Đánh giá thực trạng ô nhiễm môi trường nước từ hoạt động đúc đồng, tại làng nghề đúc đồng đại bái, xã đại bái, huyện gia bình, tỉnh bắc ninh - Pdf 31

1

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Các làng nghề truyền thống ở Việt Nam đã và đang có nhiều đóng góp
cho GDP của đất nước nói chung và đối với nền kinh tế nông thôn nói riêng.
Nhiều làng nghề truyền thống hiện nay đã được khôi phục, đầu tư phát triển
với quy mô và kỹ thuật cao hơn, hàng hóa không những phục vụ nhu cầu
trong nước mà còn cho xuất khẩu với giá trị lớn. Bắc Ninh là một trong những
tỉnh có nhiều làng nghề nhất ở nước ta. Hiện nay, toàn tỉnh có 62 làng nghề,
trong đó có 30 làng nghề truyền thống và 32 làng nghề mới với những sản
phẩm nổi tiếng như sắt thép (Đa Hội, Châu Khê, Từ Sơn), giấy (Phong Khê,
Phú Lâm), nấu rượu (Đại Lâm, Tam Đa), đồ gỗ mỹ nghệ (Đồng Kỵ)...
Hàng năm, các làng nghề đã đóng góp rất lớn vào ngân sách Nhà nước,
tạo việc làm tại chỗ cho gần 35 nghìn lao động và thu hút hàng nghìn lao
động nông thôn ở các vùng phụ cận. Việc khôi phục các làng nghề cũ, xây
dựng các làng nghề mới, hình thành các cụm công nghiệp theo ngành nghề
xuất phát từ nhu cầu cuộc sống; là mục tiêu, động lực thúc đẩy quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động trong nông nghiệp, phù hợp với
chủ trương của Đảng và Chính phủ về công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nông nghiệp và nông thôn.
Song cùng với sự giàu lên nhanh chóng là nạn ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến sức khỏe người dân, sản xuất nông nghiệp
và cảnh quan. Kết quả điều tra khảo sát chất lượng môi trường tại một số làng
nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong các năm gần đây từ 2005 đến 2011 cho
thấy các mẫu nước mặt, nước ngầm đều có dấu hiệu ô nhiễm với mức độ khác
nhau; môi trường không khí bị ô nhiễm có tính cục bộ tại nơi trực tiếp sản
xuất, nhất là ô nhiễm bụi vượt tiêu chuẩn cho phép và ô nhiễm do sử dụng
nguyên liệu hóa thạch, đất đai bị xói mòn, thoái hoá; chất lượng các nguồn
nước suy giảm mạnh.

từ hoạt động đúc đồng, tại làng nghề đúc đồng Đại Bái, xã Đại Bái, huyện
Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh” dưới sự hướng dẫn của giảng viên ThS. Dương
Thị Thanh Hà - giảng viên trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên.
1.2. Mục Đích của đề tài
- Đánh giá hiện trạng môi trường nước từ hoạt động đúc đồng của làng
nghề đúc đồng Đại Bái.
- Tìm hiểu những ảnh hưởng do sản xuất đúc đồng gây ra đối với môi
trường nước và sức khỏe của người dân.


3

1.3. Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá hiện trạng môi trường nước tại làng nghề đúc đồng Đại Bái.
- Xác định mức độ ô nhiễm nguồn nước tại làng nghề
- Tìm hiểu những ảnh hưởng của môi trường nước làng nghề tới sức
khỏe người dân.
- Đề xuất một số giải pháp giảm thiếu ô nhiễm môi trường nước tại
làng nghề đúc đồng Đại Bái.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
* Ý nghĩa trong học tập
- Tạo cho sinh viên cơ hội nâng cao kiến thức, tiếp cận với thực tiễn,
vận dụng lý thuyết đã học vào thực tế, rèn luyện kỹ năng tổng hợp và phân
tích số liệu
- Quá trình thực hiện đề tài, sinh viên được đóng vai trò như một cán bộ
tập sự, làm bước đệm chuẩn bị cho công việc trong tương lai.
* Ý nghĩa trong quản lý môi trường.
- Nâng cao công tác quản lý môi trường làng nghề tại địa phương.
* Ý nghĩa thực tiễn
- Đề tài nghiên cứu vấn đề môi trường nước, một vấn đề bức xúc của

phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và
sinh vật.(Luật Bảo Vệ Môi Trường Việt Nam, 2005)[4].
* Khái niệm tiêu chuẩn môi trường
Là các giá trị được ghi nhận trong các quy định chính thức, xác định
nồng độ tối đa cho phép của các chất trong thức ăn, nước uống, không khí;
hoặc giới hạn chịu đựng của con người và sinh vật với các yếu tố môi trường
xung quanh.
Tiêu chuẩn môi trường là giới hạn cho phép của các thông số về chất
lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất
thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lý và
bảo vệ môi trường .(Luật Bảo Vệ Môi Trường Việt Nam, 2005) [4]
* Khái niệm bảo vệ môi trường


5

Bo v mụi trng l hot ng gi cho mụi trng trong lnh sch x,
phũng nga hn ch cỏc tỏc ng xu ti mụi trng, ng phú s c mụi
trng , khc phc ụ nhim, suy thoỏi, phc hi v ci thin mụi trng , khai
thỏc s dng hp lớ v tit kim ti nguyờn thiờn nhiờn, bo v a dng sinh
hc.(Lut Bo V Mụi Trng Vit Nam, 2005)[4]
* Khỏi nim ụ nhim mụi trng nc
S ụ nhim mụi trng nc l s thay i thnh phn v tớnh cht ca
nc gõy nh hng n hot ng sng bỡnh thng ca con ngi v sinh vt.
Theo hin chng Chõu u ễ nhim mụi trng nc l s bin i
ch yu do con ngi gõy ra i vi cht lng nc lm ụ nhim nc v
gõy nguy hi cho vic s dng, cho nụng nghip, cho cụng nghip, nuụi cỏ,
ngh ngi, gii trớ, cho ng vt nuụi cng nh cỏc loi hoang dó.
* Khỏi nim v nc ngm
Nc ngm l mt dng nc di t, tớch tr trong cỏc lp t ỏ trm

+ Làng nghề truyền thống là những làng nghề xuất hiện từ lâu đời trong
lịch sử và còn tồn tại đến ngày nay, là những làng nghề đã tồn tại hàng trăm
năm thậm chí hàng nghìn năm.
+ Làng nghề mới là những làng nghề xuất hiện do sự phát triển lan tỏa
của các làng nghề truyền thống trong những năm gần đây, đặc biệt trong thời
kỳ đổi mới, thời kỳ chuyển dịch sang kinh tế thị trường.(Đặng Kim Chi,
2005)[3]
* Tiêu chí công nhận làng nghề, làng nghề truyền thống.
Theo thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của
BNN&PTNT hướng dẫn một số nội dung của Nghị Định số 66/2006/NĐ-CP
ngày 07/07/2006 của chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn, một tiêu
chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề và làng nghề truyền thống như sau:
 Tiêu chí công nhận làng nghề
Làng nghề được công nhận phải đạt 03 tiêu chí sau:
- Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động
ngành nghề nông thôn;
- Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời
điểm đề nghị công nhận;
- Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước.
 Tiêu chí công nhận làng nghề truyền thống
Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một
nghề truyền thống theo quy định tại Thông tư này.


7

Đối với những làng chưa đạt tiêu chuẩn của tiêu chí công nhận làng
nghề nhưng có ít nhất một nghề truyền thống được công nhận theo quy định
của Thông tư này thì cũng được công nhận là làng nghề truyền thống.
2.2. Cơ sở pháp lý


- TCVN 5993:1995 Chất lượng nước - Lấy mẫu - Hướng dẫn bảo quản
và xử lý mẫu.
- TCVN 6001:1995 (ISO 5815:1989) - Chất lượng nước - Xác định nhu
cầu oxi hóa sau 5 ngày (BOD5).Phương pháp cấy và pha loãng.
- TCVN 6491:1999 (ISO 6060:1989) Chất lượng nước - Xác định nhu
cầu oxi hóa học (COD).
- QCVN 08:2008/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về môi trường
- QCVN 14:2008/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia nước thải
sinh hoạt.
- QCVN 24:2009/BTNMT Quy chuẩn Quốc gia về chất lượng nước
thải công nghiệp.
2.3. Cơ sở lý luận
Nước là khởi nguồn của sự sống của vi sinh vật trên Trái Đất, không có
nước thì không có sự sống. Tài nguyên nước là tài nguyên quan trọng hàng
đầu phục vụ cho con người nhưng cùng với đó nước cũng kéo theo những
mối nguy hiểm hàng đầu với các thảm họa tự nhiên như lũ lụt, bão, hạn hán…
Vấn đề tài nguyên nước là vấn đề không chỉ của một quốc gia vì nước
không chỉ chảy trong phạm vi một quốc gia mà là vấn đề liên quốc gia hay thế
giới. Bảo vệ tài nguyên nước là vấn đề liên quan tới chính trị, ngoại giao và
nhân văn. Vì vậy các quốc gia phải có cách cư xử đúng mực trong việc sử
dụng và bảo vệ tài nguyên nước vì quyền lợi chung.
Hện nay trên phạm vi toàn cầu con người đã sử dụng 8% trong tổng số
nước ngọt được khai thác cho sinh hoạt, 23% cho công nghiệp, 63% cho nông
nghiệp. Ở Việt Nam theo chiến lược cấp nước đến năm 2010, để phục vụ cho
nông nghiệp cần khoảng 80 triệu m3, cho sinh hoạt cần 6-8 triệu m 3 và 15
triệu m3 cho công nghiệp. Tổng số nước cần từ 90 đến 105 triệu m 3 chiếm
khoảng 30% lượng nước sản sinh trên lãnh thổ Việt Nam.(Sở Tài nguyên và
Môi trường Bắc Ninh, 2010)[9]
Tài nguyên nước là một trong bốn nguồn lực cơ bản và đóng vai trò

người Việt cổ đã phát minh và sáng chế ra hầu hết các kỹ thuật chế tác đá,
gốm mà đến nay vẫn được sử dụng rộng rãi như: khoan, mài đá,…
Thời Đông Sơn: từ gần 3000 năm đến 258 trước Công nguyên, người
Việt Đông Sơn đã phát minh ra công thức đồng thau, đồng thanh, và một số
sản phẩm độc đáo của nghề đúc đồng đương thời.
Thời kỳ Bắc thuộc: tuy bị cấm đoán, một số yếu tố kỹ thuật vẫn tiếp tục
vươn lên và kinh nghiệm sản xuất của người Hán vẫn được du nhập vào Việt


10

Nam như nghề làm gốm, rèn sắt,…Khi Ngô Quyền chiến thắng quân Nam
Hán, nghề của Việt Nam mới dần dần được khôi phục và phát triển.
Thời kỳ độc lập tự chủ (thế kỷ XI-XIV) dưới triều đại nhà Lý và nhà
Trần, nghề thủ công truyền thống có điều kiện phát triển cả về chất lượng và
chủng loại như nghề gốm, chạm khắc gỗ và đá, giấy dó, làng kim hoàn….
Thời hậu Lê và thời Mạc (thế kỷ XV-XVIII) làng nghề thủ công tiếp
tục ra đời và sản xuất ổn định.
Thời cận đại (từ 1858 trở về trước), thủ công nghiệp và làng nghề
truyền thống ở nông thôn tiếp tục phát triển. Nghề thủ công có vai trò hết sức
quan trọng, thường được gắn với tên làng tên xã của nông thôn Việt Nam như
gốm Thổ Hà, gạch Bát Tràng, tranh dân gian Đông Hồ,…Sự phát triển của
làng nghề truyền thống thời kỳ này khá phong phú và đa dạng, thể hiện sự
phân công lao động và chuyên môn hoá theo nghề ngày càng cao.
Thời Pháp thuộc (1945-1958): chính quyền Pháp ở Đông Dương đóng
vai trò chủ đạo trong việc sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam.
Chúng cũng đã tiến hành điều tra, khảo sát, đầu tư phát triển các ngành thủ
công của Việt Nam.
Thời kỳ hoà bình lập lại ở miền Bắc: đi đôi với chủ trương đẩy mạnh
phát triển sản xuất nông nghiệp, phục hồi và xây dựng công nghiệp,..Đảng và

Hình 2.1: Biểu đồ tỷ lệ làng nghề theo khu vực ở Việt Nam

Theo ước tính, trong vòng 10 năm qua, làng nghề nông thôn Việt Nam
đã có tốc độ tăng trưởng nhanh, trung bình khoảng 8% năm, tính theo giá trị
đầu ra. Sản phẩm và phương thức sản xuất của các làng nghề rất phong phú
và đa dạng với hàng trăm loại nghề khác nhau.
Việc phân loại nhóm ngành như trên dựa trên các yếu tố tương đồng về
công nghệ sản xuất, nguyên vật liệu, sản phẩm và thị trường tiêu thụ của các
làng nghề. Ta thấy, đồng bằng Sông Hồng (ĐBSH) là vùng tập trung nhiều
làng nghề nhất, tiếp theo là Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ.


12

2.4.3. Phân loại làng nghề
Dựa trên các tiêu chí khác nhau, có thể phân loại làng nghề theo một số
dạng như sau:
- Theo làng nghề truyền thống và theo làng nghề mới
- Theo ngành sản xuất, loại hình sản phẩm
- Theo quy mô sản xuất, theo quy trình công nghệ
- Theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm
- Theo mức độ sử dụng nguyên nhiên liệu
- Theo thị trường tiêu thụ sản phẩm, tiềm năng tồn tại và phát triển
Mỗi cách phân loại nêu trên có những đặc thù riêng và tùy theo mục
đích mà có thể lựa chọn cách phân loại phù hợp. Trên cơ sở tiếp cận vấn đề
môi trường làng nghề, cách phân loại theo ngành sản xuất và loại hình sản
phẩm là phù hợp hơn cả, vì thực tế cho thấy mỗi ngành nghề, mỗi sản phẩm
đều có những yêu cầu khác nhau về nguyên nhiên liệu, quy trình sản xuất
khác nhau, nguồn và dạng chất thải khác nhau, và vì vậy có những tác động
khác nhau đối với môi trường.

Hình thành từ hàng trăm năm nay, tập trung ở vùng có khả năng cung
cấp nguyên liệu cơ bản cho hoạt động xây dựng. Lao động gần như hoạt động
thủ công hoàn toàn, quy trình công nghệ thô sơ, tỷ lệ cơ khí hóa thấp, ít thay
đổi. Khi đời sống được nâng cao, nhu cầu về xây dựng nhà cửa, công trình
ngày càng tăng, hoạt động sản xuất vật liệu xây dựng phát triển nhanh và tràn
lan ở các vùng nông thôn. Nghề khai thác đá cũng phát triển ở những làng gần
các núi đá vôi được phép khai thác, cung cấp nguyên liệu cho các hoạt động
sản xuất sản phẩm thủ công mỹ nghệ và vật liệu xây dựng.
* Làng nghề tái chế phế liệu:
Chủ yếu các làng nghề mới hình thành, số lượng ít nhưng lại phát triển
nhanh về quy mô và loại hình tái chế (chất thải kim loại, giấy, nhựa, vải đã
qua sử dụng). Ngoài ra, các làng nghề cơ khí chế tạo và đúc kim loại với
nguyên liệu chủ yếu là sắt vụn, sắt thép phế liệu cũng được xếp vào loại hình
làng nghề này. Đa số các làng nghề nằm ở phía Bắc, công nghệ sản xuất đã
từng bước được cơ khí hóa.
* Làng nghề thủ công mỹ nghệ:
Bao gồm các làng nghề gốm, sành sứ thủy tinh mỹ nghệ; chạm khắc đá,
mạ bạc vàng, sản xuất mây tre đan, đồ gỗ mỹ nghệ, sơn mài, làm nón, dệt


14

chiếu, thêu ren. Đây là nhóm làng nghề chiếm tỷ trọng lớn về số lượng (gần
40% tổng số làng nghề), có truyền thống lâu đời, sản phẩm có giá trị cao,
mang đậm nét văn hóa, và đặc điểm địa phương, dân tộc. Quy trình sản xuất
gần như không thay đổi, lao động thủ công, nhưng đòi hỏi tay nghề cao,
chuyên môn hóa, tỉ mỉ và sáng tạo.
* Các nhóm ngành khác:
Bao gồm các làng nghề chế tạo nông cụ thô sơ như cày bừa, cuốc xẻng,
liềm hái, mộc gia dụng, đóng thuyền, làm quạt giấy, dây thừng, đan vó, đan lưới,

nhân. Truyền nghề qua kinh nghiệm và tự học hỏi. Chính sự yếu kém này đã
hạn chế năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất do đó đã làm
giảm khả năng cạnh tranh.
- Cơ sở hạ tầng tại các làng nghề: Chính tính phân tán, tự phát, quy mơ
nhỏ sẽ hạn chế việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ( đường xá trạm điện cấp
thốt nước…) cà đặc biệt khó khăn trong việc quản lý chất thải (xử lý, thu
gom…) để giảm thiểu ơ nhiễm, caiir thiện mơi trường. Tuy nhiên cùng với sự
phát triển của nơng thơn Việt Nam, đa số các làng nghề tập trung ở đồng bằng
đều đã có “điện, đường, trường, trạm” tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển
sản xuất, giao thơng và thơng tin.
- Vấn đề xã hội tại các làng nghề: Phát triển sản xuất tại các làng nghề
đã mang lại lợi ích khơng chỉ về kinh tế mà còn là mối quan hệ tình làng
nghĩa xóm tốt lên do tao cơng ăn việc làm cho bà con láng giềng. Mọi người
gắn bó với nhau hơn. Nhiều phong tục truyền thống được phục hồi như hội
làng, giỗ tổ của nghề… đóng góp xây dựng nhà tình nghĩa, nghĩa trang,
trường học. Tuy nhiên cũng xuất hiện nhiều tiêu cực như cờ bạc, rượu chè
hay cạnh tranh mối hàng trong sản xuất.
2.5. Tác động của các chất thải ơ nhiễm đến 2.4.5. Hiện trạng mơi trường
làng nghề Việt Nam
Các chất thải phát sinh tại nhiều làng nghề đã và đang gây ô nhiễm
và làm suy thoái môi trường nghiêm trọng, tác động trực tiếp tới sức khỏe
người dân và ngày càng trở thành vấn đề bức xúc. Ô nhiễm môi trường
làng nghề có một số đặc điểm sau:
Ô nhiễm môi trường tại làng nghề là dạng ô nhiễm phân tán trong
phạm vi một khu vực (thôn, làng, xã,...). Do quy mô sản xuất nhỏ, phân
tán, đan xen với khu sinh hoạt nên đây là loại hình ô nhiễm khó quy
hoạch và kiểm soát.
Ô nhiễm môi trường tại làng nghề mang đậm nét đặc thù của hoạt
động sản xuất theo ngành nghề và loại hình sản phẩm và tác động trực
tiếp tới môi trường nước, khí, đất trong khu vực.

thường bò ô nhiễm bởi các thông số như bụi, SO2, NO2, môi trường vi
khí hậu ở các làng nghề dệt thường bò ô nhiễm bởi tiếng ồn do các máy
dệt thủ công. Mức ồn vượt TCVN từ 4 đến 14 dBA.(Bộ TN&MT 2008)[1]
 Các làng nghề thu công mỹ nghệ, thêu ren: ô nhiễm không khí
thường chỉ xảy ra tại một số làng nghề chế tác đá và sản xuất mây tre
đan.


17

Trong số các làng nghề thủ công mỹ nghệ, môi trường không khí
xung quanh khu vực sản xuất của làng nghề chế tác đá bò ô nhiễm
nghiêm trọng do bụi đá và tiếng ồn. Đặc biệt, trong bụi phát sinh từ hoạt
động chế tác đá còn chứa một lượng không nhỏ SiO2 (0,56-1,91% tại làng
nghề đá Non Nước - Đà Nẵng) rất có hại cho sức khoẻ.Trong khi đó, tại
làng nghề sản xuất mây tre đan, không khí thường bò ô nhiễm bởi SO2.
(Bộ TN&MT 2008)[1]
 Hiện trạng mơi trường nước thải sản xuất ở các làng nghề
Kết quả khảo sát chất lượng nước thải của các làng nghề những
năm gần đây cho thấy mức độ ô nhiễm hầu như không giảm, thậm chí
còn tăng cao hơn trước. Một phần do quy mơ sản xuất tăng trong khi
nước thải vẫn không được xử lý trước khi thải vào môi trường.
 Các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và
giết mổ: Hàm lượng các chất ô nhiễm trong nước thải sản xuất của những
làng nghề này cũng rất cao, đặc biệt là COD, BOD5, SS, tổng N, tổng P
vượt TCVN hàng chục lần. Đặc biệt, nước thải từ khâu lọc tách bã và
tách bột đen của quá trình sản xuất tinh bột từ sắn và dong giềng có pH
thấp, độ ô nhiễm rất cao (BOD5, COD vượt TCVN 5945-2005 mức B
trên 200 lần).(Bộ TN&MT 2008)[1]
 Các làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da: nước thải sản xuất

Nước mặt ở các sông hồ đòa phương, đặc biệt là tại các làng nghề
trong LVS Nhuệ - Đáy, LVS Cầu ở phía Bắc và hệ thống sông Đồng
Nai ở phía Nam, bò ô nhiễm do chòu tác động trực tiếp của nước thải sản
xuất, có nơi đã đến mức báo động.
 Các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và
giết mổ: nước mặt bò ô nhiễ m hữu cơ nghiê m trọng. Chất lượng nước mặt
ao, hồ, kênh, ngòi ở các làng nghề này bò ơ nhiễm nghiêm trọng, một số
nơi đang ở mức báo động. Nước mặt ở nhiều nơi có BOD5, COD, NH4,
Coliform vượt TCVN hàng chục đến hàng trăm lần, như làng nghề chế
biến tinh bột Cát Quế, Dương Liễu, Minh Khai (Hà Tây trước đây)...(Bộ
TN&MT 2008)[1]
 Các làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ và thuộc da
Nước mặt ở các làng nghề này cũng bò ô nhiễm nặng: COD vượt
TCVN từ 2- 3 lần, BOD5 vượt 1,5-2,5 lần. Hàm lượng Coliform trong
nước mặt ở một số làng nghề khá cao, chứng tỏ bên cạnh nước thải sản
xuất, nước mặt đã bò nhiễm bẩn do nước thải sinh hoạt.(Bộ TN&MT
2008)[1]


19

 Các làng nghề thủ công, mỹ nghệ
Nhiều nơi, hàm lượng COD trong nước mặt đã vượt TCVN. Đặc
biệt, đối với làng nghề mây tre đan (ví dụ làng nghề Phú Túc, Hà Tây
trước đây), do mây tre phải ngâm trong nước và quá trình gia công xử lý
gây phát sinh nước thải có độ ô nhiễm hữu cơ cao, dẫn đến nước mặt ở
đây có hàm lượng COD, BOD5, NH4, Coliform, độ màu đều tăng cao, vượt
TCVN)
 Đặc trưng ô nhiễm nước dưới đất tầng nông ở các làng nghề
Sản xuất ở làng nghề không chỉ tác động đến nước mặt mà còn tác

không khí trong làng nghề còn bị ô nhiễm bởi mùi của hoá chất trong quá
trình ngâm, tẩy phế liệu và phân huỷ chất thải rắn trong quá trình sản xuất.(Bộ
TN&MT 2008)[1]
Một nguồn gây ô nhiễm khác trong làng nghề hiện nay còn bao gồm
khói, bụi từ việc đốt rác tại các bãi rác có chứa các chất nilon, nhựa, băng
dính,.. chứa nhiều khí gây ô nhiễm độc hại, cùng với việc phân huỷ yếm khí
các chất hữu cơ trong hệ thống kênh chứa nước thải và các ao hồ đã bị lấp đầy
bột giấy phát sinh khí H2S, NOx… cũng góp phần làm cho môi trường không
khí trong làng nghề bị ô nhiễm hơn.
2.5.2. Tác động đến môi trường nước
Tại các làng nghề, 100% mẫu nước thải đều có các thông số vượt quá
tiêu chuẩn cho phép; nước mặt, nước ngầm đều có dấu hiệu ô nhiễm, như ở
các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm, dệt nhuộm... nước thải cống
chung tại khu vực sản xuất chứa hàm lượng BOD5 rất cao, có khi lên tới
2000mg/ lít, như làng nghề bún thôn Đoài (Bắc Ninh). Hoặc hàm lượng COD
trong nước thải cao hơn so với tiêu chuẩn cho phép từ 3,2 - 8,93 lần. (Bộ
TN&MT 2008)[1]
Chế biến nông sản thực phẩm là ngành có nhu cầu nước rất lớn và thải
ra một lượng nước thải không nhỏ, giầu chất hữu cơ gây ô nhiễm môi trường.
Nước thải các làng nghề sản xuất bún, bánh,… đều có BOD vượt quá TCCP
từ 12,8 - 140 lần; COD vượt quá TCCP từ 9,7 - 87 lần.(Bộ TN&MT 2008)[1]
Các chất thải độc hại khó phân hủy cũng là một vấn đề môi trường
nóng bỏng đặt ra cho các làng nghề, nhất là các làng nghề tái chế kim loại và
dệt nhuộm, thuộc da. Các kết quả phân tích chất lượng nước thải cho thấy:
Hàm lượng các chất độc hại đang ở mức đáng báo động, vượt tiêu chuẩn cho
phép nhiều lần. Tại các làng nghề tái chế kim loại có nơi hàm lượng Pb 2+ vượt
tiêu chuẩn cho phép tới 4,1 lần, Cu 2+ vượt quá 3,25 lần. Hàm lượng Phenol
trong nước thải tại làng nghề tái chế giấy cũng vượt quá tiêu chuẩn cho phép



Các làng nghề chế biến nông sản, thực phẩm có nhu cầu lớn về nước
nhưng cũng thải ra một lượng nước không nhỏ, với đặc tính chung là giàu
chất hữu cơ, dễ phân hủy sinh học. Nước thải được xả thẳng ra ngoài mà
không qua bất kỳ khâu xử lý nào, chúng tồn đọng ở cống rãnh, gây ô nhiễm


22

không khí và ngấm xuống lòng đất gây ô nhiễm môi trường đất.(Bộ TN&MT
2008)[1]
2.5.4. Tác động tới sức khỏe của con người
Trong thời gian gần đây, tại nhiều làng nghề tỷ lệ người mắc bệnh (đặc
biệt là nhóm người trong độ tuổi lao động) đang có xu hướng tăng cao. Theo
các kết quả nghiên cứu cho thấy, tuổi thọ trung bình của người dân tại các
làng nghề ngày càng giảm đi, thấp hơn 10 năm so với tuổi thọ trung bình toàn
quốc và so với làng không làm nghề tuổi thọ này thấp hơn từ 5 - 10 năm.
(Đặng Kim Chi và cộng sự, 2006)[2]
So sánh giữa các khu vực làng nghề và không làm nghề cho thấy, tỷ lệ
mắc bệnh của các đối tượng làng nghề cao hơn hẳn so với khu vực làng thuần
nông. Điều này cho thấy mức độ ô nhiễm môi trường của làng nghề đã có ảnh
hưởng đáng kể tới sức khỏe cộng đồng dân cư. Mỗi nhóm làng nghề thường
có các yếu tố nguy cơ ô nhiễm môi trường đặc trưng, vì vậy ảnh hưởng của
hoạt động làng nghề đến người dân cũng khác nhau .
Trong những năm qua, có rất ít các nghiên cứu liên quan đến mối quan
hệ giữa ô nhiễm môi trường làng nghề và tình hình sức khỏe, bệnh tật của
người dân. Tuy nhiên, kết quả một số ít nghiên cứu điển hình trong thời gian
ngắn cũng đã phản ánh một thực tế khác biệt về tình hình bệnh tật, sức khỏe
cộng đồng giữa làng nghề và làng không làm nghề.
2.6. Vài nét về làng nghề và môi trường làng nghề ở Bắc Ninh
2.6.1. Tổng quan về làng nghề Bắc Ninh

biến dựng
Mại tải
1
Từ Sơn
18
10
14
2
2
2
Tiên Du
4
2
2
2
3
Yên Phong
16
6
15
1
4
Lương Tài
6
3
5
1
5
Gia Bình
8

chục làng nghề truyền thống tồn tại và phát triển cho tới nay với tốc độ phát
triển nhanh hòa nhập với công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
Các làng nghề này đã góp phần không nhỏ vào việc chuyển dịch cơ cấu và
đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế của địa phương, nâng cao đời sống của
nhân dân, tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người dân lao động trong và
ngoài khu vực, bảo tồn vốn quý báu văn hóa làng xã.


24

2.6.1.1. Phân loại làng nghề
Cho đến nay ngành nghề trong nông thôn có thể nói rất phong phú và
đa dạng, có hàng trăm, hàng nghìn ngành nghề khác nhau nên tuỳ theo mục
đích nghiên cứu có thể phân loại làng nghề theo các tiêu thức sau:

Phân loại theo loại hình làng nghề, làng nghề truyền thống và
làng nghề mới

Phân loại làng nghề theo loại hình sản phẩm

Phân loại làng nghề theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm

Phân loại theo mức độ sử dụng nguyên/nhiên liệu

Phân loại theo thị trường tiêu thụ sản phẩm, tiềm năng tồn tại và
phát triển
Bảng 2.2: Phân loại làng nghề theo sản phẩm ở Bắc Ninh
STT

Nhóm Sản Phẩm


22.7

4

Đồ dân dụng và mây, tre, nứa

10

10.6

5

Sản xuất giấy

2

3.2

6

Sản xuất tranh dân gian, giấy màu

1

1.6

7

Sản xuất đồ gốm


Sản xuất công cụ cầm tay bằng kim loại

1

1.6

12

Chế biến gỗ và mộc cao cấp

12

19.5

13

Thủy sản

1

1.6

14

Thương mại

3

4.8

những sản phẩm giúp cho người dân tăng thu nhập, đáp ứng nhu cầu sống ở
các làng ít ruộng đất.
 Đơn vị sản xuất: Hộ gia đình là một đơn vị cơ bản của sản xuất với
nguồn nhân lực thành viên trong gia đình và cơ sở hạ tầng tự có. Do đó nó có
thể huy động mọi người trong gia đình tham gia tích cực vào việc tăng sản
phẩm của gia đình.
 Tính chuyên môn hóa và sự phụ thuộc lẫn nhau trong các làng nghề:
Thể hiện rõ nhất trong sự phân chia lao động và các quá trình của sản xuất. Nghề
càng phức tạp, càng nhiều công đoạn sản xuất thì tính chuyên môn càng cao.
 Công nghệ sản xuất: Công nghệ sản xuất đơn giản, đôi khi còn lạc
hậu, cần nhiều sức lao động với kỹ thuật cũ mang lại lợi nhuận thấp so với
sức lao động bỏ ra.
 Biết vận dụng nguyên vật liệu và nhân lực thông qua kỹ năng lao
động và sự khéo léo để tạo thu nhập trong điều kiện thiếu vốn.
2.6.1.3. Lợi ích kinh tế - xã hội - văn hóa
Sự khôi phục và phát triển của các làng nghề trong những năm gần đây
đã tạo nên những chuyển biến tích cực trong sự phát triển kinh tế - xã hội
(KT-XH) của các địa phương, giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động phổ
thông, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng. Những ưu
điểm mang tính đặc thù của sản xuất làng nghề như sự linh động trong quản
lý sản xuất - kinh doanh, sự phân công tự nhiên giữa các hộ về cung cấp và
bao tiêu nguyên liệu, sản phẩm, đã tạo điều kiện thúc đẩy quá trình cạnh tranh
và hỗ trợ lẫn nhau giữa các hộ sản xuất. Các sản phẩm từ làng nghề chiếm
một tỉ trọng đáng kể trên thị trường trong và ngoài nước, đồng thời, góp phần
quan trọng trong việc tận dụng phế thải kim loại trên phạm vi toàn quốc.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status