Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu
Thuế không những là nguồn thu chủ yếu của ngân sách mà còn là công cụ
điều tiết vĩ mô quan trọng của Nhà nớc. Một chính sách thuế thích hợp sẽ nâng cao
đợc hiệu quả sản xuất kinh doanh, đảm bảo đợc nguồn thu cho ngân sách nhà nớc và
đảm bảo độ an toàn trong chính sách hội nhập kinh tế. Do vậy, cùng với việc thực
hiện đờng lối đổi mới, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh
tế thị trờng có sự điều tiết của Nhà nớc, Đảng và Chính phủ đã dành nhiều sự quan
tâm chú ý lớn cho công tác đổi mới hệ thống thuế.
Mặt khác, thực tiễn phát triển kinh tế của đất nớc cũng nh bối cảnh quốc tế
mới đòi hỏi chúng ta phải có những cải cách mới, làm cho hệ thống thuế vừa đáp
ứng đợc nhu cầu quản lý trong nớc vừa phù hợp với những luật lệ và thông lệ quốc
tế. Để đáp ứng đợc yêu cầu đó, năm 1999 thuế giá trị gia tăng đã đợc ban hành thay
thế cho thuế doanh thu, đánh dấu một bớc tiến bộ trong công tác quả lý vĩ mô của
Đảng và Nhà nớc. Từ đó đến nay sắc thuế này đã liên tục đợc sửa đổi bổ sung và
ngày càng hoàn thiện.
Vừa qua, Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 3 đã thông qua Luật sửa đổi bổ sung
một số điêù của Luật thuế GTGT. Bắt đầu từ ngày 1/1/2004 thuế GTGT đã có rất
nhiều thay đổi và việc cập nhật những thay đổi này là vô cùng cần thiết không chỉ
đối với những ngời đang tham gia trực tiếp vào các hoạt động kinh tế mà còn rất hữu
ích đối với những ngời sẽ tham gia vào các hoạt động đó trong tơng lai - các sinh
viên kinh tế đặc biệt là chuyên ngành kế toán. Do đó em đã chọn đề án này để
nghiên cứu
Trên thực tế, không có giải pháp nào là hoàn hảo. Luật sửa đổi bổ sung đã khắc
phục rất nhiều những khuyết điểm của Luật thuế GTGT trớc đây, tuy nhiên nó vẫn
còn một số bất cập cần đợc nhìn nhận một cách khách quan, từ đó tìm ra nguyên
nhân và phơng hớng khắc phục để phù hợp với mục tiêu và điều kiện của nớc ta
trong giai đoạn này.
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Những vấn đề cơ bản về thuế giá trị gia tăng
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Để khắc phục nhợc điểm này, năm 1963 Pháp đã cải tiến thuế doanh thu từ việc
đánh vào doanh thu của từng khâu sang hình thức đánh thuế một lần vào công đoạn
cuối cùng của quá trình sản xuất (tức là trớc khi sản phẩm đợc đa vào lu thông lần
đầu). Việc đánh thuế độc lập một lần nh vậy khắc phục đợc hiện tợng đánh thuế
trùng lặp, nhng cách tính này lại phát sinh nhợc điểm là thuế bị chậm trễ so với trớc,
vì chỉ khi hàng hoá đa vào lu thông thì Nhà nớc mới thu đợc thuế ...
Trớc một thực tế là Nhà nớc muốn thu đợc nhiều thuế và thu kịp thời, vừa thúc
đẩy sản xuất phát triển để bồi dỡng nguồn thu cho giai đoạn sau, các nhà kinh tế đã
liên tục sửa đổi, bổ sung cho thuế doanh thu ngày càng hoàn thiện. Trên cơ sở đánh
thuế doanh thu một lần trớc khi đa sản phẩm vào lu thông.Vào đâu những năm năm
mơi, môt ngời Đức tên là Cart Friedrich Von Simens ( thành viên sáng lập ra công ty
Simensa.G - Một công ty sản xuất máy móc điện tử lớn nhất nớc Đức), đã nghĩ ra
một chính sách thuế có thể thay thế cho thuế Doanh thu. Đó là thuế GTGT tính trên
phần giá trị tăng thêm của hàng hoá dịch vụ khi qua mỗi công đoạn từ sản xuất, lu
thông đến tiêu dùng. Mặc dù đợc khai sinh ở Đức, nhng vào thời điểm này những lý
luận của Simens đa ra không đủ sức thuyết phục Chính phủ nên không đợc thực hiện
đầu tiên ở nớc Đức.
Trên thực tế thì thuế GTGT đợc nghiên cứu và áp dụng đầu tiên tại Cộng hoà
Pháp ngày 1 tháng 7 năm 1954. Vì Pháp là một trong những nớc có nền công nghiệp
rất phát triển (tiến hành cách mạng công nghiệp sớm). Ban đầu thuế GTGT ở Pháp
ra đời chỉ nhằm vào một số ngành cá biệt, chủ yếu nhằm hạn chế việc thu thuế
chồng chéo qua nhiều khâu trong lĩnh vực công nghiệp. với thuế suất đòng loạt là
20% và chỉ khấu trừ thuế ở khâu trớc đối với nguyên liệu,vật liệu. Đến năm 1966,
trong xu hớng cải tiến hệ thống thuế "đơn guản và hiện đại"chung ở châu Âu, TVA
đợc ban hành chính thức để thay thế một số sắc thuế gián thu. Đến năm 1986, thuế
GTGT ở Pháp đợc áp dụng cho mọi ngành nghề và trong mọi lĩnh vực.
Năm 1953, ngời Nhật cũng nghiên cứu thuế GTGT và dự thảo ra bộ luật về
thuế GTGT, nhng không đợc quốc hội thông qua (đến năm 1988, Nhật mới áp dụng
II. Thuế giá trị gia tăng của một số nớc trên thế giới và bài
học kinh nghiệm
1. Đặc điểm của thuế GTGT.
Thuế GTGT có phạm vi thu rất rộng, đối tợng phải nộp thuế là toàn bộ các cơ
sở hoạt động sản xuất, kinh doanh kể cả gia công , chế biến và hoạt động dịch vụ
tiêu thụ trong nớc, kể cả hàng hoá nhập khẩu.Tuy nhiên, một số hàng hoá, dịch vụ
miễn thuế đợc quy định tuỳ thuỗc vào mỗi nớc trong từng thời kỳ cụ thể. Vì vậy,
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
bất kỳ một nớc nào khi chuyển sang áp dụng thuế GTGT, đồng thời cũng phải rà
soát lại pham vi và thuế của các chính sách thuế khác.
Các cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụthu thuế GTGT qua việc bán
cá hàng hoá, dịch vụ này. Tiền thuế ẩn trong giá thanh toán của hàng hoá, dịch vụ đ-
ợc các cơ sở sản xuất kinh doanh nộp vào Ngân sách Nhà nớc thay cho ngời tiêu
dùng. Thuế GTGT là thuế gián thu có tính chất điển hình và vì vậy , đây cũng là
chính sách thuế tốt xét cề mặt "trách nhiệm chính trị ".
Thuế GTGT không đánh vào đầu t vì thuế nằm ngoài giá trị tài sản cố định và
giá thành sản phẩm hàng hoá, dịch vụ. Ngời mua phải trả thêm tiền thuế GTGT và
tiền thuế này sẽ đợc tách riêng để khấy trừ khi tính thuế GTGTphải nộp ổ giai đoạn
sau.
Thuế GTGT đợc tính dựa trên giá trị sản phẩm hàng hoá và dịch vụ chứ không
căn cứ vào hình thái hiện vật, cũng nh công dụng của chúng.
Một đặc điểm quan trọng của thuế GTGT là cho dù sản phẩm có trải qua bao
nhiêu giai đoạn thì tổng số thuế phải nộp cũng không thay đổi. Đó chính là số thuế
mà ngời tiêu dùng cuối cùng phải trả
Tổng thuế GTGT phải nộp
của một sản phẩm
=
Thuế
suất
* Phạm vi áp dụng của thuế TGGT.
Đợc xem xét trên các mặt: Những hoạt động và đối tợng phải nộp thuế, tính
lãnh thổ và những trờng hợp không thuộc diện đánh thuế. Cụ thể:
Những hoạt động và đối tợng phải nộp thuế TGGT đợc xác định theo 3 điều
kiện cơ bản là:
- Thực hiện việc giao bán hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ thuộc loại phải trả
tiền.
- Thuộc phạm vi hoạt động kinh tế, mang tính độc lập.
- Do một đối tợng thuộc diện nộp thuế TGGT thực hiện.
Tính lãnh thổ của thuế TGGT dợc xác định theo 2 nguyên tắc cơ bản là:
- Việc giao hàng hoá đợc thực hiện tại nớc Pháp.
- Việc cung ứng dịch vụ do ngời hoạt động dịch vụ có của hàng giao dịch và cơ
sở ổn định, hoạt động trên nớc Pháp hoặc có chỗ c trú trên nớc Pháp.
- Từ 2 nguyên tắc trên, nói chung hàng xuất khẩu không phải nộp thuế TGGT.
Ngợc lại, hàng nhập khẩu vào nớc Pháp phải nộp thuế TGGT. Từ 1-1-1993, hàng từ
các nớc ngoài nhập khẩu vào Cộng đồng châu Âu phải nộp thuế TGGT, còn hàng
nhập khẩu giữa các nớc trong Cộng dồng châu Âu không phải nộp thuế TGGT.
Những trờng hợp không thuộc diện đánh thuế TGGT. Đó là những hoạt động
thông thờng thuộc phạm vi đánh thuế, đợc chia thành 3 nhóm theo nột số điều kiện
nhất định sau đây:
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Đối với hoạt động thông thờng trong nội địa: có tính chất phụ, hoạt động
trong ngành giáo dục, văn hoá, thể thao, xã hội, ngân hàng, bảo hiểm phục vụ nông
nghiệp, ng nghiệp, cơ sở kinh doanh nhỏ, phục vụ công cộng ...
- Đối với hàng nhập: đang chờ làm thủ tục hải quan, tái xuất, tái sản của cá
nhân, hàng của các tổ chức từ thiện, hàng với số lợng ít không mang tính chất buôn
bán, hàng thuộc hành lý, văn hoá phẩm không có tính chất kinh doanh, một số cổ
phần, trái phiếu đợc phép nhập...
- Đối với hàng xuất khẩu: hàng xuất, cung ứng dịch vụ gắn với thông thơng
33,3% đợc điều chỉnh dần xuống 28%, 25%, 22% rồi hoà nhập vào loại 18,6%.
Hiện nay thuế GTGT ở Pháp có 2 thuế suất là:
- 5.5% áp dụng đối với nông sản cha chế biến, cho thuê nhà ở, vận chuyển
hành khách, biểu diễn văn nghệ, thuốc chữa bệnh...
- 18,6% áp dụng đối với các mặt hàng, dich vụ khác.
* Chế độ khấu trừ thuế TGGT.
Theo nguyên tắc cơ bản của thuế TGGT, nghiệp vụ tính và thu thuế TGGT qua
từng khâu chỉ mang tính chất "tạm ứng". Số thuế TGGT đã nộp ở khâu trớc sẽ đợc
khấu trừ ở khâu sau cho đơn vị kinh doanh, còn đối với ngòi tiêu dùng, không phải
trả thuế TGGT đối với từng khâu riêng biệt mà phải trả toàn bộ số thuế TGGT phải
nộp cho đến khi kết thúc chu kỳ kinh tế.
Phần thuế TGGT đợc khấu trừ chỉ đợc giải quyết cho đối tợng nộp thuế đã thực
hiện đầy đủ các thủ tục cần thiết về đăng ký, sổ kế toán, chứng từ, hoá đơn và có cơ
sở để chứng minh đợc là: trong toàn bộ giá thành của hoạt động giao bán hàng hoặc
cung ứng dịch vụ, thực tế đã có thuế TGGT nộp ở khâu trớc.
Khi số tiền đợc khấu trừ lớn hơn số thuế phải nộp, số chênh lệch sẽ đợc hoàn
dần vào số thuế TGGT nộp lần sau cho đến khi hết số tiền đợc hoàn và đợc coi là
một " khoản tín dụng thuế".
Về nguyên tắc, thuế TGGT phải nộp vào kho bạc trong tháng phát sinh hoạt
động bán hàng hoạc cung ứng dịch vụ. Trên thục tế, chỉ có vất động sản , ô tô , máy
móc ... mới đựơc tính khấu trừ thuế theo nguyên tắc đó. Còn thuế TGGT đối với hàn
hoá, dịch vụ khác chỉ đợc khấu trừ vào tháng tiếp theo sau tháng đơn vị kinh doanh
phải nộp thuế. Quy định này gọi là "Quy định chênh lệch một tháng" nhằm tạo cho
Nhà nớc đợc hởng một khoản tiền trong kho bạc tơng đơng với một tháng khấu trừ
đối với hàng hoá, dịch vụ nói trên. Đây cũng là điều kiện không hợp lý mà Chính
phủ Pháp đang nghiên cứu khắc phục.
* Chế độ hoàn thuế TGGT:
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Các đối tợng nộp thuế có quyền làm đơn gửi đến cơ quan thuế trực tiếp quản lý
đơn vị bắt đầu phải nộp thuế TGGT từ ngày 1-1 năm tiếp theo. Trong quá trình thêo
dõi hoạt động của cơ sở, nếu phát hiện doanh thu trong năm vợt 100.000 FRF thì
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
đơn vị bắt đầu phảo nộp thuế TGGT từ 1-4-1991, thuế TGGT còn đợc miễn đối với
các hoạt động nghề nghiệp hợp pháp của các luật s có doanh thu của năm trớc
(không gồm thuế TGGT) không vơt quá 245.000 FRF.
* Nghĩa vụ khai báo, nộp thuế TGGT:
Về nguyên tắc, những đối tợng thuộc diện áp dụng thuế TGGT phải thực hiện
đầy đủ sổ kế toán, chứng từ hóa đơn. Sổ kế toán và các tài liệu có liên quan phải đợc
bảo quản, lu trữ cẩn thận trong thời gian 6 năm.
Nếu không thuộc diện đựoc nộp thuế TGGT khoán thì hàng tháng hàng quý
tuỳ quy định của cơ quan thuế, cơ sở kinh doanh phải làm tờ khai theo mẫu về tình
hình hoạt động trong tháng (hoặc quý) và phải nộp đầy đủ thuế TGGT trong thời
hạn quy định.
Đối với số cơ sở kinh doanh gặp khó khăn, không có điều kiện nộp tờ khai
dúng hạn, có thể xin cơ quan thuế xem xét, gia hạn thời gian nộp tờ khai, nộp thuế
hoặc đơn giản là tạm nộp trớc khoảng 80% số thuế TGGT phải nộp.
Từ 1-1-1991, những đối tợng thuộc diện nộp thuế TGGT có doanh thu trên
mức quy định đối với loại thuế nộp rhuế khoán có thể đợc xin áp dụng chế độ thanh
toán và nộp thuế theo biện pháp đơn giản, nếu doanh thu hàng năm (không gồm
thuế TGGT) thấp hơn mức quy định dới đây:
- 3.500.000 FRF đối với các cửa hàng bán bách hoá, thực phẩm mua mang về,
hàng uống tại chỗ hiặc cho thuê nhà.
- 1.000.000 FRF đối với các cơ sở kinh doanh khác.
Hàng tháng hoặc quý, các đối tợng náy phải kê khai đơn giá, tạm ứng một số
thuế TGGT nhất định và thanh toán số thuế phải nộp chính thức vào cuối năm.
2.2. Nội dung cơ bản của thuế GTGT ở Hung- ga-ri.
Hung-ga -ri là nớc XHCN đầu tiên áp dụng thuế GTGT từ năm 1989. Mục
đích của cuộc cải cách thuế lúc ấy nhằm iảm bớt gánh nặng về thuế đối với cơ sở