Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng anh đối với các trường trung học phổ thông huyện thường tín, hà tây - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM

NGUYỀN THỊ THUÝ PHƯƠNG

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TIẾNG ANH
ĐỐI VỚI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN THƯỜNG TÍN HÀ TÂY

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI 2008

1


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chiến lược phát triển Giáo dục - Đào tạo giai đoạn 2001 - 2010 phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH-HĐH) đất nước đã xác định
các mục tiêu ưu tiên của Giáo dục - Đào tạo là "nâng cao chất lượng đào tạo
nhân tài phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong đó đặc biệt
chú trọng nhân lực khoa học - công nghệ trình độ cao, cán bộ quản lý giỏi và
công nhân kĩ thuật lành nghề”. Đây là bước phát triển tiếp theo của mục tiêu
Giáo dục - Đào tạo nhằm "phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu công
nghiệp hoá - hiện đại hoá" đã được xác định trong nghị quyết đại hội Đảng lần
thứ VIII (tháng 6 năm 1996).
Trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước, yêu cầu đặt ra cho
ngành giáo dục đối với việc dạy và học ngoại ngữ là phải đào tạo ra nguồn
nhân lực lao động có chất lượng cao, trong đó có khả năng sử dụng ngoại ngữ
như là một công cụ để giao tiếp, nghiên cứu và học tập. Từ thực tế đó, trong

năm 2005 thì trình độ Anh ngữ của học sinh Việt Nam là dưới mức trung bình.
Một ví dụ cụ thể là mùa tuyển sinh 2004, ông Phan Quốc Khánh - Hiệu trưởng
trường ĐH Quốc tế (ĐHQG TP HCM) cho biết khi kiểm tra chất lượng đầu
vào của 215 SV thì chỉ có 27 SV (12,5%) đủ điểm ngoại ngữ tối thiểu tức là
500 điểm TOEFL như yêu cầu.
Là một giáo viên trực tiếp dạy ngoại ngữ, tôi thấy mình cần nghiên cứu
để tìm ra những biện pháp nhằm quản lý tốt hơn việc dạy và học ngoại ngữ
hiện nay, góp phần nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ của trường Trung
học phổ thông. Với lý do này, tôi chọn đề tài: "Biện pháp quản lý hoạt động
dạy học tiếng Anh đối với các trường Trung học phổ thông huyện Thường
Tín, Hà Tây" là đề tài nghiên cứu luận văn Thạc sĩ quản lý giáo dục.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất những biện pháp quản lý thích hợp và hiệu quả hoạt động dạy học
môn tiếng Anh cho các trường Trung học phổ thông huyện Thường Tín, Hà Tây.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
3


Hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại các trường Trung học phổ thông
huyện Thường Tín, Hà Tây.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh cho các trường
Trung học phổ thông huyện Thường Tín, Hà Tây.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý dạy học ngoại ngữ ở các trường
Trung học phổ thông
4.2. Nghiên cứu thực trạng việc tổ chức dạy học ngoại ngữ ở các trường
Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Thường Tín, Hà Tây. Đánh giá
các ưu, nhược điểm trong công tác tổ chức và quản lý hoạt động này

5


Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Trên thế giới
Quản lý hoạt động dạy và học ngoại ngữ là một phần quan trọng trong
chương trình phát triển giáo dục ở nhiều nước trên thế giới. Các hình thức hoạt
động dạy và học ngoại ngữ diễn ra phong phú, đa dạng và đều nhằm mục đích
thúc đẩy quá trình hội nhập của các nước, phục vụ cho việc phát triển kinh tế
đất nước. Xin nêu một số điển hình về hoạt động dạy và học ngoại ngữ ở một
số quốc gia trên thế giới:
Cùng với việc ổn định hệ thống chính trị, xây dựng và phát triển kinh tế,
hệ thống Giáo dục - Đào tạo luôn được quan tâm đầu tư đặc biệt là công tác
quản lý giáo dục. Hiện nay đất nước Singapore đang có những bước cải cách
giáo dục về cả nội dung sách giáo khoa, đội ngũ giáo viên, công nghệ quản lý
... rất nổi bật trong khu vực và trên thế giới. Hệ thống giáo dục phổ thông ở
Singapore bao gồm 172 trường TH; 158 trường THCS; 16 trường THPT. Sau
khi tiếp nhận chức thủ tướng, thủ tướng Goh Chok Tông đã phê duyệt chiến
lược phát triển giáo dục lâu dài của Bộ giáo dục trong đó có điểm nhấn là toàn
bộ hệ thống giáo dục phổ thông tại Singapore phải sử dụng tiếng Anh như là
ngôn ngữ bắt buộc bên cạnh tiếng Trung sử dụng như ngôn ngữ thứ hai. Vì
học toàn bằng tiếng Anh nên nhiều gia đình ngoại quốc sẵn sàng gửi con em
đến học ngay từ bậc tiểu học với mức đóng góp học phí rất cao, giúp cho
Singapore có khoản thu nhập kinh phí lớn từ nguồn thu nhập này. Singapore
đặc biệt chú ý đến chất lượng đào tạo, ngoài việc không ngừng trang bị cơ sở
vật chất hiện đại phục vụ dạy và học, số lượng học sinh trong một lớp cũng chỉ
cho phép không quá 25 em. Việc chú trọng học và sử dụng tiếng Anh này
cũng đã giúp Singapore có nguồn nhân lực đạt chuẩn quốc tế cao do trực tiếp
tiếp nhận những tri thức khoa học mới nhất.

hưởng đến nền kinh tế toàn cầu, không những thế Trung Quốc là một quốc gia
đông dân nhất thế giới, hiện đang là thị trường xuất khẩu ngôn ngữ lớn nhất
của Anh, 40 trường tiểu học của London đã đưa chương trình tiếng Trung
Quốc vào nhà trường, lên kế hoạch kết nghĩa với các trường của Bắc Kinh.
Tại Hàn Quốc sau khi giải phóng đất nước khỏi sự chiếm đóng của
chính quyền Nhật Bản và sau cuộc chiến tranh năm 1953, Hàn Quốc đã nhanh
8


chóng xây dựng được một cơ sở giáo dục hạ tầng, mở rộng cung ứng giáo dục,
tạo điều kiện cho sự phát triển giáo dục cơ sở và giáo dục bậc cao phục vụ cho
"chiến dịch phát triển hướng ngoại”. Từ sau khi vượt qua khỏi cuộc khủng hoảng
kinh tế 1997, Hàn Quốc tiếp tục thực hiện cuộc cải cách giáo dục để tiến vào thế
kỷ 21 với tham vọng trở thành một nước có nền giáo dục tốt nhất thế giới. Chiến
lược phát triển giáo dục của Hàn Quốc được hoạch định theo yêu cầu của mục
tiêu, xây dựng một quốc gia hiện đại hóa với 3 đặc trưng cơ bản đó là:
- Một quốc gia phúc lợi, công bằng, ổn định, dân chủ.
- Một xã hội phồn vinh, bình đẳng, công nghiệp hóa định hướng thông tin cao.
- Một hệ thống tự do, năng động của một xã hội mở và định hướng toàn cầu.
Để phục vụ cho chiến lược đó chính phủ Hàn Quốc đã tăng cường mạnh
mẽ việc dạy và học ngoại ngữ đặc biệt là tiếng Anh trong toàn bộ hệ thống
giáo dục quốc dân từ bậc tiểu học trở lên. Tiếng Anh thực sự là nhu cầu cấp
thiết trong quan hệ làm ăn, giao dịch của Hàn Quốc vì đối tác chủ yếu của họ
là Mỹ và các nước phương Tây.
1.1.2. Ở trong nước
Vào những năm đầu thập kỷ 90, cùng với công cuộc đổi mới đất nước,
xu thế hội nhập quốc tế, phong trào học ngoại ngữ đặc biệt là tiếng Anh ngày
càng phát triển. Việc quản lý dạy và học ngoại ngữ cũng đã dần được các cấp,
ngành chú trọng nhằm đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao của toàn xã hội.
Hoạt động dạy và học ngoại ngữ đã được đưa vào chương trình giáo dục phổ

chứng chỉ A, B, C, tiếng Anh để về dạy không phải hiếm. Thực tế như vậy thì
chất lượng dạy và học ngoại ngữ không thể nói là tốt. Việc kiểm tra đánh giá
dạy và học còn nặng về hình thức, thành tích. Trang thiết bị phục vụ cho việc
dạy và học hầu như không có, giáo viên chủ yếu dạy chay.
Có thể nói dạy và học ngoại ngữ ở các địa phương cũng như trên cả
nước trong nhiều năm qua đều ở trong tình trạng manh mún dàn trải, kém hiệu
quả, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế. Muốn dạy và học ngoại ngữ đem lại
kết quả thực sự cần hội đủ các yếu tố như số lượng và chất lượng đội ngũ giáo
viên, chương trình, sách giáo khoa, trang thiết bị, phương pháp dạy và học,
cách thức kiểm tra đánh giá, tất cả cần được đặt trong một cơ chế quản lý khoa
10


học, hiệu quả. Tuy nhiên việc quản lý dạy và học ngoại ngữ ở Việt Nam tới
nay vẫn chưa thấy có một công trình nghiên cứu chuyên biệt nào, người làm
công tác quản lý chủ yếu dựa vào kinh nghiệm hoặc sự chỉ đạo dập khuôn từ
cấp trên. Quản lý dạy và học ngoại ngữ vẫn được đặt chung một cách với quản
lý các môn học khác mà chưa tính đến nét đặc thù bộ môn. Việc xây dựng cơ
sở lý luận cho quản lý hoạt động dạy và học ngoại ngữ sẽ giúp cho nhà quản
lý có cơ sở điều hành công việc chuyên môn của nhà trường nói chung và hoạt
động dạy và học nói riêng đạt kết quả tốt.
1.2. Một số khái niệm cơ bản liên quan quan đến đề tài
1.2.1. Quản lý; chức năng quản lý
1.2.1.1. Khái niệm quản lí
Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất và lâu
đời của con người. Nó "xưa cũ như chính con người vậy” (14, tr. 10). Tuy
nhiên, đến cuối thế kỷ 19 khoa học quản lý mới bắt đầu hình thành. Có thể
điểm qua một số định nghĩa sau:
Theo K. Marx: "Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động
chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một

1.2.1.2. Cỏc chc nng c bn ca qun lý
Theo quan im ph bin hin nay, qun lớ l h thng gm bn chc nng:
- K hoch: õy l khõu u tiờn ca chu trỡnh qun lớ.
- T chc: S chuyn húa nhng ý trng trong k hach thnh hin thc.
- Ch o: iu khin h thng l ct lừi ca chc nng qun lý, nú tớch
hp vi hai chc nng trờn.
- Kim tra: L chc nng c bn v quan trng ca qun lớ.
Trong mt chu trỡnh qun lớ c bn chc nng trờn phi c thc hin
liờn tip v an xen vo nhau; phi hp b sung cho nhau to s kt ni gia
chu trỡnh ny sang chu trỡnh khỏc theo hng phỏt trin trong ú thụng tin
luụn l yu t xuyờn sut khụng th thiu trong vic thc hin cỏc chc nng
qun lớ v l c s cho vic ra quyt nh qun lớ.
Kế hoạch

Kiểm tra đánh giá

Thông tin

Chỉ đạo

S 1.2: Chu trỡnh qun lớ
1.2.1.3. Bin phỏp qun lý

13

Tổ chức


Nghiên cứu về khoa học quản lý, tác giả Trần Quốc Thành nêu ra 4 biện
pháp quản lý chính. Đó là: Biện pháp thuyết phục; Biện pháp hành chính - tổ

Tóm lại, quản lý vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật. Các
nhà quản lý cần phải biết vận dụng các biện pháp quản lý một cách linh hoạt,
sáng tạo và mềm dẻo để xử lý các tình huống cụ thể trong một môi trường
luôn biến đổi. Điều này đòi hỏi sự khôn ngoan, tinh tế của các nhà QL để đạt
được mục đích. Ngày nay, trước yêu cầu đổi mới của nền kinh tế - xã hội nói
chung, càng đòi hỏi các nhà quản lý phải đưa ra được các biện pháp quản lý sự
thay đổi một cách tài tình, khéo léo.
1.2.2. Quản lý giáo dục; quản lý nhà trường
1.2.2.1. Khái niệm quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là một loại hình của quản lý xã hội vì giáo dục là một
hiện tượng xã hội, một chức năng của xã hội loài người được thực hiện một
cách tự giác. Cũng giống như mọi hoạt động khác của xã hội loài người, giáo
dục cũng cần được quản lý. Quản lý giáo dục có thể được hiểu là quản lý quá
trình GD - ĐT trong đó bao gồm quá trình dạy học diễn ra ở các cơ sở giáo dục
khác nhau hay là quản lý một hệ thống các cơ sở giáo dục đóng trên địa bàn dân
cư. Có nhiều định nghĩa về quản lý giáo dục như sau:
Trong cuốn "Những vấn đề về QLGD" [22, tr 124] chuyên gia GD Liên xô
cũ M.I Kônđacôp cho rằng "QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý
thức và hướng đích của chủ thể QL ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích
của hệ thống (từ bộ đến trường) nhằm đích đảm bảo hình thành nhân cách cho
thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy tắc chung của xã hội cũng
như quy luật của quá trình GD, của sự phát triển tâm thế và tâm lý trẻ em”.
Tác giả Nguyễn Quốc Chí: "Quản lý giáo dục là được hiểu như việc
thực hành đầy đủ các chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra trên
toàn bộ các hoạt động giáo dục và tất nhiên cả những cấu phần tài chính và vật
chất của các hoạt động đó nữa" [26, tr.17]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, "QLGD là hệ thống những tác động
có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ
vận hành theo đường lối, nguyên lý của Đảng thể hiện được tính chất của nhà
15


16


dục - Đào tạo Nguyễn Minh Hiển đã khẳng định: "Quản lý giáo dục là yếu tố
quan trọng để tạo ra nội lực cho ngành trong điều kiện đất nước còn nghèo”.
1.2.2.2. Quản lý nhà trường
Nhà trường là một tổ chức giáo dục cơ sở, trực tiếp làm công tác đào
tạo, thực hiện việc giáo dục toàn diện đối với thế hệ trẻ. Thành tích tập trung
nhất của nhà trường là chất lượng và hiệu quả giáo dục, được thể hiện ở sự
tiến bộ của HSSV, ở việc đạt mục tiêu giáo dục của nhà trường.
“Nhà trường là vầng trán của cộng đồng" và đến lượt mình "cộng đồng
là trái tim của nhà trường”. Từ nhà trường, hai quá trình "xã hội hoá giáo dục"
và "giáo dục hoá xã hội" quyện chặt với nhau để hình thành "xã hội học tập”,
tạo nên sự đồng thuận xã hội, tăng trưởng kinh tế cho mỗi quốc gia với mục
tiêu phát triển nhân văn đưa giáo dục cho mỗi người và huy động tiềm năng,
nguồn lực của xã hội cho giáo dục.
Quản lí xã hội lấy tiêu điểm là quản lí giáo dục thì giáo dục phải coi nhà
trường là nút bấm và quản lí nhà trường phải lấy quản lí việc dạy học là khâu
cơ bản, việc dạy học phải xuất phát và hướng vào người học. QLNT và những
đổi mới trong QLNT đang được chính phủ rất quan tâm và tạo điều kiện phát
triển. Thực chất của quá trình QLNT là quá trình tổ chức, chỉ đạo, điều hành,
kiểm tra hoạt động giảng dạy của thầy và hoạt động học tập của trò, đồng thời
quản lý những điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật và tinh thần cho quá trình dạyhọc nhằm đạt được mục đích của giáo dục đào tạo.
Quá trình giảng dạy, học tập trong nhà trường cần được vận hành đồng
bộ trong sự kết hợp chặt chẽ các thành tố chủ yếu của nhà trường với nhau
trong môi trường nhà trường và môi trường xã hội. Do vậy, cho dù chỉ quản lý
việc thực hiện phương pháp giảng dạy trong trường, nhà quản lý vẫn cần phải
quan tâm đến các thành tố khác trong hệ thống nhà trường.
Dưới đây là mô hình khái quát các thành tố trong một nhà trường, dựa

Sơ đồ 1.3: Các thành tố trong quản lý nhà trường
Tóm lại, Quản lý nhà trường là một quá trình tác động có ý thức (Tác
động thông qua các chức năng quản lý, theo các nguyên tắc định hướng vào
mục tiêu giáo dục, bằng các biện pháp quản lý hợp với các đối tượng quản
lý...) của bộ máy quản lý nhà trường lên khách thể quản lý (Mọi người tham gia
quá trình giáo dục và đào tạo của nhà trường, các nguồn lực, điều kiện cho hoạt
động giáo dục đào tạo của nhà trường) làm cho các thành tố trong một nhà
trường vận hành, liên kết chặt chẽ với nhau nhằm đưa những kết quả quản lý đạt
được mục đích và chất lượng, hiệu quả mong muốn.
1.2.3. Khái niệm hoạt động dạy học, quá trình dạy học và quản lý hoạt động dạy học
1.2.3.1. Hoạt động dạy học
Theo tác giả Phạm Minh Hạc "Dạy học là một chức năng xã hội, nhằm
truyền đạt và lĩnh hội kiến thức, kinh nghiệm xã hội đã tích luỹ được, nhằm biến
kiến thức, kinh nghiệm xã hội thành phẩm chất và năng lực cá nhân" [11,tr. 18].
HĐDH giúp người học lĩnh hội tri thức, hình thành và phát triển nhân
cách của người học. Vai trò chủ đạo của HĐDH được biểu hiện với ý nghĩa là

18


tổ chức và điều khiển hoạt động học của người học, giúp người học nắm được
kiến thức, hình thành kĩ năng, thái độ.
Hoạt động dạy học là hoạt động trung tâm chi phối tất cả các hoạt động
khác trong nhà trường, là con đường trực tiếp và thuận lợi nhất để giúp học
sinh lĩnh hội tri thức của loài người.
Hoạt động dạy học làm cho học sinh nắm vững tri thức khoa học một cách
có hệ thống cơ bản, có những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết trong học tập, lao động
và đời sống. Hoạt động này làm phát triển tư duy độc lập sáng tạo, hình thành
những năng lực cơ bản về nhận thức và hành động của học sinh, hình thành ở học
sinh thế giới quan khoa học, lòng yêu tổ quốc, yêu CNXH, đó chính là động cơ

vậy trọng tâm của việc quản lý trường học là quản lý hoạt động dạy học và
giáo dục. Đó chính là quản lý hoạt động lao động sư phạm của người thầy và
hoạt động học tập, rèn luyện của trò mà nó được diễn ra chủ yếu trong hoạt
động dạy học.
Quản lý hoạt động dạy học là quản lý một quá trình xã hội, một quá
trình sư phạm đặc thù, nó tồn tại như là một hệ thống, bao gồm nhiều thành tố
cấu trúc như: Mục đích và nhiệm vụ dạy học, nội dung dạy học, phương pháp
dạy học và phương tiện dạy học, thầy với hoạt động dạy, trò với hoạt động học
tập, kết quả dạy học.
Quản lý hoạt động dạy học là phải tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cơ
bản sau đây:
- Cụ thể hoá mục tiêu dạy học qua các nhiệm dạy học nhằm nâng cao tri
thức, kỹ năng, bồi dưỡng thái độ và hình thành phát triển những năng lực
phẩm chất tốt đẹp cho người học.
- Quản lý việc xây dựng và thực hiện nội dung dạy học. Nội dung dạy
học phải đảm bảo bao gồm hệ thống những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà người
học cần phải nắm vững trong quá trình dạy học.
- Quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên (Biên soạn giáo trình, giáo
án, chuẩn bị đồ dụng dạy học, lên lớp)
- Quản lý kiểm tra - đánh giá kết quả học sinh học tập.
- Quản lý hoạt động học tập của học sinh (nề nếp, thái độ, kết quả học tập).
20


- Quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho hoạt động dạy học.
1.3. Vai trò, ý nghĩa của hoạt động dạy học ngoại ngữ ở trường Trung học
phổ thông
Mục tiêu giáo dục THPT
Theo Luật giáo dục, 2005 của nước ta, mục tiêu giáo dục phổ thông và
THPT được xác định như sau:


Mục tiêu Chương trình nâng cao: Chương trình nâng cao còn nhằm giúp
học sinh sử dụng tiếng Anh tương đối thành thạo; có kiến thức tiếng Anh
tương đối hoàn chỉnh và hệ thống nhằm đáp ứng yêu cầu khá chuyên sâu về
khoa học xã hội và nhân văn.
Ngoài vai trò và ý nghĩa của hoạt động dạy học ngoại ngữ nhằm nâng
cao chất lượng giáo dục học sinh ra thì việc dạy học ngoại ngữ còn góp phần
giúp học sinh mở rộng và nâng cao kiến thức ở trường THPT.
1.3.1. Việc dạy học ngoại ngữ góp phần giúp học sinh mở rộng kiến thức
văn hóa, xã hội
Ngôn ngữ của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ chứa những nét văn hóa
đặc trưng, vì vậy dạy ngoại ngữ không chỉ là dạy cho học sinh biết thêm tiếng
nói của một dân tộc mà còn cung cấp cho các em những hiểu biết về con
người, văn hóa, địa lý, chính trị... của dân tộc đó. Người ta vẫn thường nói:
Biết thêm một ngoại ngữ là sống thêm một cuộc đời.
Ngoại ngữ là cánh cửa để mở rộng tầm kiến thức, nâng cao vốn hiểu
biết. Khối lượng kiến thức nhân loại ngày càng tăng lên nhanh chóng. Các dự
báo khoa học cho thấy vào thập niên đầu của thế kỷ 21 cứ khoảng 5 năm tri
thức nhân loại lại tăng lên gấp đôi. Theo Howard, 2003 (Teaching and
Learning Management): Học ngoại ngữ - biết một ngoại ngữ sẽ giúp chúng ta
tiếp cận với tri thức nhân loại một cách nhanh nhất, "Là con đường giúp ta tiến
tới tri thức nhân loại và thương mại thế giới (It provides ready access to world
scholarship and world trade)".
Trong xu thế toàn cầu hóa ngày nay, vấn đề hợp tác kinh tế, giáo dục,
giao lưu trao đổi văn hóa ngày càng diễn ra với quy mô và tầm vóc lớn hơn.
Sự cần thiết nắm vững ngoại ngữ, nhất là ngoại ngữ tiếng Anh càng trở nên
bức thiết. Trong ngành giáo dục, vấn đề giao lưu, hợp tác quốc tế được thể
hiện từ những dự án giáo dục mang tính quốc gia đến sự giao lưu, kết nghĩa
giữa các trường đại học, phổ thông. Trong tương lai không xa, chắc hẳn tất cả
các cấp học từ mẫu giáo trở lên sẽ liên thông, nằm trong mạng lưới quốc tế.

phải xuất phát từ mục tiêu đào tạo song cũng cần phải chú ý tới tâm sinh lý

25


Trích đoạn Thực trạng thỏi độ nhận thức của học sinh đối với việc học ngoại ngữ Thực trạng thỏi độ nhận thức của đội ngũ cỏn bộ quản lý đối với việc dạy học tiếng Anh Khỏi quỏt về hoạt động dạy học ngoại ngữ tại cỏc trường Trung học phổ thụng huyện Thường Tớn từ khi thành lập đến nay Đỏnh giỏ chung về thực trạng của việc quản lý hoạt động dạy và học ngoại ngữ ở cỏc trường Trung học phổ thụng huyện Thường Tớn Đảm bảo tớnh thực tiễn của cỏc biện phỏp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status