1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐOÀN ĐÌNH KHÁNH Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC TỪ
HOẠT ĐỘNG BUÔN BÁN THỦY HẢI SẢN TẠI CHỢ TÚC DUYÊN –
PHƯỜNG TÚC DUYÊN – THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
khãa luËn tèt nghiÖp ®¹i häc
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học Môi trường
Khoa : Tài nguyên & Môi trường
Khoá học : 2009-2013
đầu mối nông sản ở phường Túc Duyên đã đáp ứng được nhu cầu cấp thiết
của người dân. Không những là chợ đầu mối rau, củ, quả lớn nhất, chợ Túc
2
Duyên còn là nơi cung cấp hơn một nửa lượng thủy sản tiêu thụ hàng ngày
của thành phố. Lượng hàng hóa là rất lớn nhưng cơ sở vật chất của chợ Túc
Duyên rất tạm bợ, không có hệ thống mương rãnh tiêu thoát nước và tập
trung rác thải. Hàng ngày, hoạt động buôn bán thủy sản đã thải ra một lượng
lớn nước thải, thải trực tiếp ra môi trường xung quanh gây ô nhiễm nghiêm
trọng, ảnh hưởng lớn tới sức khỏe của các hộ kinh doanh và người dân trong
khu vực.
Xuất phát từ thực tế trên, cùng với sự hướng dẫn của thầy cô trong
trường, khoa Tài Nguyên và Môi Trường, tôi đã lựa chọn chuyên đề:”Đánh
giá hiện trạng ô nhiễm môi trường nước từ hoạt động buôn bán thủy
hải sản tại chợ Túc Duyên – Phường Túc Duyên – Thành phố Thái
Nguyên”
1.2.Mục đích
- Đánh giá hiện trạng môi trường nước xung quanh chợ Túc Duyên-
P.Túc Duyên.
- Xác định được mức độ ô nhiễm môi trường nước do hoạt động buôn
bán thủy hải sản chợ Túc Duyên.
- Tìm hiểu những ảnh hưởng của môi trường nước bị ô nhiễm xung
quanh chợ Túc Duyên đến sức khỏe người dân.
- Đề xuất một số giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước do hoạt
động buôn bán thủy hải sản tại chợ Túc Duyên.
1.3.Yêu cầu của chuyên đề
- Công tác điều tra thu thập thông tin, phân tích chất lượng nước quanh
chợ Túc Duyên cần:
+ Đánh giá đầy đủ, chính xác chất lượng nước của khu vực nghiên cứu.
+ Các kết quả phân tích phải so sánh với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật
4
PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1.Cơ sở của đề tài
2.1.1.Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1.1. Khái niệm về môi trường, ô nhiễm môi trường.
Khái niệm về môi trường đã được thảo luận rất nhiều và từ lâu.
Nhìn chung có những quan niệm về môi trường như sau:
- Môi trường bao gồm các vật chất hữu cơ và vô cơ quanh sinh vật. Theo
định nghĩa này thì không thể nào xác định được môi trường một
cách cụ thể, vì mỗi cá thể, mỗi loài, mỗi chi vẫn có một môi trường và một
quần thể, một quần xã lại có một môi trường rộng lớn hơn.
- Môi trường là những gì cần thiết cho điều kiện sinh tồn của sinh vật.
Theo định nghĩa này thì rất hẹp, bởi vì trong thực tế có yếu tố này là cần
thiết cho loài này nhưng không cần thiết cho loài kia dù cùng sống
chung một nơi, hơn nữa cũng có những yếu tố có hại hoặc không có lợi vẫn
tồn tại và tác động lên cơ thể và ta không thể loại trừ nó ra khỏi môi trường
tự nhiên.
Đối với con người, môi trường chứa đựng nội dung rộng hơn.
Theo định nghĩa của UNESCO (1981) thì môi trường của con người bao
gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra,
những cái hữu hình (đô thị, hồ chứa ) và những cái vô hình (tập quán,
niềm tin, nghệ thuật ), trong đó con người sống bằng lao động của mình, họ
khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thoả mãn những nhu
cầu của mình. Như vậy, môi trường sống đối với con người không chỉ là nơi
tồn tại, sinh trưởng và phát triển cho một thực thể sinh vật là con người mà
còn là “khung cảnh của cuộc sống, của lao động và sự nghỉ ngơi của con
người”.
* Các nguồn gây ô nhiễm nước
- Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên: do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt
đưa vào môi trường nước các chất thải bẩn, các sinh vật kể cả xác chết của
chúng.
- Ô nhiễm nước có nguồn gốc nhân tạo: quá trình thải các chất độc hại
chủ yếu dưới dạng lỏng như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông
nghiệp, giao thông vào môi trường nước.
Có nhiều cách phân loại ô nhiễm nước. Theo bản chất các tác nhân gây ô
nhiễm, người ta phân ra các loại ô nhiễm nước: ô nhiễm vô cơ, hữu cơ, ô
nhiễm hóa chất, ô nhiễm sinh học, ô nhiễm bởi các tác nhân vật lý. Theo vị
trí không gian như ô nhiễm nước mặt, ô nhiễm nước ngầm và biển. Tùy vào
mục đích và hoàn cảnh mà ta áp dụng cách phân loại ô nhiễm nước.
2.1.1.4. Khái niệm về nước thải và nguồn nước thải.
- Nước thải sinh hoạt là nước thải từ hoạt động sinh hoạt của con người
như ăn uống, tắm giặt, vệ sinh cá nhân. (QCVN 14/2008/ BTNMT quy
chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước thải).
- Nguồn nước tiếp nhận nước thải là nguồn nước mặt hoặc vùng nước
ven biển, ven bờ, có mục đích sử dụng xác định, nơi mà nước thải sinh hoạt
thải vào. (QCVN 14/2008/ BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất
lượng nước thải).
- Nguồn nước thải là nguồn phát sinh ra nước thải và là nguồn gây ô
nhiễm môi trường chủ yếu.
Có nhiều cách phân loại nguồn nước thải. Phân loại theo nguồn gốc phát
sinh thì có 4 nguồn nước thải là nguồn nước thải sinh hoạt, nước thải công
nghiệp, nước thải nông nghiệp và nguồn nước thải tự nhiên.
Phân loại theo nguồn thải thì có 2 loại là nguồn gây ô nhiễm xác định và
nguồn gây ô nhiễm không xác định:
7
+ Nguồn gây ô nhiễm xác định (nguồn điểm): Là nguồn gây ô nhiễm có
- Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/08/2006 của Chính phủ về việc
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi
trường.
- Nghị định số 21/2008/NĐ-CP sủa đổi bổ sung nghị định 80/2006/NĐ-
CP về việc qy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của luật bảo vệ
môi trường.
- Nghị định số 117/2009.NĐ-CP ngày 31/12/2009 của Thủ Tướng Cính
Phủ về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
- Nghị định số 127/2007/NĐ-CP ngày 01/08/2007 của Chính phủ về việc
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật tiêu chuẩn và
Quy chuẩn kỹ thuật.
- Nghị định số 34/2005/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước.
- Quyết định số 22/2006/QĐ-BTNMT ngày 18/08/2006 của Bộ Tài
Nguyên và Môi trường về việc áp dụng các tiêu chuẩn Việt Nam về môi
trường.
- Quyết định số 16/2008/QĐ-BTNMT ngày 31/12/2008 của Bộ Tài
Nguyên và Môi trường về việc ban hành Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về
môi trường.
* Các Tiêu chuẩn, Quy chuẩn của Việt Nam
- QCVN 07:2009/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng chất
thải nguy hại trong nước.
- QCVN 08:2008/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng
nước mặt.
9
- QCVN 09:2008/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng
nước ngầm.
- QCVN 14:2008/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng
nước thải sinh hoạt.
nên đã gây ô nhiễm nặng nề các nguồn nước mặt trong vùng dân cư.
Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công
nghiệp tập trung là rất lớn.
Tình trạng ô nhiễm nước ở các đô thị thấy rõ nhất là ở thành phố Hà Nội
và thành phố Hồ Chí Minh. ở các thành phố này, nước thải sinh hoạt không
có hệ thống xử lý tập trung mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận (sông, hồ,
kênh, mương). Mặt khác, còn rất nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nước
thải, phần lớn các bệnh viện và cơ sở y tế lớn chưa có hệ thống xử lý nước
thải; một lượng rác thải rắn lớn trong thành phố không thu gom hết được…
là những nguồn quan trọng gây ra ô nhiễm nước.
Về tình trạng ô nhiễm nước ở nông thôn và khu vực sản xuất nông
nghiệp, hiện nay Việt Nam có gần 76% dân số đang sinh sống ở nông thôn
là nơi cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia
súc không được xử lý nên thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình
trạng ô nhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao. Theo
báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số vi khuẩn Feca
coliform trung bình biến đổi từ 1.500-3.500MNP/100ml ở các vùng ven
sông Tiền và sông Hậu, tăng lên tới 3800-12.500MNP/100ml ở các kênh
tưới tiêu.
11
Trong sản xuất nông nghiệp, do lạm dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật,
các nguồn nước ở sông, hồ, kênh, mương bị ô nhiễm, ảnh hưởng lớn đến
môi trường nước và sức khoẻ nhân dân.
Theo thống kê của Bộ Thuỷ sản, tổng diện tích mặt nước sử dụng cho
nuôi trồng thuỷ sản đến năm 2001 của cả nước là 751.999 ha. Do nuôi trồng
thuỷ sản ồ ạt, thiếu quy hoạch, không tuân theo quy trình kỹ thuật nên đã
gây nhiều tác động tiêu cực tới môi trường nước. Cùng với việc sử dụng
nhiều và không đúng cách các loại hoá chất trong nuôi trồng thuỷ sản, thì
các thức ăn dư lắng xuống đáy ao, hồ, lòng sông làm cho môi trường nước bị
ô nhiễm các chất hữu cơ, làm phát triển một số loài sinh vật gây bệnh và
cơ sở sản xuất giấy, luyện gang thép, luyện kim màu, khai thác than.Về mùa
cạn tổng lượng nước thải khu vực thành phố Thái Nguyên chiếm khoảng
15% lưu lượng sông Cầu. Nước thải từ sản xuất giấy có pH từ 8,4-9 và hàm
lượng NH4 là 4mg/1, hàm lượng chất hữu cơ cao, nước thải có màu nâu,
mùi khó chịu…
Theo đánh giá của Trung tâm Quan trắc và Công nghệ môi trường Thái
Nguyên, chất lượng nước sông Cầu ở hầu hết các địa phương đều không đạt
tiêu chuẩn chất lượng là nguồn nước cấp cho mục đích sinh hoạt (QCVN
08:2008/BTNMT (A)). Tuy nhiên, chất lượng nước tại khu vực thượng lưu
tốt hơn so với hạ lưu, đặc biệt đoạn Sông Cầu chảy qua khu vực thành phố
Thái Nguyên.
Nguyên nhân có nhiều, do yếu tố tự nhiên và cả phát triển kinh tế xã hội.
Đó là những trận lũ ống, lũ quét đã xảy ra ở các xã ven sông, suối nhỏ ở các
huyện miền núi (Võ Nhai, Đại Từ, Định Hoá). Những trận mưa lớn gây ngập
úng cục bộ tại khu vực trũng, các cụm dân cư, cuốn theo các chất ô nhiễm
13
trên bề mặt gây ô nhiễm nguồn nước mặt tiếp nhận. Đặc biệt, tại các khu vực
khai thác khoáng sản, mưa cuốn theo một lượng lớn chất thải rắn, gây đục
bồi lắng các sông suối tiếp nhận.
Đó là chưa kể, trên 2 triệu m3 nước thải của khoảng 1600 cơ sở công
nghiệp từ các ngành nghề khai khoáng, luyện kim, chế biến thực phẩm, sản
xuất vật liệu xây dựng thải ra khi chưa được xử lý đạt Quy chuẩn môi
trường. Bên cạnh đó là nguồn nước thải sinh hoạt với khối lượng khổng lồ
với hơn 100.000 m3/ngày trong đó nước thải tại các khu vực đô thị chiếm
gần 50%. Và rồi gần 3000 m3/ngày nước thải y tế chưa qua xử lý, thải trực
tiếp vào nguồn nước mang theo nhiều hoá chất độc hại, các chất hữu cơ,
dinh dưỡng và vi khuẩn gây bệnh.
Ngoài ra, các hoạt động nông nghiệp, chăn nuôi gia súc, gia cầm, chất
thải rắn không được thu gom và xử lý thải thẳng xuống nguồn nước mặt.
Bởi thế, nguồn nước sông Cầu trước vốn xanh trong in hình trên mặt
kinh tế.
2.3.Hệ thống chợ ở nước ta và vai trò của chợ.
Với tổng số gần 8.300 chợ vào thời điểm hiện tại, có thể nói bình quân
mỗi xã, phường ở nước ta có một chợ. Bức tranh chợ Việt Nam khá đa dạng,
tạo thêm một kênh giao thông cả ở hai thị trường nội và ngoại địa.
Trong những năm qua, mạng lưới chợ ở nước ta đóng vai trò rất quan
trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là từ thập niên 80 và
những năm đầu của thập niên 90. Đây là giai đoạn mà mạng lưới siêu thị và
trung tâm thương mại chưa hình thành và phát triển, chợ vẫn là nơi tiêu thụ
hàng hóa chủ yếu của các doanh nghiệp sản xuất cũng như là nơi mua sắm
15
chủ yếu của người dân. Tuy nhiên, hiện nay chợ vẫn giữ một vai trò rất quan
trọng thể hiện trên các mặt sau:
*Về mặt kinh tế
Chợ là một bộ phận quan trọng trong cấu thành mạng lưới thương nghiệp
xã hội :
+ Đối với vùng nông thôn: Chợ vừa là nơi tiêu thụ nông sản hàng hoá,
tập trung thu gom các sản phẩm, hàng hoá phân tán, nhỏ lẻ để cung ứng cho
các thị trường tiêu thụ lớn trong và ngoài nước, vừa là nơi cung ứng hàng
công nghiệp tiêu dùng cho nông dân và một số loại vật tư cho sản xuất nông
nghiệp ở nông thôn.
+ Ở khu vực thành thị: Chợ cũng là nơi cung cấp hàng hoá tiêu dùng,
lương thực thực phẩm chủ yếu cho các khu vực dân cư.
Tuy nhiên hiện nay đã xuất hiện khá nhiều hình thức thương mại cạnh
tranh trực tiếp với chợ, vì thế bên cạnh việc mở rộng hay tăng thêm số lượng
chợ chúng ta sẽ đầu tư nâng cấp chất lượng hoạt động của chợ và đầu tư
nâng cấp chất lượng dịch vụ của chợ.Hoạt động của các chợ làm tăng ý thức
về kinh tế hàng hoá của người dân, rõ nét nhất là ở miền núi, vùng cao từ đó
thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần tích cực vào công cuộc xoá đói giảm
nghèo ở nông thôn, miền núi. Trong các phiên chợ, các buổi chợ là cơ hội
sắm như là người dưới xuôi thường gọi. Các phiên chợ này thường tồn tại từ
rất lâu đời, và nó là những bản sắc văn hoá vô cùng đặc trưng của các dân
tộc ở nước ta.
Đối với chính quyền: ở miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa chợ là địa
điểm duy nhất hội tụ đông người. Tại chợ có đại diện của các lứa tuổi, tất cả
các thôn bản và các dân tộc. Vì thế, đã từ lâu, Chính quyền địa phương đã
17
biết lấy chợ là nơi phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và
pháp luật của Nhà nước, là nơi tuyên truyền cảnh giác và đấu tranh với
những phần tử xuyên tạc đường lối của Đảng. Từ phong trào kế hoạch hoá
gia đình đến kỹ thuật chăm sóc cây trồng vật nuôi, vệ sinh phòng dịch… đều
có thể được phổ biến một cách hiệu quả ở đây. Chính vì lý do đó, chợ miền
núi hay miền xuôi đều được bố trí ở trung tâm cụm, xã (nhất là miền núi).
Trong mỗi chợ đều giành vị trí trung tâm làm công tác tuyên truyền. Trên
thực tế, một số chợ truyền thống có từ rất lâu đời đang trở thành một địa
điểm thu hút khách du lịch (như Chợ Tình Sa Pa, chợ Cầu Mây ở Nam
Định…). Nếu được đầu tư thoả đáng cả về cở sở vật chất cũng như sự quan
tâm quản lý của Nhà nước, đây sẽ là các địa danh hấp dẫn đối với khách du
lịch trong và ngoài nước, và nó sẽ là tiềm năng về kinh tế du lịch quốc gia
*Phân loại chợ
- Theo địa giới hành chính: Có hai loại chợ tồn tại theo tiêu thức này là
chợ đô thị và chợ nông thôn.
+ Chợ đô thị: Là các loại chợ được tổ chức, tụ họp ở thành phố, thị xã, thị
trấn. Do ở đây, đời sống và trình độ văn hoá có phần cao hơn ở nông thôn,
cho nên các chợ thành phố có tốc độ hiện đại hoá nhanh hơn, văn minh
thương mại trong chợ cũng được chú trọng, cơ sở vật chất ngày càng được
tăng cường, bổ sung và hoàn chỉnh. Phương tiện phục vụ mua bán, hệ thống
phương tiện truyền thông và dịch vụ ở các chợ này thường tốt hơn các chợ ở
khu vực nông thôn.
+ Chợ nông thôn: Là chợ thường được tổ chức tại trung tâm xã, trung
một số mặt hàng khác, các loại hàng này có doanh số dưới 40% tổng doanh
19
thu. Hình thức chợ này cũng tồn tại ở nước ta như chợ vải, chợ hoa tươi, chợ
vật liệu xây dựng, chợ rau quả, chợ giống cây trồng…
- Theo số lượng hộ kinh doanh, vị trí và mặt bằng của chợ: Dựa theo cách
phân loại trong Điều 3 Nghị định số 02/2003/NĐ-CP của Chính phủ về phát
triển và quản lý chợ thì chợ được chia thành 3 loại: chợ loại 1, chợ loại 2 và
chợ loại 3.
+ Chợ loại 1 là chợ phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau: Là chợ có trên 400
điểm kinh doanh, được đầu tư xây dựng kiên cố, hiện đại theo quy hoạch;
Được đặt ở các vị trí trung tâm kinh tế thương mại quan trọng của tỉnh,
thành phố hoặc là chợ đầu mối của ngành hàng, của khu vực kinh tế và được
tổ chức họp thường xuyên; Có mặt bằng phạm vi chợ phù hợp với quy mô
hoạt động của chợ và tổ chức đầy đủ các dịch vụ tại chợ: trông giữ xe, bốc
xếp hàng hoá, kho bảo quản hàng hoá, dịch vụ đo lường, dịch vụ kiểm tra
chất lượng hàng hoá, vệ sinh an toàn thực phẩm và các dịch vụ khác.
+ Chợ loại 2 là chợ thoả mãn các tiêu chuẩn sau: Là chợ có trên 200 diểm
kinh doanh, được đầu tư xây dựng kiên cố hoặc là bán kiên cố theo quy
hoạch; Được đặt ở trung tâm giao lưu kinh tế của khu vực và được tổ chức
họp thường xuyên hay không thường xuyên; Có mặt bằng phạm vi chợ phù
hợp với quy mô hoạt động của chợ và tổ chức các dịch vụ tối thiểu tại chợ:
trông giữ xe, bốc xếp hàng hoá, kho bảo quản hàng hoá, dịch vụ đo lường.
+ Chợ loại 3 là chợ thoả mãn các tiêu chuẩn sau: Là chợ có dưới 200
điểm kinh doanh hoặc các chợ chưa được đầu tư xây dựng kiên cố hoặc bán
kiên cố; Chủ yếu phục vụ nhu cầu mua bán hàng hoá của nhân dân trong xã,
phường và địa bàn phụ cận.
- Theo tính chất và quy mô xây dựng: Theo tiêu chí này, chợ được chia
thành chợ kiên cố, chợ bán kiên cố và chợ tạm.
20
+ Chợ kiên cố: Là chợ được xây dựng hoàn chỉnh với đủ các yếu tố của
Duyên, Phường Túc Duyên-TP.Thái Nguyên.
- Địa Điểm: UBND Phường Túc Duyên-TP Thái Nguyên.
- Thời gian nghiên cứu: Từ 31-12-2013 đến 16-4-2013
3.2. Nội dung nghiên cứu
3.2.1. Điều kiện tự nhiên-kinh tế-xã hội Phường Túc Duyên-TP Thái
Nguyên.
- Vị trí địa lý
- Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội
3.2.2. Chợ Túc Duyên
a) Giới thiệu về Chợ Túc Duyên.
b) Đặc điểm Chợ Túc Duyên:
- Các hoạt động kinh doanh, buôn bán chính của chợ.
- Các hoạt động có phát sinh nước thải.
- Quy trình thu gom, xử lý chất thải.
3.2.3. Hiện trạng môi trường nước xung quanh chợ Túc Duyên.
3.2.3.1. Hiện trạng môi trường nước thải.
3.2.3.2. Hiện trạng môi trường nước ngầm.
3.2.4. Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường tới sức khỏe người dân.
3.2.5. Ảnh hưởng của ô nhiễm nguồn nước tới hệ sinh thái khu vực.
3.2.6. Đề xuất giải pháp giảm thiểu ô nhiễm và bảo vệ sức khỏe người
dân.
3.3. Phương pháp nghiên cứu.
3.3.1. Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp số liệu thứ cấp.
22
Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp số liệu thứ cấp là phương
pháp phổ biến thường được dùng khi nghiên cứu một đề tài của Bộ TNMT.
Đây là phương pháp tham khảo tài liệu có sẵn liên quan đến vấn đề nghiên
cứu. Phương pháp này là phương pháp truyền thống nhanh và hiệu quả. Với
phương pháp này có thể áp dụng nghiên cứu các nội dung sau:
- Điều kiện tự nhiên-kinh tế-xã hội của địa bàn nghiên cứu.
1 pH TCVN 6492:2011 -
2 BOD
5
TCVN 6001:2008 mg/l
3 COD TCVN 4565:1988 mg/l
4 TSS TCVN 6625:2000 mg/l
5 N tổng TCVN 5987:1995 mg/l
6 P tổng TCVN 6202:2008 mg/l
7 Coliform TCVN 6187:1996 MPN/100ml
3.3.6. So sánh kết quả phân tích với quy chuẩn và tiêu chuẩn nước thải
Việt Nam.
Từ các số liệu thứ cấp cộng với số liệu đo đạc, khảo sát thực tế, kết quả
phân tích trong phòng thí nghiệm, tính toán được tải lượng ô nhiễm và so
sánh với các tiêu chuẩn, quy chuẩn để đưa ra được mức độ ô nhiễm môi
trường nước. Từ đó dự báo được những ảnh hưởng xấu tới môi trường nước,
đưa ra các giải pháp quản lý và bảo vệ môi trường khu vực, nhằm phát triển
một cách bền vững.
24
3.3.7. Tổng hợp, viết báo cáo
Các số liệu sau khi thu thập, phân tích… được đánh giá tổng hợp, xử lý
và tổng kết thành một bản kết quả cô đọng nhất làm nổi bật vấn đề cần
nghiên cứu.