Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình đổi mới, từ một nền kinh tế bao cấp chuyển sang cơ chế
kinh tế thị trường thì hoạt động sản xuất kinh doanh có một vai trò hết sức
quan trọng, mang lại thu nhập chính cho người dân và mang lại sự phồn thịnh
cho một quốc gia. Để cạnh tranh thắng lợi trên thị trường mỗi doanh nghiệp
cần phải giả quyết nhiều vấn đề, trong dó có chiến lược về thị trường.
Sự cạnh tranh trên thị trường bánh kẹo Việt Nam ngày càng gay gắt.
Những năm gần đây, thị trường của công ty cổ phần bánh kẹo Hữu Nghị có
xu hướng sụt giảm trong khi thị trường bánh kẹo Việt Nam là một thị trường
còn nhiều tiềm năng. Vì vậy giữ vững và mở rộng thị trường là vấn đề cấp
bách đối với sự tồn ntại và phát triển của công ty Hữu Nghị. Bản chuyến đề
tốt nghiệp này hướng vào đề tài: “ Các giải pháp marketing nhằm phát
triển thị trường cho Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hữu Nghị” với hy vọng
đóng góp một phần nhỏ bé vào vấn đề vừa có tính thời sự vừa có ý nghĩa lý
luận nói trên.
Nội dung chuyên đề gồm 3 phần chính:
Chương I: Tổng quan thị trường bánh kẹo Việt Nam
Chương II: Công ty cổ phần bánh kẹo Hữu Nghị và thực trạng
hoạt động Marketing
Chương III: Các giải pháp marketing nhằm phát triển thị trường
của công ty bánh kẹo Hữu Nghị.
* Mục tiêu nghiên cứu:
Nghiên cứu thực trạng hoạt động Marketing của công ty bánh kẹo Hữu
Nghị, trên cơ sở đó kiến nghị các giải pháp để mở rộng thị phần cho công ty.
* Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu tổng quan hoạt động kinh doanh của công ty và nghiên cứu sâu
hoạt động Marketing của công ty ở thị trường trong nước trong những năm gần
đây.
Chuyên đề đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp phân tích tổng hợp
số Việt Nam tăng 1,13 triệu người một năm. Theo thống kê của Tổng cục
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thống kê thì đến cuối năm 2005 dân số Việt Nam là 83,12 triệu người, vượt
700.000 người so với kế hoạch. Quy mô và tốc độ tăng dân số phản ánh quy
mô của cầu nói chung về mọi loại hàng hoá. Do đó, đương nhiên với một sản
phẩm tiêu dùng như bánh kẹo thì tổng cầu về bánh kẹo sẽ tăng lên.
Tuy nhiên quan trọng hơn là chất lượng cuộc sống cuộc sống của người
dân ngày càng tăng lên. Đây là lý do thứ hai để đánh giá về tổng cầu bánh
kẹo. Chất lượng cuộc sống được đánh giá qua nhiều chỉ tiêu như: thu nhập,
giáo dục, y tế…, phản ánh khả năng thanh toán của cầu cũng như những xu
hướng và sự thay đổi trong thị hiếu và sở thích của người tiêu dùng.
Nền kinh tế Việt Nam năm năm qua ( 2000-2005) đã phát triển rất mạnh
mẽ bất chấp khó khăn. Trung bình trong năm năm qua, tốc độ phát triển kinh
tế là 7.4% riêng năm 2005 là 8.4%. Trong 5 năm qua, tốc độ tăng trưởng kinh
tế luôn năm sau cao hơn và vững chắc hơn năm trước. Cụ thể, năm 2001 tốc
độ tăng trưởng GDP là 6.9%, năm 2002 đạt 7.1%, năm 2003 là 7.34%, năm
2004 con số này 7.8%, năm 2005 là 8.4%. Năm 2005 là năm có tốc độ tăng
trưởng GDP cao nhất từ trước đến nay. Kế hoạch cho 5 năm tiếp theo 2006-
2010 là trung bình từ 7,5 đến 8% . Song song với sự tăng trưởng của GDP là
thu nhập của người dân và chỉ số giá tiêu dùng tăng lên. Sức mua hàng hoá
tăng liên tục, tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tăng liên tục trong những
năm qua. Đầu năm 2006 tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ là…... tăng
19,3% so với năm 2005, nếu loại trừ yếu tố giá thì tăng 10% . (Nguồn số liệu
từ tổng cục thống kê: )
Sự phát triển của Kinh tế kéo theo sự phát triển của các ngành khác như
Giáo dục, Y tế. Trình độ văn hoá của người dân ngày càng cao. Cùng với sự
phát triển của khoa học kỹ thuật đặc biệt công nghệ thông tin khiến cho sự
hiểu biết của người tiêu dùng về sản phẩm, hàng hoá càng rõ ràng và phong
phú. Chất lượng cuộc sống được nâng cao nhờ hệ thống các bệnh viện trường
3 năm trở lại đây (2003-2005) chưa được cập nhật nhưng căn cứ vào tốc độ
phát triển kinh tế vào đời sống của người tiêu dùng và sức mua của họ ta có
thể thấy được lượng cầu ngày càng tăng là điều hiển nhiên.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
* Xu hướng trọng yếu tố văn hoá và tinh thần.
Người tiêu dùng ngày càng đòi hỏi cao và hướng tới cái đẹp. Giá cả sản
phẩm không còn là yếu tố duy nhất. Mà hình thức, ý nghĩa của sản phẩm được
ưu tiên cân nhắc. Con người càng quan tâm hơn đến giá trị tinh thần, quan
tâm đến hình ảnh của bản thân được thể hiện như thế nào khi tiêu dùng sản
phẩm. Trong tương lai, khoa học công nghệ sẽ làm cho chất lượng của các
loại bánh kẹo ở mỗi thương hiệu như nhau thì người tiêu dùng lại càng quan
tâm đến mẫu mã sản phẩm và những giá trị tinh thần mà sản phẩm mang lại.
Đặc biệt hình thức sẽ nói lên giá trị mà sản phẩm truyền tải.
* Xu hướng trọng sức khoẻ.
Cùng với sự phát triển của Kinh tế thì nhiều vấn đề xã hội xuất hiện như
bệnh dịch và tệ nạn xã hội. An toàn là nhu cầu mà bất kỳ ai cũng mong muốn.
Việc lựa chọn thực phẩm, bánh kẹo phải đảm bảo trước hết là an toàn và có
lợi cho sức khoẻ. Các chất ngọt, béo, và các yếu tố vi lượng trong bánh phải
được sản xuất theo thị hiếu của người tiêu dùng. Đường sẽ được giảm bớt
trong bánh để phục vụ đoạn thị trường ăn kiêng. Chất béo đặc biệt là chất béo
không chứa cholesterol sẽ được chọn lựa.
*Xu hướng đơn giản, gọn nhẹ và đồng bộ
Cuộc sống ngày càng bận rộn, thời gian với con người là quý giá. Không
đủ thời gian để phục vụ bữa ăn hàng ngày, đặc biệt là các bữa sáng và bữa
trưa. Đồ ăn càng gọn nhẹ, nhanh và tiết kiệm thời gian càng được ưu tiên.
Con người cũng không thích thói quen tích trữ thức ăn như thời xa xưa vì
hàng hoá sản phẩm ngày nay luôn sẵn có. Các loại bánh kẹo có trọng lượng
nhỏ là sở thích của người tiêu dùng. Bên cạnh đó, khi cuộc sống vât vả, nhu
cầu đi du lịch, picnick, thăm danh lam thắng cảnh rất phổ biến. Và bánh kẹo
không chỉ các doanh nghiệp mới hình thành mà các doanh nghiệp nước ngoài
cũng sẽ nhập cuộc. Thị trường là một miếng bánh, trong tương lai sẽ bị chia
sẻ bởi nhiều doanh nghiệp. Ai được phần to hơn phụ thuộc vào năng lực của
chính mình, vào khả năng nắm bắt cơ hội và thích ứng với thị trường.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
II. Những nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng sản phẩm bánh kẹo.
1. Yếu tố văn hoá
Văn hoá là tập hợp các giá trị, chuẩn mực, tư tưởng nghệ thuật cùng với các
biểu tượng như ngôn ngữ, chữ viết có ý nghĩa giúp cho mọi cá nhân có thể
diễn đạt, giao tiếp, truyền tin, đánh giá và thẩm định chính mình cùng với các
thành viên khác trong xã hội. Văn hoá ảnh hưởng tới hành vi, quan điểm thái
độ của con người ngay từ nhỏ. Việt Nam với 54 dân tộc khác nhau sinh sống
đã tạo nên một nền văn hoá đa dạng, phong phú và đậm đà bản sắc dân tộc.
Những nét văn hoá ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng bánh kẹo của người dân
Việt Nam có thể kể đến là: văn hoá tặng quà, văn hoá phi vật thể ( các lễ hội
dân gian, các ngày tết cổ truyền…)
Đã từ lâu lắm người Việt có thói quen mua quà bánh mỗi khi đi xa về hay
tặng quà nhau vào những ngày kỷ niệm. Khi còn bé thì nhận được những gói
kẹo nho nhỏ từ tay mẹ mỗi khi mẹ đi chợ về, hay từ tay bố khi bố về sau mỗi
lần đi công tác. Lớn lên cũng nhận được quà từ những người thân, bạn bè, các
đồng nghiệp vào những dịp đặc biệt. Khi già thì nhận được quà từ những đứa
con về thăm. Bất kỳ ở lứa tuổi nào, việc nhận quà, tặng quà đã là nếp lệ
thường của người dân Việt Nam. Nó trực tiếp hưởng đến quá trình mua sắm
của người tiêu dùng, là lý do, mục đích mua sản phẩm. Khi mua bánh kẹo làm
quà mục đích của người tiêu dùng không phải là để phục vụ nhu cầu dinh
dưỡng hàng ngày mà là để tìm kiếm giá trị tinh thần, là thể hiện sự quan tâm,
lòng biết ơn đối với những người thân, những người yêu quý.
Người dân Việt Nam lại có thói quen mua bánh kẹo vào các ngày lễ hội
dân gian, các ngày tết cổ truyền,…Những dịp đặc biệt như tết trung thu có
theo một số biến như nghề nghiệp, thu nhập, của cải, học vấn, và định hướng
giá trị chứ không chỉ theo một biến. Có thể chia xã hội Việt Nam thành các
tầng lớp sau:
Nông dân: Những người có thu nhập thấp và dưới trung bình, làm nông
nghiệp, sống ở các vùng nông thôn. Yếu tố quan tâm hàng đầu của họ khi lựa
chọn sản phẩm bánh kẹo là giá cả.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Công nhân: Những người có thu nhập trung bình, cao hơn tầng lớp nông
dân, thu nhập ổn định hơn, làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở
sản xuất. Mức thu nhập chưa thực sự cao nên giá cả vẫn là yếu tố quan tâm
khi mua bánh kẹo
Thương nhân: tầng lớp này có thu nhập cao. Giá cả không phải là yếu tố
hàng đầu. Chất lượng và mẫu mã là yếu tố khiến họ quan tâm khi lựa chọn
sản phẩm bánh kẹo. Đôi khi những sản phẩm giá cao lại mang lại cho họ cảm
giác ưa thích bởi phần nàp đó thể hiện được vị thế của bản thân.
Trí thức: Tầng lớp này có nhu cầu tìm kiếm thông tin lớn, họ có trình độ
học vấn cao và thường chọn những sản phẩm đảm bảo chất lượng do những
công ty có tên tuổi trên thi trường sản xuất.
Nghiên cứu giai tầng xã hội là cơ sở để người làm marketing phân đoạn thị
trường và lựa chọn thị trường mục tiêu, cho phép tìm hiểu các nhóm khách
hàng và đưa ra các chính sách Marketing.
2.2 Nhóm tham khảo
Nhóm tham khảo có ảnh hưởng đến hành vi của một người. Nhóm tham
khảo có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến thái độ hay hành vi của cá
nhân. Những nhóm này có thể là gia đình, bạn bè, hàng xóm láng giềng, đồng
nghiệp và những người có quan hệ giao tiếp thường xuyên. Việc lựa chọn sản
phẩm bánh kẹo này hay bánh kẹo khác bị ảnh hưởng bởi sự đóng góp ý kiến,
các quan điểm của các thành viên trong nhóm. Hiện nay một trong những xu
hướng hình thành nhóm rất rõ nét ở thế hệ trẻ mà được nhắc đến nhiều nhất là
điểm cá nhân, nổi bật nhất là tuổi tác và giai đoạn chu kỳ sống của người
mua, nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế.
3.1 Tuổi tác và chu kỳ sống
Con người mua những hàng hoá và dịch vụ khác nhau trong suốt đời mình.
Đối với sản phẩm bánh kẹo, sự khác biệt rất rõ nét.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lứa tuổi nhi đồng thích những đồ vật ngộ nghĩnh, hiếu kỳ, thích khám phá,
thích màu sắc, sự vận động, thích vị ngọt và thường thể hiện mạnh mẽ sở
thích của mình. Do đó ở lứa tuổi này bánh kẹo phù hợp thường là các sản
phẩm có nhiều màu sắc, hình ngộ nghĩnh. Lứa tuổi này chưa tự được mua
được bánh kẹo nên cha mẹ là người quyết định có đáp ứng nhu cầu hay
không. Tuy nhiên bánh kẹo là một trong những cách để dỗ dành trẻ nhỏ.
Lứa tuổi từ 7 đến 15 là thời kỳ đến trường học. Việc mua các đồ dùng cho
bản thân đã độc lập hơn, bố mẹ đã tôn trọng hơn đối với các quyết định mua
bánh kẹo theo sở thích của lứa tuổi này. Các sản phẩm được lựa chọn theo sở
thích và đặc biệt ảnh hưởng của quảng cáo và nhóm bạn bè rất lớn.
Lứa tuổi 15 đến 24 là lứa tuổi đá bắt đầu trưởng thành. Hầu hết, họ tự mua
sắm đồ dùng cho mình, thích màu sắc tươi sáng, thích các hàng hoá có liên
quan đến các ban nhạc, các đội thể thao, vận động viên nổi tiếng, thích giao
lưu gặp gỡ bạn bè. Lứa tuổi này tiêu dùng bánh kẹo ít hơn, thường dùng trong
các bữa tiệc , buổi giao lưu gặp gỡ bạn bè. Họ ưu tiên lựa chọn bánh kẹo có
chất lượng với mức giá hợp lý.
Lứa tuổi từ 25 đến 55 là những ngườI trưởng thành, phần đông trong số họ
đã có gia đình. Việc mua hàng hoá của họ thường là mua có lý trí. Độ tuổi
này mua bánh kẹo có thể cho con cái, tiêu dùng gia đình và biếu tặng. Bản
thân họ ít tiêu dùng bánh kẹo.
Lứa tuổi trên 55 thường ít mua bánh kẹo hơn, họ mua bánh kẹo chủ yếu chỉ
để làm quà cho con cháu, còn tiêu dùng cho bản thân ít hơn chủ yếu là bánh
tươi, bánh mềm.
hai lao động chính đã nghỉ hưu, con cái đã tách khỏi gia đình. Các chi tiêu
chủ yếu dành cho chăm sóc sức khoẻ, nên các loại bánh kẹo được lựa chọn kỹ
càng, chủ yếu là các loại bánh ít chất ngọt và ít chất béo, dễ tiêu.
Giai đoạn còn sống một mình và vẫn làm việc: Đây là giai đoạn ít chi tiêu.
Bánh kẹo tiêu dùng chủ yếu do đựơc biếu tặng.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Giai đoạn còn sống một mình và đã nghỉ hưu: Nhu cầu về thuốc men để
chăm sóc sức khoẻ cao. Thu nhập giảm hẳn. Rất cần sự quan tâm của con cái,
nên bánh kẹo cũng rất ít dùng.
Như vậy có thể thấy rằng trong các giai đoạn của chu kỳ sống của gia đình
thì giai đoạn tố ấm đầy đủ I và II là hai giai đoạn sử dụng bánh kẹo nhiều
nhất. Con người ăn thức ăn cho trẻ sơ sinh trong những năm đầu tiên, ăn phần
lớn những thực phẩm trong những năm lớn lên và trưởng thành, những thức
ăn kiêng cữ trong những năm cuối đời.
3.2 Nghề nghiệp
Nghề nghiệp của một người cũng có ảnh hưởng nhất định đến hành vi tiêu
dùng bánh kẹo. Nghề nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của mỗi cá
nhân. Những người có thu nhập thấp trước tiên sẽ quan tâm đến những nhu
cầu cơ bản, và khi mua bánh kẹo họ sẽ cân nhắc đắn đo hơn, cũng như xem
trọng yếu tố giá cả. Những người có thu nhập cao không xem trọng yếu tố giá
cả mà quan tâm đến chất lượng cũng như mẫu mã, bao gói và đặc biệt là
thương hiệu của bánh kẹo.
3.3 Hoàn cảnh kinh tế và tập quán sinh hoạt trong giao tiếp
Những người có hoàn cảnh kinh tế ổn định hoặc cao thì nhu cầu về vật chất
của họ cũng cao hơn các đối tượng khác.Họ sẵn sàng mua những sản phẩm có
chất lượng cao với giá cao và nổi tiếng. Những người có hoàn cảnh kinh tế ở
mức trung bình hoặc thấp thì vấn đề quan tâm hàng đầu là bảo đảm những
bữa ăn chính hàng ngày, bánh kẹo rẻ tiền của các cơ sở gia công chế biến có
giá rẻ được lựa chọn.
những thôi thúc, tác nhân kích thích, những tấm gương, những phản ứng đáp
lại và sự củng cố.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Điều đó giải thích tại sao đôi khi không có động cơ mua bánh kẹo nhưng
nếu đi qua một tiệm bánh hay một cửa hàng bánh người ta vẫn mua. Khung
cảnh của môi trường cùng với sự tác động của nhiều nhân tố khác như bạn
bè… đã thôi thúc hành động mua. Hoặc cũng có thể do nhìn thấy một người
khác đang cầm trên tay một chiếc bánh con người cũng có thể đi đến hành
động mua ngay lập tức mà không cần tham khảo ý kiến và đắn đo. Cảm nhận
về một loại sản phẩm nào đó phụ thuộc rất lớn về ấn tượng đầu tiên. Ấn tượng
trong làn sử dụng đầu tiên về một loại bánh kẹo rất tốt thì có thể loại bánh
kẹo đó được đánh giá là sản phẩm tốt. Cơ hội sản phẩm được mua vào lần sau
rất lớn.
4.4 Niềm tin và thái độ
Người tiêu dùng tin rằng sản phẩm bánh kẹo của một hãng nào đó phù hợp
với khẩu vị của bản thân và các thành viên trong gia đình thì sự lựa chọn sản
phẩm của hãng là điều hiển nhiên. Điều này tạo nên niềm tin sâu sắc của
người tiêu dùng về sản phẩm của hãng bánh kẹo đó. Lợi thế cho các hãng
bánh kẹo như vậy vì những khách hàng đó sẽ trở thành khách hàng trung
thành của công ty. Tạo niềm tin nơi khách hàng đối với nhãn hiệu và doanh
nghiệp là công việc phải được xem trọng thường xuyên trong hoạt động
marketing.keting.
III. Tình hình cạnh tranh trên thị trường bánh kẹo Việt Nam
1. Các đối thủ cạnh tranh trực tiếp
Hiểu được khách hàng thôi chưa đủ. Những năm đầu của thế kỷ XXI sẽ là
một thập kỷ cạnh tranh quyết liệt cả trong nước và trên thế giới.
Trên thị trường bánh kẹo Việt Nam hiện nay có hơn 30 công ty kinh doanh
và sản xuất bánh kẹo. Trong đó có những tên tuổi như Kinh Đô, Hải Hà, Hải
Châu, Đồng Khánh, Tràng An, Hữu Nghị…Có những tên tuổi mới xuất hiện
nay Kinh Đô là một thương hiệu bánh kẹo lớn nhất và sâu đậm nhất trong tâm
trí khách hàng.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2. Các lực lượng cạnh tranh khác và các nguy cơ
2.1 Nguy cơ nhập cuộc của các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Thị trường bánh kẹo hiện nay được đánh giá là mảng thị trường khá hẫp
dẫn chính vì thế đã thu hút khá nhiều đối thủ nhập cuộc. Bất kỳ doanh nghiệp
tư nhân, nhà nước hay liên doanh đều có cách thức và quy mô sản xuất khác
nhau. Việc nhập cuộc vào ngành sản xuất kinh doanh bánh kẹo phụ thuộc vào
nhiều yếu tố, trong đó việc sản xuất với quy mô lớn sẽ giảm chi phí sản xuất
do tuân theo quy luật lợi thế về quy mô và đường cong kinh nghiệm. Điều
đáng quan tâm là vấn đề vốn và chi phí chuyển đổi ngành là một trong những
yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình nhập cuộc của các đối thủ tiềm ẩn.
Nhưng chi phí chuyển đổi và mức vốn pháp định ban đầu để trở thành một
thành viên trong ngành này không phải là lớn lắm. Ngoài ra, bánh kẹo là loại
thực phẩm không mang tính dị biệt vì vậy rào cản nhập cuộc về tính dị biệt
của sản phẩm không cao.
Rào cản của nhập ngành đó là việc tiếp cận và thiết lập hệ thống phân phối.
Để chọn ra được những thanh viên kênh trung thành và làm việc có hiệu quả
không phải là đơn giản do có quá nhiều cửa hàng, đại lý, họ có quá nhiều cơ
hội lựa chọn những nhà cung ứng khác nhau.
Những điều kiện thuận lợi trên tạo nên sức hút lớn đối với các đối thủ tiềm
ẩn. Vì thế chắc chắn số lượng các doanh nghiệp sẽ tham gia vào thị trường
bánh kẹo trong những năm tới rất nhiều. Đây là mối đe doạ lớn đối với các
doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo trên thị trường Việt Nam.
2.2 Cạnh tranh của sản phẩm thay thế
Khi nói đến cạnh tranh thì không thể bỏ qua cạnh tranh của các sản phẩm
thay thế. Các sản phẩm thay thế hạn chế lợi nhuận tiềm năng của một ngành
bằng cách đặt một ngưỡng tối đa cho mức giá cuối cùng mà hàng hoá trong
mạch…là các bệnh liên quan đến độ ngọt. Người mắc bệnh béo phì thì kiêng
độ ngọt vì đường chính là nhân tố để cơ thể tích mỡ. Các bệnh tiểu đường và
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
tim mạch cũng vậy. Trong khi đó nói đến bánh kẹo là người ta nghĩ ngay đến
độ ngọt. Chính vì thế cầu về bánh kẹo đã bị ảnh hưởng bởi nhóm người này.
Nguy cơ khác ảnh hưởng đến cung bánh kẹo dùng để biếu tặng đó là các
sản phẩm bánh truyền thống của các địa phương. Mỗi địa phương có một đặc
sản riêng. Khi đi du lịch hay đi xa xu hướng mua các sản phẩm đặc sản của
quê hương thay thế cho việc mua bánh kẹo đã tràn lan ngoài thị trường. Vấn
đề này làm cho các doanh nghiệp bánh kẹo phải chú ý hơn để lường trước
phản ứng của cầu đồng thời có thể kết hợp để đưa ra các sản phẩm mới.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
CHƯƠNG II: CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HỮU NGHỊ
VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MARKETING
I. Khái quát về quá trình hình thành và kết quả kinh doanh của công ty
1. Lịch sử ra đời
Tên công ty: Công ty cổ phần bánh kẹo Hữu Nghị
Địa chỉ: 23 Lạc Trung, Vĩnh Tuy, Hai Bà Trưng, Hà Nội
Đt: 049173404
Vốn điều lệ: 3 tỷ đồng
Mã số thuế: 0101083348
Lĩnh vực kinh doanh: Sán xuất và kinh doanh bánh kẹo
Lịch sử hình thành của công ty Cổ phần bánh kẹo Hữu Nghị trải qua các
giai đoạn sau:
1.1 Giai đoạn từ 1945 - 1980
Tiền thân là cơ sở sản xuất bánh kẹo ra đời trước 1945 tại phố Trần Hưng
Đạo do một Hoa Kiều làm chủ để cung cấp bánh kẹo cho cơ sở mật thám của
Pháp. Đến tháng 9/1945 cơ sở này được nhà nước thu hồi và chuyển thành
hoạt động sản xuất kinh doanh. Kể từ đây công ty được chủ động về mọi mặt:
hoạt động sản xuất, hoạt động tài chính, đến viẹc xây dựng chiến lược kinh
doanh… Tuy nhiên việc tồn tại thêm một trương hiệu Hữu Nghị của công ty
thực phẩm miền Bắc mà các cơ quan pháp luật chưa giải quyết đã ảnh hưởng
lớn đến thị phần của công ty.
2. Cơ cấu tổ chức và chức năng của bộ máy quản lý của công ty
Công ty cổ phần bánh kẹo Hữu Nghị là một doanh nghiệp hạch toán độc
lập, quản lý theo một cấp. Căc cứ vào chức năng và nhiệm vụ kinh doanh,
công ty đã thiết lập bộ máy tổ chức quản lý kinh doanh như sau:
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Sơ đồ số 1: Cơ cấu bộ máy quản lý của công ty
Cổ phần bánh kẹo Hữu Nghị
Mỗi bộ phận có những nhiệm vụ và chức năng riêng, cụ thể như sau:
- Hội đồng quản trị: Là bộ máy quản lý cao nhất của công ty, có chức năng
hoạch định các chính sách, đường hướng phát triển chung của công ty. Và là
nơi đưa ra các quyết định quan trọng nhất của công ty.
- Bộ máy lãnh đạo trực tiếp là ban giám đốc do hội đông quản trị bổ nhiệm
gồm có một giám đốc và hai phó giám đốc. Trong đó có một phó giám đốc
phụ trách kinh doanh, một phó giám đốc phụ trách kỹ thuật. Ban giám đốc có
toàn quyền lãnh đạo, đưa ra mọi quyết định trong sản xuất, kinh doanh và
chịu trách nhiệm trước công ty.
Dưới ban giám đốc là các phòng ban trực thuộc:
- Phòng kinh doanh: Có nhiệm vụ bảo đảm cung ứng các yếu tố đầu vào
cũng như hoạt động tiêu thụ sản phẩm của công ty.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Hội đồng quản
trị
Ban giám đốc
Phân xưởng sản xuấtPhòng kế toánPhòng hành
động trong công ty, thực hiện các chính sách về lao động như: lương, thưởng,
các chế độ đãi ngộ khác…
- Xưởng sản xuất: là nơi trực tiếp sản xuất và chiếm đa số nguồn nhân lực
của công ty. Trong phân xưởng sản xuất được chia thành 3 phân xưởng khác
nhau:
+ Phân xưởng bánh: có nhiệm vụ sản xuất các loại sản phẩm trên một dây
chuyền sản xuất như bánh kem xốp, bánh quy,…
+ Phân xưởng kẹo: có nhiệm vụ sản xuất các loại kẹo như kẹo hoa quả, kẹo
cứng, kẹo mềm…
+ Phân xưởng điện: là một bộ phận phụ trợ có nhiệm vụ gia công cơ khí,
sửa chữa lớn, sửa chữa thường xuyên máy móc trang thiết bị phục vụ cho các
phân xưởng chính, và bảo đảm điện nước cho toàn công ty.
Ngoài ra, công ty còn có một số của hàng dịch vụ và giới thiệu sản phẩm
với danh nghĩa là trực thuộc phòng hành chính nhưng trên thực tế do cửa
hàng trưởng thuộc phòng kinh doanh phụ trách.
3. Đặc điểm các nguồn lực
3.1 Nguồn vốn kinh doanh
Quá trình hoạt động nhiều năm cho đến nay công ty đã có tổng số vốn là 7
tỷ đồng vốn cố định và 3 tỷ đồng vốn lưu động. Trước năm 1999 nguồn vốn
của công ty chủ yếu là vốn nhà nước chiếm 51%. Sau khi cổ phần hoá năm
1999, toàn bộ nguồn vốn của công ty chủ yếu là vốn tự có của cán bộ công
nhân viên.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Với nguồn vốn như vậy đủ để công ty đầu tư thêm máy móc thiết bị để sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm. Tuy nhiên so với các đối thủ cạnh tranh thì số vốn
này quá nhỏ bé. Chính vì vậy, máy móc thiết bị của công ty còn lạc hậu và
manh tính thủ công hơn so với doanh nghiệp khác trong ngành.
3.2 Đặc điểm về nguồn lao động
Tính đến thời điểm 2005 tổng số lao động của công ty Cổ phần Hữu Nghị
40.62%; đặc biệt số lao động chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ lớn nhất 48.43%.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đây là thách thức lớn đòi hỏi công ty phải nâng cao hơn nữa công tác đào tạo
nhân sự.
Theo cơ cấu độ tuổi thì số lao động trên 50 tuổi chiếm 6.25%; từ 30- 35
tuổi chiếm 64.07% và dưới 30 tuổi chiếm 29.68% (Nguồn phòng tổ chức
hành chính). Điều đó phản ánh công ty có đội ngũ lao động tuổi đời khá cao,
chiếm tỷ lệ lớn nhất là độ tuổi 30-45. Số lượng lao động tuổi đời cao, tích luỹ
nhiều kinh nghiệm là một thuận lợi lớn. Tuy nhiên số lượng lao động trẻ quá
ít cùng với trình độ chuyên môn không cao làm hạn chế sự cập nhật trình độ
khoa học kỹ thuật.
Công tác đào tạo nâng cao chất lượng lao động đã được công ty chú ý
hàng năm. Tuy nhiên số lượng lao động được tham gia còn ít với các hình
thức như: Gửi cán bộ quản lý tới các trường Đại học trong nước hoặc các mời
các giảng viên công nghệ thực phẩm về giảng dạy trong khoảng 2-3 tuần cho
công nhân kỹ thuật. Hình thức tuyển dụng đơn giản, thí sinh gửi hố sơ đến
phòng hành chính, phòng hành chính lọc hố sơ rồi tiến hành phỏng vấn trực
tiếp. Quá trình tuyển dụng đơn giản và còn ưu tiên con em cán bộ nhân viên
trong công ty.
Công tác tạo động lực cho người lao động được quan tâm trên cả hai khía
cạnh tạo động lực về tinh thần và vật chất. Tạo động lực về tinh thần thể hiện
qua các hoạt động như lương, thưởng cho các cá nhân hoàn thành và vượt
mức kế hoạch được giao hay cho các sáng kiến hay trong sản xuất kinh
doanh.Các phong trào thi đua, tạo bầu không khí lành mạnh và các hoạt động
dã ngoại là những hình thức tạo động lực về tinh thần.
3.3 Đặc điểm về máy móc và công nghệ sản xuất bánh kẹo
Được thành lập từ rất lâu đời, tuy nhiên đến nay công ty công ty Cổ phần
bánh kẹo Hữu Nghị vẫn còn sử dụng một số loại máy móc cũ. Việc sử dụng
các loại máy móc này làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sản phẩm.