214 Các giải pháp marketing nhằm phát triển thị trường cho Công ty cổ phần Bánh kẹo Hữu Nghị - Pdf 26

Trêng §HQTD – Khoa Marketing Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình đổi mới, từ một nền kinh tế bao cấp chuyển sang cơ chế
kinh tế thị trường thì hoạt động sản xuất kinh doanh có một vai trò hết sức
quan trọng, mang lại thu nhập chính cho người dân và mang lại sự phồn thịnh
cho một quốc gia. Để cạnh tranh thắng lợi trên thị trường mỗi doanh nghiệp
cần phải giả quyết nhiều vấn đề, trong dó có chiến lược về thị trường.
Sự cạnh tranh trên thị trường bánh kẹo Việt Nam ngày càng gay gắt.
Những năm gần đây, thị trường của công ty cổ phần bánh kẹo Hữu Nghị có
xu hướng sụt giảm trong khi thị trường bánh kẹo Việt Nam là một thị trường
còn nhiều tiềm năng. Vì vậy giữ vững và mở rộng thị trường là vấn đề cấp
bách đối với sự tồn ntại và phát triển của công ty Hữu Nghị. Bản chuyến đề
tốt nghiệp này hướng vào đề tài: “ Các giải pháp marketing nhằm phát
triển thị trường cho Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hữu Nghị” với hy vọng
đóng góp một phần nhỏ bé vào vấn đề vừa có tính thời sự vừa có ý nghĩa lý
luận nói trên.
Nội dung chuyên đề gồm 3 phần chính:
Chương I: Tổng quan thị trường bánh kẹo Việt Nam
Chương II: Công ty cổ phần bánh kẹo Hữu Nghị và thực trạng
hoạt động Marketing
Chương III: Các giải pháp marketing nhằm phát triển thị trường
của công ty bánh kẹo Hữu Nghị.
* Mục tiêu nghiên cứu:
Nghiên cứu thực trạng hoạt động Marketing của công ty bánh kẹo Hữu
Nghị, trên cơ sở đó kiến nghị các giải pháp để mở rộng thị phần cho công ty.
* Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu tổng quan hoạt động kinh doanh của công ty và nghiên cứu sâu
hoạt động Marketing của công ty ở thị trường trong nước trong những năm gần
đây.
Chuyên đề đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp phân tích tổng hợp

cao vì hai lý do. Thứ nhất do dân số ngày càng tăng. Trung bình mỗi năm dân
số Việt Nam tăng 1,13 triệu người một năm. Theo thống kê của Tổng cục
NguyÔn ThÞ Minh Lam 2 Líp Marketing
44A
Trêng §HQTD – Khoa Marketing Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
thống kê thì đến cuối năm 2005 dân số Việt Nam là 83,12 triệu người, vượt
700.000 người so với kế hoạch. Quy mô và tốc độ tăng dân số phản ánh quy
mô của cầu nói chung về mọi loại hàng hoá. Do đó, đương nhiên với một sản
phẩm tiêu dùng như bánh kẹo thì tổng cầu về bánh kẹo sẽ tăng lên.
Tuy nhiên quan trọng hơn là chất lượng cuộc sống cuộc sống của người
dân ngày càng tăng lên. Đây là lý do thứ hai để đánh giá về tổng cầu bánh
kẹo. Chất lượng cuộc sống được đánh giá qua nhiều chỉ tiêu như: thu nhập,
giáo dục, y tế…, phản ánh khả năng thanh toán của cầu cũng như những xu
hướng và sự thay đổi trong thị hiếu và sở thích của người tiêu dùng.
Nền kinh tế Việt Nam năm năm qua ( 2000-2005) đã phát triển rất mạnh
mẽ bất chấp khó khăn. Trung bình trong năm năm qua, tốc độ phát triển kinh
tế là 7.4% riêng năm 2005 là 8.4%. Trong 5 năm qua, tốc độ tăng trưởng kinh
tế luôn năm sau cao hơn và vững chắc hơn năm trước. Cụ thể, năm 2001 tốc
độ tăng trưởng GDP là 6.9%, năm 2002 đạt 7.1%, năm 2003 là 7.34%, năm
2004 con số này 7.8%, năm 2005 là 8.4%. Năm 2005 là năm có tốc độ tăng
trưởng GDP cao nhất từ trước đến nay. Kế hoạch cho 5 năm tiếp theo 2006-
2010 là trung bình từ 7,5 đến 8% . Song song với sự tăng trưởng của GDP là
thu nhập của người dân và chỉ số giá tiêu dùng tăng lên. Sức mua hàng hoá
tăng liên tục, tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tăng liên tục trong những
năm qua. Đầu năm 2006 tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ là…... tăng
19,3% so với năm 2005, nếu loại trừ yếu tố giá thì tăng 10% . (Nguồn số liệu
từ tổng cục thống kê: )
Sự phát triển của Kinh tế kéo theo sự phát triển của các ngành khác như
Giáo dục, Y tế. Trình độ văn hoá của người dân ngày càng cao. Cùng với sự
phát triển của khoa học kỹ thuật đặc biệt công nghệ thông tin khiến cho sự

hơn phức tạp hơn. Xu hướng này được dự báo một cách khoa học dựa trên
sản lượng tiêu thụ bánh kẹo ở Việt Nam những năm gần đây
Lượng tiêu thụ bánh kẹo tăng liên tục qua các năm. Mặc dù các số liệu của
3 năm trở lại đây (2003-2005) chưa được cập nhật nhưng căn cứ vào tốc độ
phát triển kinh tế vào đời sống của người tiêu dùng và sức mua của họ ta có
thể thấy được lượng cầu ngày càng tăng là điều hiển nhiên.
NguyÔn ThÞ Minh Lam 4 Líp Marketing
44A
Trêng §HQTD – Khoa Marketing Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
* Xu hướng trọng yếu tố văn hoá và tinh thần.
Người tiêu dùng ngày càng đòi hỏi cao và hướng tới cái đẹp. Giá cả sản
phẩm không còn là yếu tố duy nhất. Mà hình thức, ý nghĩa của sản phẩm được
ưu tiên cân nhắc. Con người càng quan tâm hơn đến giá trị tinh thần, quan
tâm đến hình ảnh của bản thân được thể hiện như thế nào khi tiêu dùng sản
phẩm. Trong tương lai, khoa học công nghệ sẽ làm cho chất lượng của các
loại bánh kẹo ở mỗi thương hiệu như nhau thì người tiêu dùng lại càng quan
tâm đến mẫu mã sản phẩm và những giá trị tinh thần mà sản phẩm mang lại.
Đặc biệt hình thức sẽ nói lên giá trị mà sản phẩm truyền tải.
* Xu hướng trọng sức khoẻ.
Cùng với sự phát triển của Kinh tế thì nhiều vấn đề xã hội xuất hiện như
bệnh dịch và tệ nạn xã hội. An toàn là nhu cầu mà bất kỳ ai cũng mong muốn.
Việc lựa chọn thực phẩm, bánh kẹo phải đảm bảo trước hết là an toàn và có
lợi cho sức khoẻ. Các chất ngọt, béo, và các yếu tố vi lượng trong bánh phải
được sản xuất theo thị hiếu của người tiêu dùng. Đường sẽ được giảm bớt
trong bánh để phục vụ đoạn thị trường ăn kiêng. Chất béo đặc biệt là chất béo
không chứa cholesterol sẽ được chọn lựa.
*Xu hướng đơn giản, gọn nhẹ và đồng bộ
Cuộc sống ngày càng bận rộn, thời gian với con người là quý giá. Không
đủ thời gian để phục vụ bữa ăn hàng ngày, đặc biệt là các bữa sáng và bữa
trưa. Đồ ăn càng gọn nhẹ, nhanh và tiết kiệm thời gian càng được ưu tiên.

nhanh chóng lột xác từ quy mô gia đình để trở thành nhà sản xuất lớn. Đặc
biệt những năm gần đây để đủ điều kiện gia nhập WTO quốc hội gia sức
chỉnh sửa và hoàn thiện hệ thống luật doanh nghiệp và luật đầu tư. Chỉ còn
đàm phán song phương với Mỹ là Việt Nam trở thành thành thành viên của tổ
chức thương mại thế giới. Khi môi trường kinh doanh thông thoáng hơn,
không chỉ các doanh nghiệp mới hình thành mà các doanh nghiệp nước ngoài
cũng sẽ nhập cuộc. Thị trường là một miếng bánh, trong tương lai sẽ bị chia
sẻ bởi nhiều doanh nghiệp. Ai được phần to hơn phụ thuộc vào năng lực của
chính mình, vào khả năng nắm bắt cơ hội và thích ứng với thị trường.
NguyÔn ThÞ Minh Lam 6 Líp Marketing
44A
Trêng §HQTD – Khoa Marketing Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
II. Những nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng sản phẩm bánh kẹo.
1. Yếu tố văn hoá
Văn hoá là tập hợp các giá trị, chuẩn mực, tư tưởng nghệ thuật cùng với các
biểu tượng như ngôn ngữ, chữ viết có ý nghĩa giúp cho mọi cá nhân có thể
diễn đạt, giao tiếp, truyền tin, đánh giá và thẩm định chính mình cùng với các
thành viên khác trong xã hội. Văn hoá ảnh hưởng tới hành vi, quan điểm thái
độ của con người ngay từ nhỏ. Việt Nam với 54 dân tộc khác nhau sinh sống
đã tạo nên một nền văn hoá đa dạng, phong phú và đậm đà bản sắc dân tộc.
Những nét văn hoá ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng bánh kẹo của người dân
Việt Nam có thể kể đến là: văn hoá tặng quà, văn hoá phi vật thể ( các lễ hội
dân gian, các ngày tết cổ truyền…)
Đã từ lâu lắm người Việt có thói quen mua quà bánh mỗi khi đi xa về hay
tặng quà nhau vào những ngày kỷ niệm. Khi còn bé thì nhận được những gói
kẹo nho nhỏ từ tay mẹ mỗi khi mẹ đi chợ về, hay từ tay bố khi bố về sau mỗi
lần đi công tác. Lớn lên cũng nhận được quà từ những người thân, bạn bè, các
đồng nghiệp vào những dịp đặc biệt. Khi già thì nhận được quà từ những đứa
con về thăm. Bất kỳ ở lứa tuổi nào, việc nhận quà, tặng quà đã là nếp lệ
thường của người dân Việt Nam. Nó trực tiếp hưởng đến quá trình mua sắm

2. Những yếu tố xã hội
2.1 Giai tầng xã hội
Các tầng lớp xã hội là các bộ phận tương đối đồng nhất bền vững trong xã
hội, được xếp theo thứ bậc và gồm những thành viên có chung những giá trị,
mối quan tâm và hành vi. Những người thuộc mỗi tầng lớp xã hội đều có
khuynh hướng hành động giống nhau hơn so với những người thuộc hai tầng
lớp xã hội khác. Việc sắp xếp tầng lớp xã hội của một người được xác định
theo một số biến như nghề nghiệp, thu nhập, của cải, học vấn, và định hướng
giá trị chứ không chỉ theo một biến. Có thể chia xã hội Việt Nam thành các
tầng lớp sau:
Nông dân: Những người có thu nhập thấp và dưới trung bình, làm nông
nghiệp, sống ở các vùng nông thôn. Yếu tố quan tâm hàng đầu của họ khi lựa
chọn sản phẩm bánh kẹo là giá cả.
NguyÔn ThÞ Minh Lam 8 Líp Marketing
44A
Trêng §HQTD – Khoa Marketing Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Công nhân: Những người có thu nhập trung bình, cao hơn tầng lớp nông
dân, thu nhập ổn định hơn, làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở
sản xuất. Mức thu nhập chưa thực sự cao nên giá cả vẫn là yếu tố quan tâm
khi mua bánh kẹo
Thương nhân: tầng lớp này có thu nhập cao. Giá cả không phải là yếu tố
hàng đầu. Chất lượng và mẫu mã là yếu tố khiến họ quan tâm khi lựa chọn
sản phẩm bánh kẹo. Đôi khi những sản phẩm giá cao lại mang lại cho họ cảm
giác ưa thích bởi phần nàp đó thể hiện được vị thế của bản thân.
Trí thức: Tầng lớp này có nhu cầu tìm kiếm thông tin lớn, họ có trình độ
học vấn cao và thường chọn những sản phẩm đảm bảo chất lượng do những
công ty có tên tuổi trên thi trường sản xuất.
Nghiên cứu giai tầng xã hội là cơ sở để người làm marketing phân đoạn thị
trường và lựa chọn thị trường mục tiêu, cho phép tìm hiểu các nhóm khách
hàng và đưa ra các chính sách Marketing.

Mỗi một người đều có thể tham gia vào rất nhiều nhóm khác nhau. Vị trí
của người đó trong mỗi nhóm có thể xác định căn cứ vào vai trò và địa vị của
họ. Với vị trí, địa vị nhất định người ta sẽ tiêu dùng những sản phẩm thể hiện
tính cách và địa vị của chính mình. Do đó với những người có địa vị cao thì
bánh kẹo chất lượng cao, sang trọng là lựa chọn hàng đầu. Và ngược lại với
những người có địa vị thấp, thường thì họ lựa chọn những sản phẩm có giá cả
vừa phải phù hợp với thu nhập của bản thân.
3. Các yếu tố cá nhân
Những quyết định của người mua cũng chịu ảnh hưởng bởi những đặc
điểm cá nhân, nổi bật nhất là tuổi tác và giai đoạn chu kỳ sống của người
mua, nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế.
3.1 Tuổi tác và chu kỳ sống
Con người mua những hàng hoá và dịch vụ khác nhau trong suốt đời mình.
Đối với sản phẩm bánh kẹo, sự khác biệt rất rõ nét.
NguyÔn ThÞ Minh Lam 10 Líp Marketing
44A
Trêng §HQTD – Khoa Marketing Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Lứa tuổi nhi đồng thích những đồ vật ngộ nghĩnh, hiếu kỳ, thích khám phá,
thích màu sắc, sự vận động, thích vị ngọt và thường thể hiện mạnh mẽ sở
thích của mình. Do đó ở lứa tuổi này bánh kẹo phù hợp thường là các sản
phẩm có nhiều màu sắc, hình ngộ nghĩnh. Lứa tuổi này chưa tự được mua
được bánh kẹo nên cha mẹ là người quyết định có đáp ứng nhu cầu hay
không. Tuy nhiên bánh kẹo là một trong những cách để dỗ dành trẻ nhỏ.
Lứa tuổi từ 7 đến 15 là thời kỳ đến trường học. Việc mua các đồ dùng cho
bản thân đã độc lập hơn, bố mẹ đã tôn trọng hơn đối với các quyết định mua
bánh kẹo theo sở thích của lứa tuổi này. Các sản phẩm được lựa chọn theo sở
thích và đặc biệt ảnh hưởng của quảng cáo và nhóm bạn bè rất lớn.
Lứa tuổi 15 đến 24 là lứa tuổi đá bắt đầu trưởng thành. Hầu hết, họ tự mua
sắm đồ dùng cho mình, thích màu sắc tươi sáng, thích các hàng hoá có liên
quan đến các ban nhạc, các đội thể thao, vận động viên nổi tiếng, thích giao

Giai đoạn tổ ấm đầy đủ III: Đây là giai đoạn đôi vợ chồng đã già và các
con đã có việc làm. Nên thu nhập tăng mạnh mẽ. Việc chi tiêu chủ yếu vào
việc đởi mới phương tiện đồ dùng thay thế. Giai đoạn này ít sử dụng bánh
kẹo. Bánh kẹo dùng trong gia đình chủ yếu là sau cá bữa ăn để tráng miệng và
để tiếp khách.
Giai đoạn tổ ấm vắng vẻ I: Đôi vợ chồng đã già, các con đã đi lập gia đình.
Sự xụt giảm của số lượng thành viên trong gia đình làm cho thu nhập trong
gia đình giảm xuống tương ứng. Những khoản chi phí chủ yếu dành cho các
cuộc vui chơi giải trí, đi du lịch. Bánh kẹo cũng chỉ được tiêu dùng trong các
dịp này.
Giai đoạn tổ ấm vẳng vẻ II: Đây là giai đoạn đoi cợ chồng già, một trong
hai lao động chính đã nghỉ hưu, con cái đã tách khỏi gia đình. Các chi tiêu
chủ yếu dành cho chăm sóc sức khoẻ, nên các loại bánh kẹo được lựa chọn kỹ
càng, chủ yếu là các loại bánh ít chất ngọt và ít chất béo, dễ tiêu.
Giai đoạn còn sống một mình và vẫn làm việc: Đây là giai đoạn ít chi tiêu.
Bánh kẹo tiêu dùng chủ yếu do đựơc biếu tặng.
NguyÔn ThÞ Minh Lam 12 Líp Marketing
44A
Trêng §HQTD – Khoa Marketing Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Giai đoạn còn sống một mình và đã nghỉ hưu: Nhu cầu về thuốc men để
chăm sóc sức khoẻ cao. Thu nhập giảm hẳn. Rất cần sự quan tâm của con cái,
nên bánh kẹo cũng rất ít dùng.
Như vậy có thể thấy rằng trong các giai đoạn của chu kỳ sống của gia đình
thì giai đoạn tố ấm đầy đủ I và II là hai giai đoạn sử dụng bánh kẹo nhiều
nhất. Con người ăn thức ăn cho trẻ sơ sinh trong những năm đầu tiên, ăn phần
lớn những thực phẩm trong những năm lớn lên và trưởng thành, những thức
ăn kiêng cữ trong những năm cuối đời.
3.2 Nghề nghiệp
Nghề nghiệp của một người cũng có ảnh hưởng nhất định đến hành vi tiêu
dùng bánh kẹo. Nghề nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của mỗi cá

4.2 Nhận thức
Một người có động cơ luôn sẵn sàng hành động. Vấn đề người đó sẽ hành
động như thế nào trong thực tế còn chịu ảnh hưởng từ sự nhận thức của người
đó về tình huống lúc đó.
Hành động của mỗi người là khác nhau đôi khi chỉ trong một tình huống.
Cũng trong cùng một hoàn cảnh, cùng một thái độ đón tiếp niềm nở của nhân
viên, cùng một giá bày hàng, cùng một nhà sản xuất, cùng thời gian, nhưng
nhận thức của hai khách hàng có thể khác nhau, có người cho là tốt nhưng
cũng có người cho là không tốt. Chính vì vậy các nhà sản xuất kinh doanh
bánh kẹo phải làm sao cho người tiêu dùng hiểu đúng thông điệp mà nhà sản
xuất muốn gửi tới khách hàng.
4.3 Tri thức
Tri thức của một người có thể được tạo ra thông qua sự tác động qua lại của
những thôi thúc, tác nhân kích thích, những tấm gương, những phản ứng đáp
lại và sự củng cố.
NguyÔn ThÞ Minh Lam 14 Líp Marketing
44A
Trêng §HQTD – Khoa Marketing Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Điều đó giải thích tại sao đôi khi không có động cơ mua bánh kẹo nhưng
nếu đi qua một tiệm bánh hay một cửa hàng bánh người ta vẫn mua. Khung
cảnh của môi trường cùng với sự tác động của nhiều nhân tố khác như bạn
bè… đã thôi thúc hành động mua. Hoặc cũng có thể do nhìn thấy một người
khác đang cầm trên tay một chiếc bánh con người cũng có thể đi đến hành
động mua ngay lập tức mà không cần tham khảo ý kiến và đắn đo. Cảm nhận
về một loại sản phẩm nào đó phụ thuộc rất lớn về ấn tượng đầu tiên. Ấn tượng
trong làn sử dụng đầu tiên về một loại bánh kẹo rất tốt thì có thể loại bánh
kẹo đó được đánh giá là sản phẩm tốt. Cơ hội sản phẩm được mua vào lần sau
rất lớn.
4.4 Niềm tin và thái độ
Người tiêu dùng tin rằng sản phẩm bánh kẹo của một hãng nào đó phù hợp

trong nước nhờ lợi thế giá rẻ đã chiếm lĩnh được đoạn thị trường có thu nhập
thấp. Các loại bánh kẹo này không nổi tiếng vì khách hàng mục tiêu không
quan tâm đến chất lượng và sự nổi tiếng của thương hiệu.
Sự cạnh tranh mạnh mẽ diễn ra ở các thương hiệu nổi tiếng đó là Kinh Đô,
Bibica, Hải Hà, Hải Châu… Các thương hiệu này liên tục đưa ra các sản
phẩm mới và mở rộng phạm vi kinh doanh cũng như đổi mới công nghệ. Kinh
Đô thường xuyên mở các cuộc điều tra khẩu vị của khách hàng thông qua các
triển lãm, Hội trợ, để tạo sản phẩm mới. Xây dựng hàng loạt các cửa hiệu
bakkery phục vụ bánh ngọt, đồng thời tiến hành quảng cáo rầm rộ trên các
phương tiện đại chúng. Xây dựng thương hiệu định vị trong khách hàng là
loại bánh cao cấp, lịch sự, sang trọng và được dùng chủ yếu để biếu tặng. Bên
cạnh đó Kinh Đô còn dự định mua lại hãng nước giải khát Tribeco để mở
rộng lĩnh vực sản xuất. Hải Hà thì mở rộng các chủng loại sản phẩm để khai
thác tối đa các nhu cầu từ trẻ nhỏ đến người lớn. Bibica cũng không chịu
nhường thị phần tại các khu vực phía Nam. Có thể nói trên thị trường hiện
nay Kinh Đô là một thương hiệu bánh kẹo lớn nhất và sâu đậm nhất trong tâm
trí khách hàng.
NguyÔn ThÞ Minh Lam 16 Líp Marketing
44A
Trêng §HQTD – Khoa Marketing Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
2. Các lực lượng cạnh tranh khác và các nguy cơ
2.1 Nguy cơ nhập cuộc của các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Thị trường bánh kẹo hiện nay được đánh giá là mảng thị trường khá hẫp
dẫn chính vì thế đã thu hút khá nhiều đối thủ nhập cuộc. Bất kỳ doanh nghiệp
tư nhân, nhà nước hay liên doanh đều có cách thức và quy mô sản xuất khác
nhau. Việc nhập cuộc vào ngành sản xuất kinh doanh bánh kẹo phụ thuộc vào
nhiều yếu tố, trong đó việc sản xuất với quy mô lớn sẽ giảm chi phí sản xuất
do tuân theo quy luật lợi thế về quy mô và đường cong kinh nghiệm. Điều
đáng quan tâm là vấn đề vốn và chi phí chuyển đổi ngành là một trong những
yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình nhập cuộc của các đối thủ tiềm ẩn.

những vị ngọt ít hơn bánh kẹo mà còn nhiều chất khoáng và vitamin hơn. Hoa
quả được sử dụng nhiều vì nó có nhiều tác dụng tốt mà bánh kẹo không có,
đặc biệt là tác dụng làm đẹp. Lý do thứ hai để con người chuyến dần sang sử
dụng sản phẩm tự nhiên đó là sự quá tải của các sản phẩm thực phẩm công
nghiệp. Khi những thứ gì quá tải và những thứ gì trở nên khan hiếm thì xu
hướng tìm kiếm đến những cái khan hiếm trở nên mạnh mẽ, cái khan hiếm
được coi trọng.
Bánh kẹo dùng để biếu tặng sẽ bị thay thế bởi các loại sản phẩm biếu tặng
khác như rượu, bia, thuốc lá, các sản phẩm mỹ nghệ…Con người luôn thay
đổi và thích đổi mới. Khi cùng một nhu cầu nhưng có thể đáp ứng bằng nhiều
cách khác nhau, họ có cơ hội để lựa chọn nhiều hơn. Khi đó chắc chắn những
sản phẩm được sắp xếp vào sự lựa chọn đó sẽ trở thành sản phẩm cạnh tranh
thay thế.
2.3 Các nguy cơ khác
Ảnh hưởng đến cung cầu thị trường bánh kẹo còn phải kể đến các nguy cơ
khác. Đó là sự phát triển của nhiều loại bệnh làm một bộ phận người tiêu
dùng không lựa chọn bánh kẹo. Bệnh béo phì, bệnh tiểu đường, bệnh tim
mạch…là các bệnh liên quan đến độ ngọt. Người mắc bệnh béo phì thì kiêng
độ ngọt vì đường chính là nhân tố để cơ thể tích mỡ. Các bệnh tiểu đường và
NguyÔn ThÞ Minh Lam 18 Líp Marketing
44A
Trêng §HQTD – Khoa Marketing Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
tim mạch cũng vậy. Trong khi đó nói đến bánh kẹo là người ta nghĩ ngay đến
độ ngọt. Chính vì thế cầu về bánh kẹo đã bị ảnh hưởng bởi nhóm người này.
Nguy cơ khác ảnh hưởng đến cung bánh kẹo dùng để biếu tặng đó là các
sản phẩm bánh truyền thống của các địa phương. Mỗi địa phương có một đặc
sản riêng. Khi đi du lịch hay đi xa xu hướng mua các sản phẩm đặc sản của
quê hương thay thế cho việc mua bánh kẹo đã tràn lan ngoài thị trường. Vấn
đề này làm cho các doanh nghiệp bánh kẹo phải chú ý hơn để lường trước
phản ứng của cầu đồng thời có thể kết hợp để đưa ra các sản phẩm mới.

xuất. Đến năm 1982, xí nghiệp 96 Trần Hưng Đạo quyết định đổi tên thành
NguyÔn ThÞ Minh Lam 20 Líp Marketing
44A
Trêng §HQTD – Khoa Marketing Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
xí nghiệp bánh kẹo Hữu Nghị Hà Nội và cho ra đời các sản phẩm với thương
hiệu Hữu Nghị.
1.3 Giai đoạn từ 1996 – 1998
Thực hiện quyết định 699 TM- TCCB ngày 13/08/1996 của Bộ Trưởng Bộ
Thương mại về việc xát nhập 3 côngt y: Công ty thực phẩm xuất khẩu Hà
Nam, Công ty bánh kẹo Hữu Nghị, công ty thực phẩm miền Bắc trực thuộc
Bộ thương mại. Kể từ khi đổi mới đến năm 1996, công ty thực phẩm miền
Bắc trở thành đơn vị chủ quản của xí nghiệp bánh kẹo Hữu Nghị theo quyết
đínhố 64/TPMB/TCHC. Quyết định này đã chuyển công ty từ một đơn vị
hạch toán độc lập sang một đơn vị hạch toán phụ thuộc. Đây là vấn đề khó
khăn và ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
1.4 Giai đoạn từ 1999 đến nay
Năm 1999, xí nghiệp bánh kẹo đã cổ phần hoá theo quyết định số
1560/2000/QĐ-BTM ngày 01/01/2001. Xí nghiệp bánh kẹo Hữu Nghị đã trở
thành một doanh nghiệp độc lập có tư cách pháp nhân với tên gọi là công ty
cổ phần bánh kẹo Hữu Nghị. Đây được coi là một sự đổi mới mạnh mẽ trong
hoạt động sản xuất kinh doanh. Kể từ đây công ty được chủ động về mọi mặt:
hoạt động sản xuất, hoạt động tài chính, đến viẹc xây dựng chiến lược kinh
doanh… Tuy nhiên việc tồn tại thêm một trương hiệu Hữu Nghị của công ty
thực phẩm miền Bắc mà các cơ quan pháp luật chưa giải quyết đã ảnh hưởng
lớn đến thị phần của công ty.
2. Cơ cấu tổ chức và chức năng của bộ máy quản lý của công ty
Công ty cổ phần bánh kẹo Hữu Nghị là một doanh nghiệp hạch toán độc
lập, quản lý theo một cấp. Căc cứ vào chức năng và nhiệm vụ kinh doanh,
công ty đã thiết lập bộ máy tổ chức quản lý kinh doanh như sau:
NguyÔn ThÞ Minh Lam 21 Líp Marketing

vụ
Tổ
bảo
vệ
Phân
xưởng
bánh
Phân
xưởng
kẹo
Phân
xưởng
điện
Tổ kỹ
thuật
Trêng §HQTD – Khoa Marketing Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
- Phòng kế toán: có chức năng thu thập, xử lý cung cấp thông tin kinh tế
phục vụ cho công tác quản lý. Qua đó kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch,
báo cáo giám đốc về việc sử dụng vồn, vật tư, lao động, và mọi hoạt động sản
xuất kinh doanh trong công ty, thúc đẩy thực hiện tốt chế độ hạch toán kinh
tế, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
- Phòng hành chính: có nhiệm vụ tổ chức, quản lý sắp xếp các bộ và lao
động trong công ty, thực hiện các chính sách về lao động như: lương, thưởng,
các chế độ đãi ngộ khác…
- Xưởng sản xuất: là nơi trực tiếp sản xuất và chiếm đa số nguồn nhân lực
của công ty. Trong phân xưởng sản xuất được chia thành 3 phân xưởng khác
nhau:
+ Phân xưởng bánh: có nhiệm vụ sản xuất các loại sản phẩm trên một dây
chuyền sản xuất như bánh kem xốp, bánh quy,…
+ Phân xưởng kẹo: có nhiệm vụ sản xuất các loại kẹo như kẹo hoa quả, kẹo

Đại học- Cao đẳng 5 3.8%
- Đại học bách khoa 2
- QTKD- Kế toán 3
3
Trungcấp-Sơ cấp 12 6.37%
- Kinh tế 8
- Kỹ thuật 4
4
Công nhân kỹ thuật 52 40.62%
-Sản xuất bánh kẹo 39
-Bảo quản thực phẩm 6
-Cơ khí 2
-Điện 1
- Vận tải 4
5
Chưa qua đào tạo 62 48.43%
Tổng
130 100%
Nguồn: Phòng tổ chức hành chính
Qua bảng số liệu cho thấy trình độ chất lượng lao động của lực lượng nhân
sự ở công ty chưa cao, chưa có lao động trình độ chuyên môn trên Đại học, số
lao động có trình độ Đại học – Cao đẳng chiếm tỷ lệ thấp 3.8% tập chung ở
bộ phận quản lý; Trung cấp – Sơ cấp chiếm 9.37%; công nhân kỹ thuật chiếm
40.62%; đặc biệt số lao động chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ lớn nhất 48.43%.
NguyÔn ThÞ Minh Lam 24 Líp Marketing
44A
Trêng §HQTD – Khoa Marketing Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Đây là thách thức lớn đòi hỏi công ty phải nâng cao hơn nữa công tác đào tạo
nhân sự.
Theo cơ cấu độ tuổi thì số lao động trên 50 tuổi chiếm 6.25%; từ 30- 35


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status