Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Khoảng 20 năm về trước, “cho vay tiêu dùng” chỉ là khái niệm khá mới đối
với hoạt động của cá tổ chức tín dụng tai Việt Nam. Khách hàng là cá nhân chỉ tìm
đến nguồn vốn ngân hàng để phục vụ sản xuất kinh doanh, mở rộng sản xuất kinh
doanh chứ ít ai nghĩ đến việc vay tiền ngân hàng để thỏa mãn những nhu cầu tiêu
dùng như mua sắm xe hơi, sửa sang nhà cửa, hay đáp ứng những nhu cầu về học
tập, nâng cao kiến thức. Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển, thu
nhập của người dân ngày một tăng và ổn định hơn do đó họ có nhu cầu mong muốn
được hưởng thụ nhiều hơn, tiện nghi hơn. Nắm bắt được nhũng nhu cầu đó, ngân
hàng đã cung cấp cho người tiêu dùng những phương thức đạt được những mục tiêu
đó sớm hơn. Vì vậy, danh mục tín dụng cá nhân của ngân hàng được mở rộng, dư
nợ tín dụng cá nhân tăng lên cả về quy mô và tỷ trọng trên tổng dư nợ cho vay của
ngân hàng. Cho vay đối với khách hàng là cá nhân là một thị trường rất tiềm năng
để các ngân hàng thương mại khai thác và cũng là thị trường cạnh tranh chính của
các ngân hàng thương mại hiện nay. Mảng tín dụng này mang lại cho ngân hàng
mức lợi nhuận cao, song đây cũng là khoản mục kinh doanh chứa đựng nhiều rủi ro.
Tuy quy mô mỗi khoản vay cá nhân là nhỏ nhưng số lượng các khoản vay là lớn;
khách hàng cá nhân thì đa dạng, phức tạp; thông tin tài chính về khách hàng cá nhân
không rõ ràng, minh bạch như các báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Hơn nữa,
tình hình tài chính cá nhân và hộ gia đình có thể thay đổi nhanh chóng tùy theo tình
trạng công việc hay sức khỏe của họ, do vậy việc quản lý rủi ro tín dụng đối với
những khoản vay này là cần thiết và giữ vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an
toàn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Sau thời gian thực tập tai phòng giao dich Mỹ Đình trực thuộc chi nhánh
Hoàng Quốc Viêt ngân hàng Kỹ thương Việt Nam, em nhận thấy tín dụng cá nhân
là một mảng kinh doanh quan trọng đối với ngân hàng Kỹ thương nói chung và chi
nhánh nói riêng. Do đó, nghiên cứu về các giải pháp tăng cường quản lý tín dụng cá
nhân sẽ có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của ngân hàng. Vì vậy nên
ro tín dụng cá nhân của Ngân hàng Kỹ thương Việt Nam chi nhánh Hoàng Quốc
Việt qua 3 năm 2007,2008,2009. Từ đó đề xuất các giải pháp góp phần hạn chế và
phòng ngừa rủi ro trong hoạt động tín dụng cá nhân tại Ngân hàng Kỹ thương Việt
Nam chi nhánh Hoàng Quốc Việt.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp thu thập số liệu : các số liệu về tình hình huy động vốn, dư nợ
cho vay, nợ quá hạn, lợi nhuận …được lấy từ bảng cân đối kế toán, bảng báo cáo
kết quả hoạt động kinh doanh năm 2007, 2008, 2009 và định hướng phát triển của
Ngân hàng trong năm 2010. Ngoài ra, còn tham khảo thêm thông tin trên các tạp chí
và sách báo có liên quan đến Ngân Hàng, kết hợp với những ý kiến góp ý chỉ dẫn
của giáo viên hướng dẫn và các cán bộ tín dụng tại đơi vị thực tập.
- Phương pháp phân tích số liệu : Phương pháp thống kê tổng hợp số liệu giữa
các năm; phương pháp so sánh; hương pháp phân tích tỷ trọng, số tuyệt đối, số
tương đối. Các phương pháp này sẽ cho ta thấy tốc độ tăng giảm của từng chỉ tiêu
Vũ Thu Hiền
Lớp: Ngân hàng 48B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
qua các năm là ít hay nhiều từ đó có thể đánh giá được tình hình thực tế là tốt
hay xấu từ đó có thể dự báo cho năm tiếp theo.
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN
DỤNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1 KHÁI QUÁT VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG :
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm tín dụng ngân hàng
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế.
- Những hình thức trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm cho vay, cho
thuê, bảo lãnh và chiết khấu. Tài sản giao dịch trong cho vay là bằng tiền và tài sản
trong cho thuê là bất động sản và động sản. Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền
vay được cấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện
- Lòng tin : Quan hệ tín dụng được hình thành trên cơ sở niềm tin rằng người
đi vay sẽ hoàn trả cả gốc và lãi đúng hạn
- Về mặt pháp lý, những văn bản xác định quan hệ tín dụng như hợp đồng tín
dụng, khế ước… đá là những văn bản pháp lý nhằm ràng buộc những trách nhiệm ,
nghĩa vụ và quyền lợi của hai bên cho vay và đi vay.
- Tính hoàn trả : người vay thông thường phải thanh toán phần lãi ngoài vốn
gốc, vì vậy người vay phải thanh toán nhiều hơn so với lúc vay.
- Tính thời hạn : là khoảng thời gian mà người đi vay phải hoàn trả theo đúng
như hợp đồng tín dụng.
1.1.2 Phân loại tín dụng:
Có nhiều cách phân loại tín dụng khác nhau tùy theo yêu cầu của khách hàng
và mục tiêu quản lý của ngân hàng.
*Phân loại theo thời hạn của tín dụng: cách phân loại này có ý nghĩa quan
trọng đối với ngân hàng vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi
của tín dụng cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng. Theo thời gian tín dụng
được phân chia thành:
+ Tín dụng ngắn hạn: từ 12 tháng trở xuống;
+ Tín dụng trung hạn từ 1 năm đến 5 năm;
+ Tín dụng dài hạn: trên 5 năm
Tỷ trọng tín dụng ngắn hạn tại ngân hàng thương mại thường cao hơn tín
dụng trung và dài hạn do tín dụng trung và dài hạn có rủi ro cao hơn và nguồn vốn
tài trợ dắt hơn, khan hiếm hơn. Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ này như kì
hạn và tính ổn định của nguồn vốn, khả năng quản lý thanh khoản của ngân hàng,
khả năng dự báo và dự phòng rủi ro trong trung và dài hạn…
* Phân loại theo hình thức được chia thành chiết khấu, cho vay, bảo lãnh và
vốn để dự trữ nguyên, nhiên vật liệu, thành phẩm, bù đắp các chi phí sản xuất ...
đảm bảo sản xuất ổn định. Hơn nữa, tín dụng ngân hàng còn hỗ trợ doanh nghiệp
trong việc mở rộng sản xuất, đầu tư cải tiến máy móc thiết bị, đổi mới công nghệ,
đặc biệt trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ như hiện nay. Với các
ngành thuộc lĩnh vực lưu thông, tín dụng ngân hàng hỗ trợ doanh nghiệp vốn lưu
động để dự trữ khối lượng hàng hóa cần thiết, chi phí lưu thông để đảm bảo đưa
được hàng hoá từ người sản xuất đến ngưòi tiêu dùng. Như vậy, một trong những
nguồn vốn quan trọng để bổ sung vốn lưu động và vốn cố định cho các chủ doanh
nghiệp là vốn tín dụng ngân hàng
Thứ hai, tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ cho các dự án tạo công ăn việc
làm, tăng thu nhập, thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo và các chương trình, dự
án mang tính xã hội khác. Muốn nâng dần thu nhập bình quân đầu người,giải quyết
việc làm không chỉ dựa vào quỹ ngân sách nhà nước hoặc trông chờ vào các khoản
vay nước ngoài. Tín dụng ngân hàng thực sự giữ vai trò trong việc đầu tư cho các
dự án có ý nghĩa kinh tế xã hội để giải quyết những vấn đề như vậy .
Thứ ba, tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tích tụ tập trung vốn sản xuất
Vũ Thu Hiền
Lớp: Ngân hàng 48B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
mở rộng quá trình phân công lao động xã hội và hợp tác kinh tế trong nước và quốc
tế . Các doanh nghiệp, các công ty làm ăn có hiệu quả và uy tín được ngân hàng tập
trung đầu tư vốn tạo đà mở rộng quy mô sản xuất và thị trường tiêu thụ .Tín dụng
ngân hàng sẽ thúc đẩy nhanh chóng quá trình tập trung và tích luỹ vốn, tạo cho các
doanh nghiệp đủ điều kiện hợp tác liên doanh với các tập đoàn kinh tế nước ngoài,
đưa nước ta hội nhập với nền kinh tế thế giới.
Thứ tư, thông qua hoạt động tín dụng ngân hàng, nhà nước có thể kiểm soát
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trung và dài hạn, cho vay để đầu tư bất động sản, chứng khoán và cho vay tiêu
dùng. Từ chỗ cho vay đối với khách hàng cá nhân bị hạn chế thì hiện nay khách
hàng cá nhân là một trong những khách hàng chính của ngân hàng và mang lại cho
ngân hàng lợi nhuận kinh doanh lớn. Tín dụng cá nhân không những là một khoản
mục có mức sinh lời cao đối với ngân hàng thương mại mà nó còn đóng góp vai trò
nâng cao chất lượng cuộc sống đối với người dân và thúc đẩy quá trình sản xuất
phát triển
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm tín dụng cá nhân :
.Tín dụng cá nhân là một hình thức tín dụng mà đối tượng vay vốn là cá nhân
nhằm mục đích tiêu dùng hay phục vụ sản xuất, kinh doanh.
Đặc điểm tín dụng cá nhân:
Thường là các khoản vay vốn trung và dài hạn, đặc biệt là các khoản vay
mua bất động sản thời hạn có thể lên tới 15-20 năm.
Quy mô khoản vay: Ngoại trừ những khoản vay bất động sản, hầu hết các
khoản vay tiêu dùng đều có giá trị nhỏ nhưng số lượng các khoản vay thì lớn, mỗi
cán bộ tín dụng quản lý một lượng khách hàng khá lớn: 50-70 khách hàng.
Lãi suất cho vay phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế: tăng lên khi nền kinh tế mở
rộng và giảm xuống khi nền kinh tế suy thoái.
Đối tượng cho vay là khách hàng cá nhân có thể là những người buôn bán
nhỏ, công nhân viên chức, công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ,người sản xuất
nhỏ…hoặc là đại diện của hộ gia đình người mà được các thành viên có đủ năng lực
pháp luật và hành vi dân sự trong hộ gia đình ủy quyền thay mặt hộ gia đình ký hợp
đồng tín dụng. Hiện nay, những người có thu nhập cao có nhu cầu vay nhiều hơn so
với người có thu nhập thấp, và họ thường vay với nhu cầu cao hơn thu nhập hàng
năm của mình để đạt được mức sống như mong muốn hơn là một sự lựa chọn chỉ
được dùng trong tình trạng khẩn cấp.
Cho vay trả góp: Ngân hàng và khách hàng xác định và thoả thuận trước số
tiền lãi vay phải trả cộng với số nợ gốc chia ra để trả theo các kỳ hạn trong thời gian
vay. Hình thức cho vay này thường áp dụng cho những khách hàng có nguồn thu ổn
định, thời hạn cho vay trung hoặc dài hạn (từ 1 năm trở lên).
Cho vay cầm cố bằng sổ tiết kiệm, kỳ phiếu hoặc giấy tờ khác trị giá được
bằng tiền do các tổ chức tín dụng khác phát hành đối với những khách hàng là chủ
sở hữu hợp pháp giấy tờ trị giá được bằng tiền đó.
Cho vay theo hạn mức: Ngân hàng sẽ đáp ứng nhu cầu vốn cho các khách
hàng cá nhân thực hiện phương án sản xuất kinh doanh có nhu cầu vốn thường
xuyên.
Các loại hình cho vay bán lẻ khác
1.2.3 Vai trò của tín dụng cá nhân
Đối với ngân hàng :
Ngân hàng là một tổ chức tài chính trung gian trong nền kinh tế, với hoạt
động chính là huy động tiền gửi từ dân cư và các tổ chức kinh tế xã hội để thực hiện
cho vay đối với nền kinh tế. Hoạt động cho vay của ngân hàng phải đảm bảo bù đắp
Vũ Thu Hiền
Lớp: Ngân hàng 48B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
được tất cả chi phí có liên quan và tạo ra được một khoản sinh lời cần thiết để hoạt
động kinh doanh của ngân hàng có lãi và tăng trưởng. Đối với tín dụng cá nhân là
một danh mục cho vay với lãi suất hấp dẫn, đặc biệt là cho vay tiêu dùng thường có
tư nhân, hộ gia đình, thúc đẩy sự phát triển của thành phần kinh tế này. Mặt khác,
Vũ Thu Hiền
Lớp: Ngân hàng 48B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
như chúng ta đã biết, sản xuất, lưu thông và tiêu dùng là một quá trình trong đó có
sự gắn kết chặt chẽ. Sản xuất ra sản phẩm để phục vụ nhu cầu tiêu dùng, do vậy tiêu
dùng kích thích sản xuất, là đích mà sản xuất hướng tới. Muốn đẩy mạnh sản xuất
thì phải đẩy mạnh tiêu dùng. Thông qua cho vay tiêu dùng, ngân hàng đã góp phần
đáng kể vào việc kích cầu nền kinh tế, tạo điều kiện thúc đẩy quá trình sản xuất
kinh doanh của nền kinh tế.
Thông qua cấp tín dụng cho người tiêu dùng, ngân hàng góp phần nâng cao
chất lượng cuộc sống, tạo điều kiện tái sản xuất sức lao động, nâng cao khả năng
làm việc, hiệu quả công việc mà họ đảm nhận.
Ngoài ra, việc kết hợp với các doanh nghiệp xây dựng, kinh doanh hàng điện
tử... cho khách hàng có thể mua hàng trả góp thì ngân hàng đã giúp những doanh
nghiệp này bán được hàng và có vốn để tiếp tục tái sản xuất, mở rộng sản xuất.
1.3 RỦI RO TÍN DỤNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.3.1 Khái niệm, bản chất của rủi ro tín dụng cá nhân
Khái niệm rủi ro tín dụng cá nhân:
Rủi ro tín dụng cá nhân là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến cho
ngân hàng do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả, hoặc không trả đầy đủ
vốn và lãi.
Bản chất của rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng cá nhân diễn ra trong quá trình ngân hàng cấp tín dụng cho
khách hàng cá nhân. Khi thực hiện một hoạt động tài trợ nào thì ngân hàng đều cố
đúng hạn
Không thu
đủ lãi
Không thu
đủ vốn
(mất vốn)
Lãi treo
phát sinh
Nợ quá
hạn phát
sinh
1.Lãi treo
đóng băng
2.Miễn
giảm lãi
1. Nợ
không có
khả năng
thu hồi
2.Xóa nợ
Rủi ro tín dụng có thể xảy ra ở 4 trường hợp đối với nợ lãi và nợ gốc. Đó là
việc không thu được lãi đúng hạn hoặc không thu đủ lãi, không thu được vốn đúng
hạn hoặc không thu đủ vốn. Tuỳ trường hợp mà ngân hàng hạch toán vào các khoản
khách quan; rủi ro xuất phát từ người vay và ngân hàng cho vay gọi là rủi ro do
nguyên nhân chủ quan.
* Nguyên nhân khách quan:
+) Môi trường kinh tế
Hoạt động kinh doanh tiền tệ là một loại hình kinh doanh đặc biệt, rất nhạy
cảm, chịu tác động mạnh mẽ từ các yếu tố của nền kinh tế trong nước và thế giới.
Trong thời gian qua nền kinh tế nước ta cũng như một số nước trong khu vực có
những biến động gây ảnh hưởng không nhỏ đến ngành ngân hàng. Bất kỳ một
biến động nào của nền kinh tế cũng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của Ngân hàng .
Như một cá thể tự nhiên, Ngân hàng "khoẻ mạnh" hay không cũng phụ thuộc rất
nhiều vào môi trường kinh tế ổn định hay không. .
+) Môi trường pháp lý:
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các yếu tố pháp lý là điều kiện đảm
bảo cho hoạt động kinh doanh, đặc biệt là các hoạt động tín dụng của các ngân hàng
thương mại. Nhưng cũng chính vì vậy, nếu môi trường pháp lý chưa hoàn chỉnh
thiếu đồng bộ cũng sẽ gây khó khăn, bất lợi cho cả doanh nghiệp và ngân hàng. Cơ
chế, chính sách, quy hoạch của Nhà nước, của chính quyền các cấp thay đổi cũng có
thể dẫn đến rủi ro khi khách hàng sử dụng vốn vay của khách hàng.
* Nguyên nhân chủ quan:
+) Rủi ro do các nguyên nhân đến từ phía khách hàng vay:
Thứ nhất, do khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong
việc trả nợ vay. Đa số các khách hàng khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án
kinh doanh cụ thể, khả thi. Ngân hàng sẽ xem xét phương án kinh doanh đó mới
đưa ra quyết định cho vay. Trên thực tế, khách hàng có thể gian lận ngân hàng thể
Vũ Thu Hiền
Lớp: Ngân hàng 48B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nhưng một cán bộ tha hóa về đạo đức mà lại giỏi về mặt nghiệp vụ thì thật vô cùng
nguy hiểm khi được bố trí trong công tác tín dụng.
Trình độ chuyên môn của cán bộ tín dụng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng
tín dụng, sự hạn chế trong khả năng phân tích thẩm định dự án; kiến thức thị trường,
kiến thức xã hội hạn chế có thể dẫn đến khi cho vay mà không đánh giá được liệu
Vũ Thu Hiền
Lớp: Ngân hàng 48B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
dự án hay phương án đó có khả thi không.
Thứ ba, do sự thiếu giám sát và quản lý sau khi cho vay. Các ngân hàng
thường có thói quen tập trung nhiều công sức cho việc thẩm định trước khi cho vay
mà lơi lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi cho vay. Khi ngân hàng
cho vay thì khoản cho vay cần phải được quản lý một cách chủ động để đảm bảo sẽ
đựơc hoàn trả. Theo dõi nợ là một trong những trách nhiệm quan trọng nhất của cán
bộ tín dụng nói riêng và của ngân hàng nói chung. Việc theo dõi hoạt động của
khách hàng vay nhằm tuân thủ các điều khoản đề ra trong hợp đồng tín dụng giữa
khách hàng và ngân hàng nhằm tìm ra những cơ hội kinh doanh mới và mở rộng cơ
hội kinh doanh. Tuy nhiên trong thời gian qua các NHTM chưa thực hiện tốt công
tác này. Điều này một phần do yếu tố tâm lý ngại gây phiền hà cho khách hàng của
cán bộ ngân hàng, một phần do hệ thống thông tin quản lý phục vụ kinh doanh tại
các doanh nghiệp quá lạc hậu, không cung cấp được kịp thời, đầy đủ các thông tin
mà NHTM yêu cầu.
Thứ tư, do sự hợp tác giữa các NHTM nhằm hạn chế rủi ro chưa thực sự hiệu
quả. Sự hợp tác này nảy sinh do nhu cầu quản lý rủi ro đối với cùng một khách hàng
khi khách hàng này vay tiền tại nhiều ngân hàng. Trong quản trị tài chính, khả năng
trả nợ của một khách hàng là một con số cụ thể, có giới hạn tối đa của nó. Nếu do
ngân hàng không thu được cả vốn lẫn lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân
hàng bị lỗ và mất vốn. Mặt khác ngày nay, hoạt động tín dụng cá nhân chiếm một tỷ
trọng đáng kể trong tổng tài sản có của một ngân hàng thương mại, đó là hoạt động
tạo ra lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng. Do vậy, nếu có rủi ro trong hoạt động tín
dụng cá nhân thì lợi nhuận của ngân hàng sẽ giảm sút.
+ Rủi ro tín dụng cá nhân làm giảm uy tín của ngân hàng: một ngân hàng có
rủi ro tín dụng cá nhân lớn thể hiện là một ngân hàng kinh doanh kém, điều này thể
hiện nguy cơ bị mất vốn cao, trong khi đó, ngân hàng kinh doanh bằng nguồn vốn
huy động được từ nguồn tiền gửi, tiền tiết kiệm của dân cư, do vậy dân chúng sẽ
thiếu lòng tin vào khả năng kinh doanh và khả năng hoàn trả của ngân hàng. Kết
quả là khả năng huy động vốn của ngân hàng gặp khó khăn. Đồng thời, các ngân
hàng nước ngoài cũng vì thế mà xa lánh, không cấp hạn mức tín dụng, không mử
quan hệ tín dụng...
+ Rủi ro tín dụng làm giảm khả năng thanh khoản của ngân hàng : các khoản
tín dụng cá nhân có rủi ro khiến cho việc hoàn trả gặp khó khăn, trong khi đó thì
ngân hàng phải thanh toán những khoản tiết kiệm, tiền gửi của dân cư khi đến hạn.
Khi rủi ro tín dụng ở mức nhẹ thì ngân hàng có đủ khả năng để chi trả, nhưng khi
rủi ro tín dụng xảy ra ở mức độ nghiêm trọng, khi đó uy tín của ngân hàng bị giảm
sút dẫn đến việc rút tiền của dân cư tăng lên thì khả năng thanh khoản của ngân
hàng bị giảm sút nghiêm trọng.
+ Rủi ro tín dụng cá nhân có thể dẫn đến phá sản : khi rủi ro tín dụng cá
nhân xảy ra với tình trạng kéo dài không khắc phục được, với sự tác động trên 3
phương diện trên đến một mức độ nào đó thì sẽ đẩy ngân hàng đến bờ vực phá sản.
- Đối với nền kinh tế :
Ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ tín dụng với tư cách
là trung gian của đời sống kinh tế , nó có quan hệ trực tiếp và thường xuyên với các
Vũ Thu Hiền
Lớp: Ngân hàng 48B
Quản lý rủi ro tín dụng cá nhân là một bộ phận của quản lý rủi ro tin dụng
nằm trong khuôn khổ quản lý rủi ro chung của ngân hàng thương mại. Ban lãnh đạo
NHTM có trách nhiệm xây dựng mục tiêu, chiên lược, nhiêm vụ kinh doanh đối với
đối tượng khách hàng cá nhân, trong đó xác định rõ những rủi ro và lợi nhuận của
ngân hàng, để thiết lập một hệ thống kiểm soát và quản lý rủi ro tín dụng cá nhân
hiệu quả, ban lãnh đạo ngân hàng phải tổ chức, giám sát các hoạt động tín dụng
Vũ Thu Hiền
Lớp: Ngân hàng 48B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
theo đúng quy đinh, đánh giá mức độ rủi ro của hoạt động tín dụng, đưa ra các biện
pháp tổ chức để hạn chế rủi ro, đặt ra các hạn mức và giám sát rủi ro. Quản lý rủi ro
tín dụng hiệu quả là điểm căn bản cho một phương pháp quản lý rủi ro toàn diện và
thành công của bất kỳ ngân hàng nào.
Như vậy có thể hiểu: Quản lý rủi ro tín dụng cá nhân là một quá trình khởi
đầu từ khi ngân hàng gặp gỡ khách hàng cá nhân; thẩm định và phê duyệt cho vay
đến khi tất toán hợp đồng nhằm đảm bảo thu hồi đầy đủ gốc và lãi theo cam kết
trong hợp đồng tín dụng giữa khách hàng cá nhân và ngân hàng
1.4.2 Nguyên tắc quản lý rủi ro tín dụng cá nhân
Dù là tín dụng đối với khách hàng là cá nhân, tổ chức hay doanh nghiệp thì
việc quản lý rui ro tín dụng đều dựa trên các nguyên tắc sau :
Nguyên tắc không có rủi ro thì không có lợi nhuận: đây là một nguyên tắc
cơ bản khi thực hiện quản lý rủi ro tín dụng nói chung và quản lý rui ro tín dụng cá
nhân nói riêng. Trong kinh doanh tín dụng thì rủi ro là không thể tránh khỏi, nhưng
nếu sợ rủi ro mà không kinh doanh thì sẽ không có lợi nhuận. Vì vậy mà cần phải
chấp nhận rủi ro một cách chủ động, có sự tính toán trước. Việc xác định rủi ro và
mức độ của nó, để từ đó đưa ra mức giá (lãi suất) của việc chấp nhận rủi ro đó và bù
của khách hàng, tính khả thi của phương án xin vay, và khả năng đảm bảo tiền vay.
1.4.3.2 Đo lường rủi ro tín dụng cá nhân :
+) Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không trả được khi đến hạn thỏa
thuận ghi trên hợp đồng. Khi một món nợ không trả được vào kì hạn trả nợ, toàn bộ
gốc còn lại của hợp đồng sẽ được chuyển thành nợ quá hạn.
+) Tỷ lệ nợ quá hạn đối với khách hàng cá nhân - mức độ rủi ro tín dụng cá nhân
Công thức tính:
Dư nợ quá hạn cho vay KHCN
Tỷ lệ nợ quá hạn cho vay = -------------------------------------khách hàng cá nhân
x 100%
Tổng dư nợ cho vay KHCN
Chỉ tiêu này phản ánh kết quả hoạt động tín dụng cá nhân của ngân hàng nói
chung và đo lường chất lượng nghiệp vụ tín dụng cá nhân nói riêng một cách rõ nét.
Chỉ tiêu này càng cao cho thấy chất lượng tín dụng của Ngân Hàng càng kém và
ngược lại. Ở Việt Nam, mức giới hạn cho phép của mức độ rủi ro tín dụng do Ngân
Hàng nhà nước quy định là 5% .
+)Hệ số rủi ro tín dụng
Công thức tính:
Tổng dư nợ cho vay KHCN
Hệ số RRTD cá nhân = ------------------------------------- x 100%
Tổng tài sản có
Đây là chỉ số tính toán hiệu quả tín dụng của một đồng tài sản. Ngoài ra, chỉ
Vũ Thu Hiền
Lớp: Ngân hàng 48B
Bước này do cán bộ tín dụng thực hiện ngay sau khi tiếp xúc khách hàng.
Nhìn chung một bộ hồ sơ vay vốn cần phải thu thập các thông tin như: năng lực
pháp lý, năng lực hành vi dân sự của khách hàng; phương án vay vốn; khả năng
hoàn trả nợ vay (vốn vay + lãi) của khách hàng.
- Bước 2: Phân tích tín dụng
Phân tích tín dụng là xác định khả năng hiện tại và tương lại của khách hàng
Vũ Thu Hiền
Lớp: Ngân hàng 48B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trong việc sử dụng vốn vay và hoàn trả nợ vay.
Mục tiêu: Tìm kiếm những tình huống có thể xảy ra dẫn đến rủi ro cho ngân
hàng, dự đoán khả năng khắc phục những rủi ro đó, dự kiến những biện pháp giảm
thiểu rủi ro và hạn chế tổn thất cho ngân hàng.
Phân tích tính chân thật của những thông tin đã thu thập được từ phía khách
hàng trong bước 1, từ đó nhận xét thái độ, thiện chí của khách hàng làm cơ sở cho
việc ra quyết định cho vay.
- Bước 3: Ra quyết định tín dụng
Trong khâu này, ngân hàng sẽ ra quyết định đồng ý hoặc từ chối cho vay đối
với một hồ sơ vay vốn của khách hàng.
Khi ra quyết định, thường mắc 2 sai lầm cơ bản: Đồng ý cho vay với một
khách hàng không tốt và từ chối cho vay với một khách hàng tôt. Cả 2 sai lầm đều
ảnh hưởng đến hoạt đông kinh doanh tín dụng, thậm chí sai lầm thứ 2 còn ảnh
hưởng đến uy tín của ngân hàng.
Giai đoạn trong khi cho vay:
Giai đoạn này thường gồm hai bước: giải ngân và giám sát tín dụng.
- Bước 4: Giải ngân
dụng an toàn. Trong một số trường hợp, người vay không hoàn trả nợ hoặc hoàn trả
không đầy đủ và đúng hạn, điều đó có nghĩa là rủi ro đã xảy ra . Lúc này cán bộ tín
dụng phải tiến hành xem xét, tìm ra nguyên nhân dẫn đến việc khách hàng không
thanh toán được nợ cho ngân hàng như đã cam kết theo hợp đồng tín dụng. Tóm lại,
kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay là toàn bộ công việc kiểm tra từ khi khách
hàng đặt quan hệ tín dụng đến khi ngân hàng duyệt kế hoạch vay vốn, ký hợp đồng
tín dụng với khách hàng và thực hiện các cam kết theo hợp đồng. Sau khi đã cho
vay, ngân hàng cần kiểm tra xem xét khách hàng sử dụng tiền vay có đúng mục
đích ... việc hoàn trả nợ gốc và lãi có đúng thời hạn không.
Các ngân hàng cần thường xuyên kiểm tra, đánh giá việc thực hiện quy trình
tín dụng để xây dựng quy trình tín dụng ngày càng hoàn thiện, xóa bỏ cơ chế “biểu
mẫu”, thủ tục cồng kềnh, thiếu trọng tâm của quy trình tín dụng; tăng cường ứng
dụng các phần mềm phân tích tài chính, giảm bớt công tác phân tích thủ công tốn
kém và không chính xác.
Chính sách tin dụng cá nhân:
Chính sách tín dụng bao gồm hệ thống các quan điểm, chủ trương, định
hướng quy định chỉ đạo hoạt động tín dụng và đầu tư của ngân hàng thương mại, do
hội đồng quản trị ban hành phù hợp với chiến lược phát triển của ngân hàng và
những quy định hiện hành. Do đó, chính sách tín dụng cá nhân là cương lĩnh tài trợ
của một ngân hàng đối với khách hàng cá nhân, là hướng dẫn chung cho cán bộ tín
dụng và các nhân viên ngân hàng, tăng cường chuyên môn hóa trong phân tích tín
dụng, tạo sự thống nhất chung trong hoạt động tín dụng cá nhân nhằm hạn chế rủi
ro tín dụng và nâng cao khả năng sinh lời.
Ngân hàng tiến hành các hoạt động tín dụng nhằm tìm kiếm lợi nhuận trên cơ
sở đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Các chính sách tín dụng của ngân hàng nhằm
đạt được mục tiêu cân bằng giữa tối đa hóa lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro, đảm bảo
tăng trưởng tín dụng an toàn và hiệu quả, đúng định hướng và chiến lược phát triển
của ngân hàng.
Vũ Thu Hiền
- Thu nhập của người vay (Cashflow): xác định nguồn trả nợ của khách
hàng vay.
- Bảo đảm tiền vay (Collateral): là nguồn thu thứ hai có thể dùng để trả nợ
vay cho ngân hàng.
- Các điều kiện khác (Conditions):cụ thể là các điều kiện về chính trị,
kinh tế, xã hội, công nghệ luạt pháp...các điều kiện này là khách quan, nằm
ngoài sự kiểm soát của ngân hàng và người vay nhưng lại có ảnh hưởng đến rủi
ro tín dụng cá nhân.
Vũ Thu Hiền
Lớp: Ngân hàng 48B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Kiểm soát (Control): đánh giá những ảnh hưởng do sự thay đổi của
luật pháp, quy chế hoạt động, khả năng khách hàng đáp ứng các tiêu chuẩn
của ngân hàng.
Việc sử dụng mô hình này tương đối đơn giản, song hạn chế của mô hình này
là nó phụ thuộc vào mức độ chính xác của nguồn thông tin thu thập, khả năng dự
báo cũng như trình độ phân tích, đánh giá của CBTD
Mô hình điểm số tín dụng cá nhân :
Để đưa ra được một mô hình quản lý rủi ro hiện đại và hiệu quả phù hợp với
từng ngân hàng, trước hết các ngân hàng cần phải lượng hóa được rủi ro tín dụng.
Vì vậy mà ngân hàng sử dụng mô hình cho điểm để xử lý đơn xin vay của người
tiêu dùng như: mua xe hơi, trang thiết bị gia đình, bất động sản,…Mô hình này bao
gồm một hệ thống các tiêu chí liên quan đến từng đối tượng khách hàng, mỗi chỉ
tiêu có điểm số khác nhau phụ thuộc vào tính chất và tầm quan trọng của chúng.
Căn cứ vào tình trạng của khách hàng và thang điểm của ngân hàng sẽ quyết định số
điểm tương ứng cho từng chỉ tiêu liên quan tới khách hàng, sau đó cộng tổng số
lẫn nhau, nên mỗi ngân hàng có thể sử dụng cùng một lúc nhiều mô hình khác nhau
để phân tích và đánh giá mức độ rủi ro của khoản vay.
Thực hiện các biện pháp hạn chế tổn thất khi cho vay và khi rủi ro
xảy ra
Cho vay có tài sản đảm bảo: Việc cho vay có tài sản đảm bảo nhằm giúp
cho ngân hàng có nguồn thu thứ hai khi khách hàng không có khả năng trả nợ. Khi
người vay không trả nợ như theo cam kết trong hợp đồng tín dụng thì ngân hàng có
quyền bán các tài sản cầm cố, thế chấp để thu hồi nợ. Việc cho vay có tài sản đảm
bảo tạo cho ngân hàng lợi thế về tâm lý so với người vay do một tài sản làm vật đặt
cọc (như nhà cửa, đất đai, xe hơi...) làm cho người vay có trách nhiệm hơn trong
việc hoàn trả nợ vay bởi họ sẽ không muốn bán đi những tài sản có giá trị và giá trị
sử dụng lâu bền của mình. Đặc biệt trong tín dụng cá nhân chủ yếu là cho vay mua
sắm những đồ đạc có giá trị sử dụng lâu dài, do đó việc gắn những tài sản này với
trách nhiệm trả nợ là một phương pháp hữu ích. Như vậy, việc cho vay có tài sản
đảm bảo là điều kiện tiên quyết quyết của ngân hàng đối với khách hàng. Mặt khác,
tài sản đảm bảo là nguồn thu nợ thứ hai của ngân hàng, nên nó cần phải được theo
dõi về tình trạng, kiểm tra đánh giá lại giá trị để có biện pháp xử lý khi có tình
huống xảy ra, do đó nó là một nhiệm vụ không thể thiếu với cán bộ tín dụng. Vì vậy
mà vấn đề quản trị danh mục tài sản đảm bảo tiền vay là một yêu cầu cần thiết và
một mắt xích quan trọng trong quy trình cho vay thu hồi nợ, xử lý các khoản nợ có
vấn đề.
Trích lập dự phòng rủi ro tín dụng :
Trích lập dự phòng rủi ro tín dụng là một hình thức dự trữ tài chính chuyên
dùng, được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng
của tổ chức tín dụng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết. Đây là công việc cần
thiết nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động của ngân hàng. Khi khoản vốn vay bị
mất có giá trị lớn thì việc loại trừ một lúc theo giá trị thực của nó sẽ ảnh hưởng bất
lợi đến tình hình tài sản và trạng thái vốn của ngân hàng. Với quỹ dự phòng rủi ro
được trích lập như một quỹ khấu hao thì khi rủi ro tín dụng xảy ra, việc loại trừ các
khoản mất vốn cho vay không gây biến động lớn đến kết quả tài chính hiện tại của
mối quan hệ rủi ro - lợi nhuận để tìm ra những lợi ích xứng đáng với mức rủi ro
chấp nhận. Ngân hàng sẽ hoạt động an toàn và hiệu quả khi mà gánh chịu một mức
rủi ro hợp lý và kiểm soát được nằm trong phạm vi khả năng các nguồn lực tài
chính và năng lực tín dụng của ngân hàng.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế là sự lớn mạnh của thị trường khách
hàng cá nhân. Thị trường này đang được coi là thị trường mục tiêu của không ít cá
ngân hàng. Lượng khách hàng cá nhân ngày càng gia tăng với tốc độ lớn tại các
ngân hàng. Như vậy, xây dựng một chiến lược quản lý rủi ro tín dụng cá nhân là tất
yếu đối với mỗi ngân hàng thương mại.
Vũ Thu Hiền
Lớp: Ngân hàng 48B