ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ LAN
QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ ĐƢA CÁCH MẠNG MIỀN NAM
TIẾN LÊN TOÀN THẮNG (1973-1975)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ LAN
QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ ĐƢA CÁCH MẠNG MIỀN NAM
TIẾN LÊN TOÀN THẮNG (1973-1975)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60 22 03 11
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Đình Lê
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ...................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề....................................................................... 3
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ......................................................... 8
5. Phƣơng pháp nghiên cứu ........................................................................ 8
6. Nguồn tài liệu............................................................................................ 9
7. Đóng góp của Luận văn ........................................................................... 9
8. Kết cấu của Luận văn ............................................................................ 10
Chƣơng 1: KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH CÁCH MẠNG MIỀN NAM
TRƢỚCHIỆP ĐỊNH PA-RI (1954-1973).................................................... 11
1.1. Tình hình cách mạng Việt Nam sau Hiệp định Giơ-ne-vơ ............. 11
1.2. Quá trình phát triển của cách mạng miền Nam trƣớc năm 1973 .. 17
TIỂU KẾT CHƢƠNG I ................................................................................ 31
Chƣơng 2: QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ GIẢI PHÓNG MIỀN NAM (19731975)................................................................................................................ 32
2.1. Chủ trƣơng chiến lƣợc của Đảng sau Hiệp định Pa-ri .................... 32
2.2. Chuẩn bị lực lƣợng cách mạng .......................................................... 38
2.3. Xây dựng hệ thống hậu cần và thiết kế chiến trƣờng ..................... 45
TIỂU KẾT CHƢƠNG II .............................................................................. 63
Chƣơng 3: QUÁ TRÌNH THĂM DÒ KHẢ NĂNG CỦA MỸ VÀ CHÍNH
QUYỀN SÀI GÒN SAU HIỆP ĐỊNH PA-RI ............................................. 64
3.1. Sự kiện Tống Lê Chân ........................................................................ 64
3.2. Sự kiện Watergate............................................................................... 69
3.3. Chiến dịch Phƣớc Long ...................................................................... 80
TIỂU KẾT CHƢƠNG III............................................................................. 96
KẾT LUẬN .................................................................................................... 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 101
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
Nhìn nhận được thời cơ đó, Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân, toàn quân
tiến hành ngay công tác chuẩn bị mọi mặt cho trận quyết chiến chiến lược
cuối cùng. Thực tiễn chiến tranh và cách mạng cho thấy, trong những thời
điểm bước ngoặt có tính chất quyết định thì đòi hỏi phải huy động tối đa mọi
khả năng nhân tài, vật lực của đất nước - đây là quy luật tất yếu để giành
thắng lợi.
Tại sao cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 chỉ diễn ra
nhanh chóng trong 55 ngày đêm, thay vì 2 năm như kế hoạch trước đó đã đề
ra? Tại sao đến năm 1975, chúng ta đã có điều kiện cần và đủ để tiến hành
giải phóng miền Nam? Đó là do nó được tích lũy từ những ngày tháng gian
lao trong những năm 1954-1959, từ kết quả chiến đấu trong những năm 1965,
1968, 1972... Nhưng trực tiếp mà nói, chiến thắng mùa Xuân năm 1975 có
nguồn gốc trực tiếp từ sự chuẩn bị chu đáo về mọi mặt trong những năm
1973-1974. Quá trình chuẩn bị đó bao gồm sự thống nhất về tư tưởng, quyết
tâm; Thăm dò khả năng của đối phương; Chuẩn bị lực lượng; Xây dựng hệ
thống hậu cần và thiết kế chiến trường... Đây là giai đoạn động viên toàn lực
tạo tiền đề quyết định để trên cơ sở đó, Trung ương Đảng vạch phương án
giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Đây có thể được xem là những
năm tháng bản lề, những năm tháng quyết định trực tiếp dẫn đến thắng lợi của
Đại thắng mùa xuân năm 1975.
Việc nghiên cứu về Quá trình chuẩn bị giải phóng miền Nam không chỉ
tái hiện bức tranh về những năm tháng hào hùng “cả nước ra quân, cả dân tộc
ra trận” trong giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến tranh mà còn góp phần làm
sáng tỏ sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thông qua đề tài
này, tác giả hi vọng góp phần bổ sung, cung cấp thêm tư liệu phục vụ cho
việc học tập, giảng dạy và nghiên cứu lịch sử, phục vụ công tác giáo dục
truyền thống cho thế hệ trẻ.
2
̣ ), tâ ̣p VIII (Toàn thắng), tâ ̣p IX (Nguyên nhân
thắ ng lơ ̣i, bài học lịch sử) đã tái hiện toàn bộ cuộc kháng chiến từ năm 19681975 tương đối tỉ mỉ , trong đó cố gắng làm nổi bật một số sự kiện trọng yếu,
3
đồng thời chú trọng phân tích làm rõ nguồn gốc, nguyên nhân cuộc chiến
tranh, sự đấu trí, đấu lực của hai bên tham chiến và rút ra nh ững bài học kinh
nghiệm.
Bô ̣ sách Lịch sử Nam Bộ kháng chiến (2 tâ ̣p) do Nhà xuấ t bản Chính trị
Quốc gia - Sự thật xuấ t bản chứa đựng nhi ều tư liệu lịch sử quý báu với sự
tham gia của nhiều nhà khoa học đầu ngành, cán bộ lãnh đạo qua các thời kỳ,
các cựu chiến binh, các nhân chứng lịch sử đã từng sống và chiến đấu tại
thành đồng Tổ quốc năm xưa. Trong những ngày tháng chia cắt đau thương
của dân tộc, Nam Bộ là biểu tượng của tinh thần quật khởi, “nơi đi trước về
sau”, “động thái của Nam Bộ kháng chiến không chỉ liên quan đến Nam Bộ,
mà mỗi động tĩnh của Nam Bộ đều dính đến động tĩnh chung của cả Việt
Nam”.
Các nhà nghiên cứu, học giả trong nước đã có nhiều công trình tái dựng
lại một số khía cạnh của quá trình chuẩn bị trong giai đoạn 1973-1975 như:
Nguyễn Đình Sắc, Công tác hậu cần chiến dịch Hồ Chí Minh xuân 1975,
Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1998; Hoàng Viên (ch.b), Cấn Hoàng Dụ,
Đặng Hương…, Lịch sử công binh 559 đường Trường Sơn, Nxb. Quân đội
nhân dân, Hà Nội, 1999; Phạm Huy Dương, Phạm Bá Toàn, Đại thắng mùa
xuân 1975 kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt
Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005; Nguyễn Đình Sắc, Lịch sử hậu
cần Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999;
Nguyễn Xuân Tú, Hậu phương miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ,
cứu nước (1954-1975), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009; Hồ Sĩ Thanh,
Chiến dịch Hồ Chí Minh trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, Nxb. Trẻ, Hồ
hành dinh trong mùa xuân toàn thắng, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2005; Đại tướng Hoàng Văn Thái, Những năm tháng quyết định, Nxb. Quân
đội nhân dân, Hà Nội, 2001; Đại tướngHoàng Minh Thảo, Chiến dịch Tây
Nguyên đại thắng, Nxb.Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004…Đây là những tài
5
liệu rất quý giá ghi lại những khoảnh khắc vàng của lịch sử dân tộc dưới góc
nhìn của người chỉ huy tối cao; là dòng hồi tưởng về những quyết sách chiến
lược của tập thể Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh - Bộ
thống soái tối cao - từ việc hoạch định chính sách đến việc chỉ đạo điều hành,
tổ chức thực hiện ở chiến trường và huy động sức mạnh của cả dân tộc để
nhanh chóng kết thúc chiến tranh một cách có lợi nhất.
Trên thế giới, có nhiều nhà nghiên cứu, nhiều tướng lĩnh viết về cuộc
chiến dài ngày nhất của nước Mỹ gây ra ở Việt Nam, tiêu biểu là công trình
của Henry Kissinger, Những năm tháng ở Nhà Trắng, 1980; Henbert Y.
Schandler, Sự nghiệp của một tổng thống bị đổ vỡ - Lyndon Johnson và Việt
Nam, 1982; Mc. Namara, Nhìn về quá khứ, Bi kịch và những bài học ở Việt
Nam, 1995; Sedgwick Tourison, Đội quân bí mật, cuộc chiến bí mật, Nxb
Công an nhân dân, 2005; James G. Zumwalt, Chân trần chí thép, Nxb. Tổng
hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2013; George C. Herring, Cuộc chiến dài ngày
của nước Mỹ và Việt Nam (1950-1975), 2004… Trong các tác phẩm này đã ít
nhiều đề cập đến vai trò của người Mỹ, các đời tổng thống Mỹ đã vật lộn như
thế nào với cuộc chiến tranh ở Việt Nam.
Cuốn sách Giải phẫu một cuộc chiến tranh của tác giả Gabriel Kolko
(người dịch: Nguyễn Tấn Cưu) do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản
năm 2003 đã làm nổi lên một số vấn đề rất cơ bản. Dựa vào những tài liệu
mới và sự khai thác những năm quan sát tại chỗ ở Oa-sinh-tơn, Pa-ri và những
chuyến thăm Việt Nam, Ga-bri-en Côn-cô đã phân tích chi tiết, sâu sắc các
năm 1973 ở mức độ nhất định.
7
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Thông qua việc trình bày một cách tương đối đầy đủ, có hệ
thống quá trình chuẩn bị toàn diện, chu đáo, khoa học trên tất cả các mặt; quá
trình thăm dò khả năng của Mỹ và chính quyền Sài Gòn sau Hiệp định Pa-ri;
Luận văn khẳng định vị trí, vai trò to lớn, trực tiếp của những năm tháng bản
lề 1973-1975 trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Đồng thời, thông qua các con số, sự kiện cụ thể, Luận văn góp phần tìm
hiểu cuộc chiến đấu anh dũng, tinh thần đoàn kết của nhân dân hai miền Bắc Nam trong giai đoạn 1973-1975. Qua đó, góp phần khẳng định vai trò lãnh
đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn cuối của cuộc
chiến tranh.
Nhiệm vụ:
- Khái quát tình hình và đặc điểm Việt Nam sau 1954-1973, về nhiệm
vụ chiến lược của cách mạng sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết.
- Phân tích quá trình chuẩn bị chu đáo về mọi mặt của cách mạng Việt
Nam sau Hiệp định Pa-ri: chuẩn bị về lực lượng, hậu cần, thiết kế chiến
trường.
- Làm rõ quá trình thăm dò khả năng của Mỹ và chính quyền Sài Gòn
trong những năm 1973-1975, qua đó khẳng định khả năng quay trở lại miền
Nam Việt Nam của Hoa Kỳ, khả năng tiếp tục cuộc chiến của chính quyền,
quân đội Sài Gòn.
- Đánh giá vai trò của giai đoạn 1973-1975 có tác động trực tiếp, là cơ
sở thực tiễn để Trung ương Đảng vạch kế hoạch giải phóng miền Nam Việt
Nam, thống nhất đất nước.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp
trong giai đoạn 1973-1975, thăm dò khả năng của Mỹvà chính quyền Sài Gòn
cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, giải phóng hoàn toàn miền Nam,
9
thống nhất đất nước. Trên cơ sở đó, Luận văn phục dựng một cách sinh động
sự phát triển của cuộc kháng chiến chống Mỹ, nêu rõ vịtrí, vai trò của những
năm 1973-1975 đối với thắng lợi cuối cùng giải phóng miền Nam.
- Dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác giảng dạy, học tập
trong các nhà trường và phục vụ công tác giáo dục truyền thống cách mạng.
8. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn
được chia làm 3 chương:
Chương I: Khái quát tình hình cách mạng miền Nam trước Hiệp định
Pa-ri (1954-1973).
Chương II: Quá trình chuẩn bị giải phóng miền Nam (1973-1975).
Chương III: Quá trình thăm dò khả năng của Mỹvà chính quyền Sài
Gòn sau Hiệp định Pa-ri.
10
Chƣơng 1
KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH CÁCH MẠNG MIỀN NAM TRƢỚC
HIỆP ĐỊNH PA-RI (1954-1973)
1.1. Tình hình cách mạng Việt Nam sau Hiệp định Giơ-ne-vơ
Ngày 7-5-1954, chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi.
Ngày 21-7-1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa
bình ở Đông Dương đựơc kí kết. Vĩ tuyến 17 trở thành giới tuyến quân sự tạm
đã lộ rõ nguyên hình “diều hâu”: thay chân Pháp, xúi giục chính quyền Diệm
phá hoại Hiệp định - không thực hiện tổng tuyển cử, thi hành chính sách thực
dân mới ở miền Nam nhằm chia cắt lâu dài đất nước ta như là một “mắt xích”
trong chiến lược “Ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản” ở châu Á. Có trong tay sức
mạnh về kinh tế, quân sự và bộ máy quân đội, chính quyền lớn mạnh, kẻ thù
thẳng tay đàn áp, khủng bố các phong trào đấu tranh của nhân dân, tàn sát cán
bộ, đảng viên, ráo riết đánh phá các cơ sở cách mạng, gây cho chúng ta nhiều
tổn thất nặng nề.
Âm mưu thâm độc của Mỹ đã được Bác Hồ dự liệu từ trước. Ngày 8-51954, trong “Thư khen ngợi bộ đội, dân công, thanh niên xung phong và đồng
bào Tây Bắc đã chiến thắng vẻ vang ở Điện Biên Phủ”, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã nhắc nhở: “Thắng lợi tuy lớn nhưng mới là bắt đầu. Chúng ta không nên vì
thắng mà kiêu, không nên chủ quan khinh địch” [91; tr. 272]. Còn về công tác
tư tưởng, Người đã chỉ đạo đồng chí Tố Hữu: “Chiến thắng Pháp rồi, phải
nhớ trước mắt ta còn có kẻ địch hùng mạnh hơn, hung ác hơn, đó là đế quốc
Mỹ ” [20; tr. 557].
Bên cạnh đó, một Đảng lãnh đạo hai cuộc cách mạng khác nhau ở hai
miền đất nước có chế độ chính trị khác nhau là đặc điểm lớn nhất của cách
12
mạng Việt Nam sau tháng 7-1954. Đặc điểm trên cùng những thuận lợi, khó
khăn chính là cơ sở để Đảng ta phân tích, hoạch định đường lối chiến lược
chung cho cách mạng cả nước trong giai đoạn mới.
Tình thế mới của đất nước đòi hỏi sự lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng phải
tỉnh táo, sáng suốt, nhạy bén, chủ động, linh hoạt và vững vàng, đặc biệt phải
nhanh chóng đưa ra được đường lối chống Mỹ, cứu nước phù hợp, hiệu quả.
Phát huy cao độ sức mạnh nội lực, tranh thủ được sự ủng hộ quốc tế, kết hợp
sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc
Mỹ, hoàn thành nhiệm vụ đấu tranh giành độc lập, tự do, thống nhất nước
Bắc thành căn cứ địa cách mạng của cả nước và là hậu phương cho cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của toàn dân tộc.
Ở miền Nam, do vẫn còn nằm dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè
lũ tay sai, Đảng chủ trương tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân. Mở đầu thời kỳ ta đấu tranh đòi Mỹ - Diệm thi hành nghiêm chỉnh Hiệp
định Giơ-ne-vơ 1954 về Việt Nam. Trong quá trình diễn biến, cuộc cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân phát triển thành cuộc chiến tranh nhân dân,
chiến tranh giải phóng dân tộc chống cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới
của Mỹ, nhằm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, phối hợp với cuộc
chiến đấu của nhân dân hai nước Lào và Cam-pu-chia... Hai miền đồng thời
thực hiện những nhiệm vụ, mục tiêu chung của cách mạng cả nước là đánh
Mỹ và bọn tay sai của chúng, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, hoàn
thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thống nhất đất
nước, tạo điều kiện để cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, góp phần bảo vệ hòa
bình ở Đông Nam Á và thế giới.
Trong việc thực hiện những nhiệm vụ, mục tiêu chung của cách mạng
cả nước, cách mạng mỗi miền có vị trí và vai trò khác nhau. Miền Bắc là hậu
phương nên có vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách
mạng cả nước và sự nghiệp thống nhất đất nước. Miền Nam là tiền tuyến có
14
vai trò quyết định trực tiếp trong việc đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ
và tay sai, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Hậu phương và tiền tuyến, cách mạng hai miền Bắc-Nam, do đó, có
quan hệ gắn bó với nhau, phối hợp với nhau, tác động qua lại và thúc đẩy lẫn
nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển.
Tiếp đó, tại Hội nghị lần thứ 7 (3-1955) và Hội nghị lần thứ 8 (8-1955),
Trung ương Đảng nhận định: Muốn chống đế quốc Mỹ và tay sai, củng cố
nhưng thắng lợi cuối cùng nhất định về ta.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15 (mở rộng) Ban Chấp hành
Trung ương khóa II là một Nghị quyết lịch sử rất quan trọng tạo nên bước
chuyển biến lớn đối với sự nghiệp cách mạng của nước ta, đáp ứng nguyện
vọng tha thiết của đồng bào hai miền Nam, Bắc là: giải phóng miền Nam, bảo
vệ miền Bắc, thống nhất nước nhà. Nghị quyết không chỉ mở đường cho cách
mạng miền Nam tiến lên, mà còn thể hiện rõ bản lĩnh độc lập tự chủ, sáng tạo
của Đảng ta trong những năm tháng khó khăn của cách mạng. “Nghị quyết 15
của Trung ương khóa II là sản phẩm trí tuệ của toàn Đảng, của tập thể Ban
Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị khóa II, xuất phát từ những định
hướng chiến lược đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ tháng 7-1954 khi hòa
bình vừa mới lập lại trên một nửa đất nước, có sự trực tiếp chỉ đạo công phu
của đồng chí Lê Duẩn, quyền Tổng Bí thư lúc bấy giờ, cùng một số đồng chí
trong Bộ Chính trị và trong Trung ương. Nghị quyết phản ánh đúng nguyện
vọng của đồng bào, đồng chí ở miền Nam nước ta lúc đó” [20; tr. 485].
Với Nghị quyết 15- bó đuốc soi đường, cách mạng miền Nam đã có một
bước chuyển căn bản về chất. Dưới ánh sáng của Nghị quyết, ngọn lửa cách
mạng âm ỉ suốt nhiều năm đã bùng lên thành phong trào Đồng khởi trên quy
mô rộng lớn, tạo nên một bước chuyển mới có tính chất nhảy vọt của cách
mạng miền Nam.Ngay sau khi Hội nghị, Trung ương Đảng, Chính phủ đã cho
16
lập Đoàn vận tải quân sự Trường Sơn (Đoàn 559), bắt đầu chi viện người và
vũ khí cho miền Nam.
Đại hội lần thứ III của Đảng họp tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 5 đến ngày
10-9-1960 đã hoàn chỉnh đường lối chiến lược chung của cách mạng Việt
Nam. Trên cơ sở phân tích thái độ các giai cấp ở miền Nam, Nghị quyết đã
xác định nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam ở miền Nam như sau: “Nhiệm
thúc đẩy quần chúng ở các đô thị, đặc biệt là Sài Gòn - Gia Định, đứng lên
đấu tranh mạnh mẽ.Đặc biệt, trận tiến công Tua Hai - căn cứ quân sự cấp
trung đoàn của quân đội Sài Gòn do cố vấn Mỹ chỉ huy vào rạng sáng ngày
21-1-1960, lực lượng vũ trang ta đã đánh thiệt hại và làm tan rã ba tiểu đoàn
địch; bắt sống, diệt và làm tan rã hai tiểu đoàn; bắt, giáo dục, thả tại chỗ 500
tù binh, thu hơn 1.200 súng các loại và nhiều đạn, phá hủy nhiều vũ khí và
phương tiện chiến tranh.Đây là một trong những trận đánh tiêu diệt lớn đầu
tiên của lực lượng vũ trang miền Nam.Chiến thắng Tua Hai đã mở đường để
cho quân dân Tây Ninh và các tỉnh miền Đông kết hợp nổi dậy và tiến công,
góp phần to lớn trong việc tạo ra thế mới và lực mới để quân dân miền Nam
tiếp tục giữ vững và phát triển thế tiến công chiến lược.
Phong trào “Đồng Khởi” đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của cách
mạng miền Nam, từ thế giữ gìn lực lượng chuyển sang thế tiến công, từ hình
thức đấu tranh chính trị là chính có lực lượng vũ trang hỗ trợ, chuyển sang kết
hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự, đưa đấu tranh quân sự từng
bước lên ngang hàng đấu tranh chính trị.
Qua cao trào đồng khởi của nhân dân, lực lượng vũ trang cách mạng
miền Nam phát triển nhanh chóng; Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam ra
đời (ngày 20-11-1960) đã chủ trương đoàn kết toàn dân, đấu tranh chống đế
quốc Mỹ xâm lược và chính quyền Ngô Đình Diệm, thành lập chính quyền
cách mạng dưới hình thức những ủy ban nhân dân tự quản. Từ miền Bắc,
18
tuyến đường huyết mạch Trường Sơn - Hồ Chí Minh, đường biển hình thành
và phát triển. Cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng chuyển sang thế
tiến công.
Thắng lợi của phong trào “Đồng Khởi” đã làm thất bại cuộc chiến
“chiến tranh một phía” của Eisenhower, đẩy chính quyền Ngô Đình Diệm vào
bằng 3 mũi giáp công, trên 3 vùng chiến lược; đẩy mạnh chiến tranh du kích
tiêu hao, tiêu diệt địch, đánh bại các chiến thuật trực thăng vận, thiết xa vận
của Mỹ và quân đội Sài Gòn, hỗ trợ cho nhân dân đấu tranh chống càn quét
và phá ấp chiến lược.
Được sự chi viện ngày càng lớn của miền Bắc, Quân Giải phóng miền
Nam Việt Nam phát triển lớn mạnh. Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam và
các lực lượng vũ trang miền Nam đã tổ chức các trận đánh, chiến dịch lớn,
đánh bại chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận” của Quân đội Sài Gòn và
Mỹ. Điển hình là trận Ấp Bắc (tháng 1-1963), trận Cái Nước-Đầm Dơi (tháng
8-1963), trận pháo kích Biên Hòa (tháng 10-1964); các chiến dịch: Bình Giã
(từ tháng 12-1964 đến tháng 1-1965), Đồng Xoài (từ tháng 5-1965 đến tháng
7-1965)... Thắng lợi về quân sự, đặc biệt là của các trận đánh, chiến dịch,
cùng với sự đấu tranh chính trị trên toàn miền Nam từ năm 1961-1965, ta đã
làm thất bại hoàn toàn chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ.
Để chi viện cho miền Nam, Bộ Quốc phòng thành lập Đoàn vận tải biển
759. Trong thời gian từ năm 1961 đến tháng 1-1965, Đoàn 759 đã vận chuyển
hàng nghìn tấn vũ khí, đạn dược, hàng quân sự chi viện cho miền Nam; góp
phần bảo đảm vũ khí cho lực lượng vũ trang miền Nam mở các chiến dịch,
các trận đánh lớn. Trên tuyến vận tải bộ, Đoàn 559 được tăng quân số, thành
lập Đoàn 763 mở đường Trường Sơn ở Hạ Lào. Từ năm 1961, ta tổ chức các
đoàn cán bộ quân sự với số lượng mỗi đoàn hàng trăm người theo tuyến
đường Trường Sơn vào chiến trường Nam Bộ và Nam Trung Bộ tăng cường
cho Ban Quân sự Miền và các quân khu ở miền Nam.
20