc mà là để giữ tâm
hồn mình trong sạch trước bụi bẩn trần gian.
1.3. Thơ Huy Cận đã được đưa vào chương trình văn học ở trường phổ
thông. Việc nghiên cứu đề tài này còn mang ý nghĩa thực tiễn, giúp cho việc
giảng dạy thơ Huy Cận một cách tốt hơn, sâu sắc hơn. Nghiên cứu thơ Huy
Cận đã có những định hướng lớn về nội dung tư tưởng, về thế giới thơ, về
những nét lớn trong thi pháp thơ ông, nay chúng tôi xin đi vào vấn đề cụ thể
Lửa thiêng của Huy Cận từ góc nhìn văn hóa để thấy những giá trị nội
dung cũng như giá trị nghệ thuật to lớn của tập thơ. Đó cũng là lý do cơ bản
của chúng tôi khi khảo sát nghiên cứu để tài này.
2. Lịch sử vấn đề
Huy Cận là một trong những cây cổ thụ vĩ đại trong làn thi ca văn học
hiện đại. Hơn nửa thế kỷ cầm bút với 20 tập thơ, Huy Cận đã thu hút được
đông đảo các nhà phê bình nghiên cứu văn học. Đến nay đã có khá nhiều bài
tác giả Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức…
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu, nhà phê bình đều ít nhiều chỉ ra
những nét đặc sắc của tập thơ ở phương diện nội dung hay hình thức, nhưng
chưa có công trình nào đi sâu tìm hiểu về Lửa thiêng từ góc nhìn văn hóa.
Đó là khoảng trống để chúng tôi đi sâu nghiên cứu đề tài này.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là tìm hiểu những nét đặc sắc về
tập thơ Lửa thiêng của Huy Cận dưới dóc nhìn văn hóa. Từ đó để thấy được
những đóng góp quý báu của ông đối với nền văn học nước nhà, đồng thời
3
khẳng định một hướng tiếp cận có hiệu quả trong nghiên cứu và thưởng thức
văn học.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu tập thơ Lửa thiêng của Huy Cận dưới góc nhìn văn hóa trên
cả phương diện nội dung và hình thức thể hiện.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận khảo sát tập thơ Lửa thiêng của tác giả Huy Cận. Nhà xuất
bản Đời nay, 1940.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu tập thơ Lửa thiêng của Huy Cận từ góc nhìn văn
hóa. Tuy nhiên trong khuôn khổ khóa luận chúng tôi chỉ đi vào khảo sát được
một số phương diện văn hóa cụ thể như: Những trầm tích văn hóa với cảm
thức làng ấp iu mang hơi thở ca dao và cảm thức hoài cổ với hồn buồn Á
Đông, mạng lưới văn hóa tinh thần thời đại với nỗi sầu nhân thế, tình yêu
thiên nhiên, khát khao gắn bó với đời, với người của nhà thơ… và một số
phương diện nghệ thuật đặc trưng.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
dễ dàng nắm bắt được bản chất của nó. Đó là đối tượng luôn vận động, đã có
quá trình chuyển hóa trong lịch sử lâu dài của mỗi dân tộc và quốc tế, đồng
thời nó đang tiếp tục quá trình chuyển hóa ấy trong hiện tại và tương lai.
Có thể nói, cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, hàng trăm định
nghĩa về văn hóa nhưng vẫn chưa chọn được một định nghĩa cuối cùng. Theo
UNESCO, hiện nay trên thế giới có khoảng hơn 400 định nghĩa khác nhau về
văn hóa. Điều đó cho thấy việc xây dựng một định nghĩa khoa học, đầy đủ về
văn hóa là vô cùng khó khăn. Từ những góc độ và những cơ sở lý lẽ khác nhau,
mỗi nhà văn đều cố gắng đưa ra cho mình một định nghĩa khả thể.
Tổ chức văn hóa - giáo dục - khoa học của Liên hợp quốc (UNESCO)
định nghĩa về văn hóa như sau: “Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa hôm nay
có thể coi là nhưng nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm
quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội. Văn
hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản
của con người, những hệ thống giá trị, phong tục và tín ngưỡng. Văn hóa đem
lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hóa đã làm cho
chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê
phán và dấn thân một cách có đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể
hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình và một phương án chưa hoàn
thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt
những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên nhưng công trình mới mẻ, những công
trình vượt trội bản thân”.
6
Ở Việt Nam, đã có rất nhiều định nghĩa về “văn hóa”. Theo Trần Ngọc
Thêm “Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương
tác giữa con người tự nhiên và xã hội” [21, tr.10].
Từ những định nghĩa trên, có thể nhận ra nội hàm của khái niệm “văn
học chẳng những là bộ phận của văn hóa, chịu sự chi phối ảnh hưởng trực tiếp
của văn hóa mà còn là một trong những phương tiện tồn tại và bảo lưu văn
hóa. Văn học chịu sự ảnh hưởng trực tiếp từ môi trường văn hóa thời đại và
truyền thống văn hóa độc đáo của một dân tộc, đồng thời thể hiện cả nội hàm
tâm lý độc đáo của một thời đại và một cộng đồng dân tộc.
Văn học, nghệ thuật cùng với triết học, chính trị, tôn giáo đạo đức,
phong tục… là những bộ phận hợp thành của toàn thể cấu trúc văn hóa. Nếu
văn hóa thể hiện quan niệm và cách ứng xử của con người trước thế giới, thì
văn học là hoạt động lưu trữ những thành quả đó một cách sinh động. Văn
học vừa thể hiện con đường tìm kiếm đó, vừa là nơi định hình những giá trị
nghệ thuật.
Xét trong mối quan hệ giữa văn học và văn hóa có thể thấy giữa văn
học và văn hóa là mối quan hệ hữu cơ, biện chứng. Điều đó được thể hiện khá
rõ ở trong các tác phẩm văn học, ta tìm thấy hình ảnh của văn hóa qua sự tiếp
nhận và tái hiện của nhà thơ. Đó là bức tranh văn hóa dân gian trong thơ Hồ
Xuân Hương (tục ngữ, câu đố, trò chơi…), là những vẻ đẹp văn hóa truyền
thống trong thơ của Tố Hữu, là những hình ảnh làng quê gần gũi trong thơ
của Nguyễn Đình Thi…
Đối với tác phẩm văn học, nội hàm văn hóa là một mặt bao hàm trong
những nhân tố của nội dung, mặt khác thể hiện một loại tiềm ẩn vô thức văn
hóa trong hình thức ngôn ngữ văn bản. Văn hóa tác động đến văn học không
chỉ ở đề tài mà nó còn chi phối đến cách thể hiện chủ đề, cách xây dựng nhân
8
vật, sử dụng thủ pháp nghệ thuật… trong quá trình sáng tác. Một nền văn hóa
cởi mở mới tạo điều kiện thuận lợi cho văn học phát triển.
Nếu văn hóa chi phối hoạt động và sự phát triển của văn học thì ngược
lại văn học cũng tác động đến sự phát triển văn hóa. Văn hóa không bao giờ
là hiện tương thuần nhất. Giữa văn học và văn hóa có mối quan hệ mật thiết
Ấy là miền sơn cước âm u đất Hà Tĩnh và cái mênh mang tĩnh lặng của xứ
Huế, nơi Huy Cận theo học từ khi mới lên bảy cho đến tú tài toàn phần. Tất cả
ăn sâu vào tiềm thức nhà thơ, kết thành một ám ảnh sáng tạo trong thế giới
Huy Cận về sau. Cảm quan vũ trụ trong thơ Huy Cận chắc hẳn có dây mơ rễ
má với những yếu tố địa văn hóa này. Hướng về vũ trụ mà vẫn không nguôi
khắc khoải về cõi thế, không thôi suy tưởng về lẽ đời, ấy là cái mạch nguồn
thống nhất trong thế giới nghệ thuật của Huy Cận.
Có thể nói hồn thơ Huy Cận thành hình và được vun đắp bởi truyền
thống văn hóa của gia đình, quê hương.
Tôi sinh ra ở miền sơn cước,
Có núi làm xương cốt tháng ngày.
Ðất bãi tơi làm da thịt mát,
Gió sông như những mảnh hồn bay.
Học chữ Hán với bố và học đến lớp tư ở quê. Từ lớp năm đến hết tú tài
toàn phần: học ở Huế. Kết bạn với Xuân Diệu từ 1936. Năm 1939, ra Hà Nội
học Cao Ðẳng Nông Lâm. Từ 1941, vừa học vừa tham gia mặt trận Việt
Minh. Cách mạng tháng Tám thành công, giữ chức Bộ trưởng Canh Nông
trong chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ năm 1946
đến nay ông giữ nhiều chức vụ: Thứ trưởng Bộ Canh Nông, Thứ trưởng Bộ
Kinh Tế… Hiện nay, Huy Cận là Phó chủ tịch Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp
các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam.
Ngoài những hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa trong nước, Huy Cận
còn là nhà hoạt động quốc tế năng động với nhiều đóng góp lớn. Ông qua đời
ngày 19/02/2005.
10
Huy Cận bắt đầu sáng tác từ năm 1936 bằng những bài bình luận văn
học đăng trên các báo Tràng An, Sông Hương với bút danh Hán Quỳ. Từ
1938, Huy Cận có thơ trên báo Ngày nay. Trong suốt quá trình sáng tạo và
như đang cựa mình, muốn khoác cho mình một chiếc áo mới. Sức sống mới
về mặt tinh thần, văn hóa dân tộc như đang trỗi dậy. Dân tộc đã làm nên
những cuộc cải cách mới: phong trào duy tân hội, phong trào chấn hưng văn
hóa. Mọi người dân thực hiện việc học chữ quốc ngữ, thay đổi cách ăn, thay
đổi đầu tóc, cuộc sống, tâm trạng của họ cũng biến chuyển. Đây chính là quá
trình phục hồi và phát triển những giá trị văn hóa truyền thống. Những giá trị
mới ra đời trên tất cả các lĩnh vực. Trong đó, văn học nghệ thuật đã thực sự
bước vào quá trình hiện đại hóa. Đó là sự khẳng định sức sống của văn hóa
dân tộc. Thơ Huy Cận cũng không nằm ngoài sự giao thoa Đông - Tây, góp
phần khẳng định truyền thống vững bền và sức sống mới của dân tộc đang
hòa nhập vào nhau tạo nên một dáng vẻ mới cho xã hội.
Khi nghiên cứu thơ Huy Cận, không phải chỉ nói đến các yếu tố như
kết cấu, thể loại, ngôn từ, giọng điệu, không gian nghệ thuật một cách thuần
túy mà cần xem xét nó như là một biểu hiện phong phú và đa dạng của nền
văn hóa dân tộc. Bởi trong văn hóa Việt Nam có cả văn hóa nhân loại. Đó là
triết học cổ Trung Hoa, Phật giáo Ấn Độ, tinh thần lịch lãm của văn hóa
Pháp… Thơ Huy Cận thấm đẫm tinh thần nhân văn của văn hóa Việt Nam.
Tập thơ Lửa thiêng trước hết là tiếng lòng của một thanh niên (21 tuổi)
đang thể hiện niềm vui, nỗi buồn của chính mình. Như đa số Thơ mới, tập thơ
lấy tuổi trẻ và tình yêu làm đề tài chủ yếu. Nhưng giữa lúc độc giả đã quá
quen thuộc với giọng nỉ non, sầu não trong Thơ mới thì những cung bậc tình
yêu dễ thương ở lứa tuổi học trò, lứa tuổi còn nhiều e ấp vẩn vơ, chưa nhuốm
mùi nhục cảm - có sức hấp dẫn mới lạ. Tình yêu thiên nhiên, sự khát khao
giao cảm với đời, với người hay những vẻ đẹp văn hóa dân tộc có sức lôi
12
cuốn bạn đọc một cách mạnh mẽ. Dù nói ở những góc độ, những khía cạnh
nào thì giá trị nội dung văn hóa trong văn học và những giá trị tinh thần văn
hóa của tập thơ vẫn không bị mất đi mà ngược lại nó càng làm thêm nét nổi
Nhờ trời hạ kế sang đông,
Làm nghề cày cấy vun trồng tốt tươi.
(Làng ta phong cảnh hữu tình)
14
Hai tiếng “làng ta” cất lên nghe tha thiết và bồi hồi, phong cảnh làng ta
“hữu tình” nên thơ. Làng ta có giếng nước, sân đình, có mái trường, con
đường đi học và tình bạn tuổi thơ. Niềm vui, nỗi buồn, tình thương nỗi nhớ
của mỗi chúng ta đều gắn bó với làng quê yêu dấu với những con người cần
cù chịu thương chịu khó.
Hình ảnh làng quê với với lời ăn tiếng nói gần gũi, giản dị cũng được
nhiều tác giả trung đại nhắc đến trong các thi phẩm của mình.
Đã bấy lâu nay bác tới nhà,
Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.
Ao sâu, nước cả khôn chài cá,
Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà…
(Bạn đến chơi nhà - Nguyễn Khuyến)
Qua thơ Nguyễn Khuyến ta thấy rằng tuy cuộc sống nông thôn thiếu
thốn đủ bề nhưng sự đầm ấm, chân tình luôn chất đầy không bao giờ vơi cạn.
Hình ảnh trong thơ gần gũi, ngôn ngữ dùng từ ngữ đời thường, giản dị, dễ
học, dễ hiểu gần gũi với người dân lao động.
Đến với Thơ mới, họ cũng dành những tình cảm đáng trân trọng với
làng quê được viết lên bằng những vần thơ trong trẻo đến kì diệu. Thơ
Nguyễn Bính có cái vẻ mộc mạc của những câu hát đồng quê. Nguyễn Đình
Thư cũng chịu ảnh hưởng của ca dao, nhưng lại mượn ca dao ở cái vẻ tình
tứ… Bên cạnh đó, hình ảnh làng quê với con cò, dòng sông, giếng nước, gốc
đa, mái đình… được các nhà Thơ mới đưa vào các thi phẩm của mình một
cách gần gũi, nhẹ nhàng, tha thiết:
Huy Cận dường như ta được trở về với làng quê, với tuổi thơ nhiều mơ mộng.
Bao trùm tập thơ Lửa thiêng là nỗi buồn sầu của nhà thơ trước hiện
thực đất nước, bên cạnh đó vẫn còn những vần thơ trong sáng viết về quê
hương một cách gần gũi, thân thương. Trong 50 bài thơ, có nhiều bài viết về
hình ảnh làng quê với mùi thơm kì lạ với hình ảnh con cò, khóm trúc, thuyền
16
và bến. Tập thơ là tiếng lòng của nhà thơ muốn gửi gắm vào đó những tâm tư
thầm kín, niềm vui, nỗi buồn và tình yêu quê hương sâu sắc.
Thơ của ông xuất hiện nhiều hình ảnh con thuyền - bến nước. Một vẻ
đẹp cổ điển mà hết sức bình dị thôn quê, vẫn toát lên được hình ảnh vẻ đẹp
làng quê, gợi nhớ nét đẹp cội nguồn dân tộc, những nét sinh hoạt cổ xưa.
Buồn gieo theo gió ven hồ,
Đèo cao quán chặt, bến đò lau thưa.
Đồn xa quằn quại bóng cờ,
Phất phơ buồn tự thủa xưa thổi về.
Ngàn năm sực tỉnh lê thê
Trên thành son nhạt - chiều tê cúi đầu…
(Chiều xưa)
Nhịp thơ chậm rãi, diễn tả được mạch sầu thiên cổ thổi về. Nét bút
chấm phá kiểu thi họa phương Đông của Huy Cận đã dựng lại được một chiều
xưa biên ải. Có đồn xa, bóng cờ. Những lũy thành xưa thật hiu hắt. Hai chữ
“sực tỉnh” thực ra là sự gắn nỗi hai khoảng không gian - thời gian xưa và nay.
Xưa đang quằn quại, nay quá lê thê. Đó là một trong những nét văn hóa dân
tộc ở thơ Huy Cận. Thơ ông chịu ảnh hưởng nhiều của thơ ca phương Tây,
đặc biệt là thơ ca Pháp, nhưng cội nguồn của nó vẫn là từ làng quê, đất nước
Việt Nam.
Trong tập Lửa thiêng, tác giả đã nhắc đến rất nhiều hình ảnh gần gũi
với làng quê, xuất hiện nhiều trong ca dao dân ca. Hình ảnh “con cò” là một
Dù đi đâu về đâu nhưng điểm cuối cùng ta trở về đó vẫn là làng quê,
nơi ta được sinh ra. Hình ảnh làng quê ấy được nhà văn miêu tả rất tỉ mỉ, làng
xa thấp thoáng sau những hàng tre trúc. Hình ảnh hàng tre, khóm trúc là hình
ảnh gần gũi với làng quê, biểu tượng cho sức mạnh, tinh thần đoàn kết của
người dân Việt Nam.
18
Như vậy, trong tập Lửa thiêng, bên cạnh những vần thơ ảo não, buồn,
cô đơn, ở đó xuất hiện nhiều hình ảnh làng quê hồn hậu, vui tươi, giản dị mà
gần gũi thân thương. Đó là những vẻ đẹp văn hóa dân tộc. Vẻ đẹp ấy được tác
giả khắc sâu trong nhiều bài thơ với những chi tiết gần gũi, thân thuộc gợi lên
nỗi nhớ về cội nguồn, những nét sinh hoạt cổ xưa của dân tộc.
2.1.2. Cảm thức hoài cổ với hồn buồn Á Đông
“Buồn” là một trạng tâm lý tình cảm của con người, đối lập với “vui”.
Nỗi buồn trong thơ Huy Cận cũng không nằm ngoài trạng thái tâm lý đó. Nhà
thơ buồn vì không gian, vì cảnh vật thiên nhiên, vì đất nước đang gặp hoàn
cảnh đặc biệt mà ở đó các thi nhân chưa tìm ra được lối thoát cho riêng mình.
Thơ mới xuất hiện trong hoàn cảnh đặc biệt của dân tộc, nó đã phát triển như
một hiện tượng lạ. Đây là một minh chứng cho sự phát triển của văn hóa dân
tộc. Vậy hiện tượng ấy được lý giải như thế nào? Phải chăng đó chính là sức
sống của một nền văn hóa dân tộc tiềm ần trước đó đã đến lúc phải vươn dậy
để khẳng định mình. Đất nước như đang cựa mình, muốn khoác cho mình một
chiếc áo mới. Sức sống mới về mặt tinh thần, văn hóa dân tộc như đang trỗi
dậy. Đây chính là quá trình phục hồi và thay đổi những giá trị văn hóa cũ.
Những giá trị văn hóa mới ra đời trên tất cả các lĩnh vực. Trong đó văn học
nghệ thuật thực sự bước vào quá trình hiện đại hóa. Đó là sự khẳng định sức
sống của văn hóa dân tộc. Thơ mới cũng không nằm ngoài sự giao thoa văn
hóa Đông Tây. Thơ mới là kết quả của sự kết hợp giữa văn hóa truyền thống
dân tộc và văn hóa phương Tây.