Luận văn Thạc sĩ Lịch sử Việt Nam: Quá trình phân định biển giữa Việt Nam và Trung Quốc ở Vịnh Bắc Bộ (1993-2000) - Pdf 63

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐÀO XUÂN TUẤN

QUÁ TRÌNH PHÂN ĐỊNH BIỂN GIỮA VIỆT NAM
VÀ TRUNG QUỐC Ở VỊNH BẮC BỘ (1993-2000)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM

HÀ NỘI, 2018


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐÀO XUÂN TUẤN

QUÁ TRÌNH PHÂN ĐỊNH BIỂN GIỮA VIỆT NAM
VÀ TRUNG QUỐC Ở VỊNH BẮC BỘ (1993-2000)

Ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 8.22.90.13

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN THANH MINH

HÀ NỘI, 2018


LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

COC

Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông

DOC

Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông, là văn kiện
được ký kết năm 2002 giữa Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á và Trung Quốc

UNCLOS 1982

Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982

CV

Công suất


DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH
Hình 1.1. Sơ đồ Vịnh Bắc Bộ trước khi phân định ....................................... 34
Hình 1.2. Sơ đồ đường phân định Vịnh Bắc Bộ ở khu vực cửa sông Bắc Luân
......................................................................................................................... 41
Hình 1.3. Sơ đồ đường phân định Vịnh Bắc Bộ Việt Nam – Trung Quốc ... 43

1


biển giữa Việt Nam và Trung Quốc ở trong Vịnh Bắc Bộ sẽ có những đóng
góp nhất định về mặt lý luận và thực tiễn, góp phần vào công tác nghiên cứu,
giảng dạy về quá trình triển khai chính sách phân định biển của Việt Nam
trong tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế. Với những lý do trên, tôi chọn
đề tài Quá trình phân định biển giữa Việt Nam và Trung Quốc ở Vịnh Bắc
Bộ(1993-2000) làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Lịch sử Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây những nội dung liên quan đến quá trình
phân định biển giữa Việt Nam và Trung Quốc ở Vịnh Bắc Bộ đã và đang thu
hút nhiều cơ quan, ban ngành, các nhà lãnh đạo và quản lý, các học giả trong
và ngoài nước tập trung nghiên cứu ở nhiều góc độ và cách tiếp cận khác
nhau. Tiêu biểu có các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài sau đây:
2.1.1. Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến phân định biển nói
chung
Luận văn tốt nghiệp đại học của Học viên Nguyễn Quang Văn chuyên
ngành Luật kinh tế, Khoa Luật, Viện Đại học Mở Hà Nội, năm 2005 với đề
tài: Một số vấn đề cơ sở pháp lý về phân định ranh giới trên biển Vịnh Bắc Bộ
và vùng biển Tây Nam. Tác giả đã nghiên cứu những cơ sở pháp lý để phân
định ranh giới trên biển Vịnh Bắc Bộ và vùng biển Tây Nam trên cơ sở Công
ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và các điều ước quốc tế mà
Việt Nam ký kết với các quốc gia liên quan trong khu vực.
Luận văn Thạc sĩ luật học của Lê Thanh Hoàn với đề tài: Vấn đề phân
định biển theo Công ước Luật biển năm 1982, thực tiễn phân định biển của
một số quốc gia trên thế giới và lời giải cho vấn đề tranh chấp tại Biển Đông.
Chuyên ngành Luật quốc tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2013. Tác giả đã
luận giải, nghiên cứu đề cập đến vấn đề tìm hiểu nguyên tắc, phương pháp
2



khảo về giải quyết tranh chấp lãnh thổ giữa các quốc gia láng giềng thông qua
cơ quan tài phán quốc tế.
Luận văn Thạc sĩ Luật học của Đỗ Thị Hằng với đề tài: Vấn đề phân
định biên giới trên biển giữa Việt Nam và Campuchia dưới góc độ luật pháp
quốc tế. Chuyên ngành Luật quốc tế, Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2015:
Tác giả nghiên cứu vấn đề phân định biên giới trên biển giữa Việt Nam và
Campuchia theo một cách tiếp cận và hướng nhìn mới là đi thẳng vào vấn đề
áp dụng cơ sở pháp lý để giải quyết triệt để vấn đề phân định biên giới trên
biển giữa Việt Nam và Campuchia dưới góc độ luật pháp quốc tế trong đó có
phân tích, so sánh để tìm ra một cách giải quyết đạt hiệu quả nhất và đưa ra đề
xuất một cơ chế riêng dựa trên các ưu điểm và hạn chế của tình hình hiện có .
Bài viết Quá trình phân định biển của Việt Nam với các nước láng
giềng của Tiến sĩ Nguyễn Thanh Minh đăng trên .
Tác giả đưa ra quá trình nghiên cứu phân định biển giữa Việt Nam với các
quốc gia trong khu vực Biển Đông, trong đó có phần đề cập đến việc phân
định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam với Trung Quốc. Tác giả đã phân tích và
luận giải quá trình phân định biển giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc sau
khi bình thường hóa quan hệ vào năm 1991. Hai nước đã vận dụng những quy
định của UNCLOS năm 1982 làm cơ sở cho việc phân định Vịnh Bắc Bộ và
cùng nhau ký kết Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ vào ngày 25/12/2000.
Bài viết Phân định biển và hợp tác cùng phát triển của tác giả Trần
Hữu Duy Minh đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Số 2 (358), tháng
02/2018, tr. 62 – 67. Tác giả đã phân tích cơ sở pháp lý về mối quan hệ giữa
phân định biển và hợp tác cùng phát triển là hai giải pháp chính mà các quốc
gia có vùng biển chồng lấn có thể lựa chọn, trong đó bài viết có đưa ra ví dụ
điển hình về hợp tác cùng phát triển sau khi ký kết hiệp định phân định giữa

4


Cuốn sách Việt Nam Quốc hiệu và Cương vực. Hoàng Sa - Trường Sa
(2013), của nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, Nhà xuất bản Trẻ, thành phố
Hồ Chí Minh. Tác giả đã khái quát, phân tích và luận giải chiều dài lịch sử
hơn 4000 năm của dân tộc Việt Nam, từ thuở Vua Hùng dựng nước đến nay.
Cuốn sách Tìm kiếm giải pháp hòa bình và công lý ở Biển Đông, do
PGS.TS. Đặng Đình Quý (Chủ biên), Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội, năm
2015. Cuốn sách gồm 3 phần, tập hợp 16 bài nghiên cứu của các tác giả, chủ
yếu tập trung phân tích và luận giải các vấn đề chính yếu liên quan đến tranh
chấp chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên một số
vùng biển đảo ở khu vực Biển Đông.
Cuốn sách Người Việt với Biển, do GS.TS.Nguyễn Văn Kim (Chủ
biên), Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội năm 2011. Cuốn sách tổng hợp 24 bài
nghiên cứu của các chuyên gia, học giả nghiên cứu về Biển Đông. Dưới góc
độ nghiên cứu lịch sử, cuốn sách Người Việt với biển đã tập trung khai thác và
lý giải mối quan hệ giữa đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam với thế giới
bên ngoài qua con đường biển. Cơ tầng văn hóa biển được đắp xây từ những
huyền thoại về thời lập quốc, những tín niệm tâm linh cho tới những câu
chuyện dân gian đời thường cùng những ghi chép được tích lũy qua nhiều
thời đại đã dần dần tạo nên ý thức về biển ngày một rộng lớn, sâu sắc. Các
công trình khảo cổ học đã phát hiện từ lòng đất những di vật thời tiền – sơ sử
của các vùng ven biển, các vùng biển đảo dọc theo chiều dài đất nước từ Bắc
đến Nam, tỏa rộng ra biển.
Cuốn sách Một số vấn đề lý luận và thực tiễn nổi bật của Trung Quốc
trong 10 năm đầu thế kỷ XXI, do GS.TS.Đỗ Tiến Sâm (Chủ biên), Nhà xuất
bản Từ điển bách khoa, Hà Nội năm 2012. Cuốn sách được bố cục thành 5
chương, trong đó Chương 1, tập trung phân tích về tình hình thế giới, khu vực
và Trung Quốc thời gian cuối thế kỷ XX, đồng thời xem đó là bối cảnh lịch sử
6



Thứ hai, nhóm công trình nghiên cứu về vai trò quan trọng của biển nhìn
từ góc độ an ninh, chính trị quốc tế, xem xét các khả năng xảy ra xung đột và
kiểm soát xung đột trên biển. Đánh giá nguy cơ của chúng đối với các quốc
gia hữu quan, khu vực và quan hệ quốc tế.
Thứ ba, nhóm công trình nghiên cứu từ góc độ kinh tế biển nhằm tìm
hiểu và đánh giá tiềm năng của biển, khả năng khai thác, phát triển kinh tế
biển trong khu vực Biển Đông về vận tải biển và tài nguyên biển, đặc biệt là
nguồn tài nguyên dầu mỏ, khí đốt và hải sản.
Những nội dung liên quan đến đề tài luận văn chưa đề cập và nghiên cứu một
cách toàn diện và có hệ thống về quá trình phân định biển giữa Việt Nam với
Trung Quốc trong Vịnh Bắc Bộ. Do đó, còn có một số khoảng trống nhất định
trong luận văn mà các công trình chưa được đề cập đến, hoặc có đề cập nhưng
nghiên cứu chưa sâu, chưa thể hiện hết nội dung của quá trình phân định biển
giữa Việt Nam và Trung Quốc ở Vịnh Bắc Bộ.
Tóm lại, tất cả những công trình nghiên cứu khoa học của các tổ chức
và cá nhân trong nước và ngoài nước nêu trên đều là nguồn tư liệu quý và bổ
ích cho tác giả luận văn tham khảo, kế thừa trong quá trình nghiên cứu. Nhất
là những nội dung nghiên cứu có liên quan trực tiếp ít nhiều đến nội dung
phân định biển đã gợi mở cho tác giả có cái nhìn tương đối tổng quan về
chính sách biển Việt Nam và vấn đề về phân định biển giữa Việt Nam với các
quốc gia co liên quan trong khu vực, trong đó có nội dung phân định biển
giữa Việt Nam – Trung Quốc ở Vịnh Bắc Bộ.
2.1.4. Những nội dung luận văn cần tiếp tục cùng giải quyết
Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa kết quả nghiên cứu của những công trình
khoa học kể trên tôi lựa chọn đề tài quá trình phân định biển giữa Việt Nam
và Trung Quốc ở Vịnh Bắc Bộ (1993 – 2000) làm đề tài luận văn tốt nghiệp.
Nghiên cứu đề tài này của tôi góp phần làm rõ một số nội dung sau:
8



Đánh giá những thành tựu đạt được trong quá trình phân định biển ở
Vịnh Bắc Bộ giữa hai nước. Phân tích nguyên nhân của những thành tựu, ý
nghĩa lịch sử, trên cơ sở đó đúc rút những bài học kinh nghiệm vào việc phân
định biển trong các giai đoạn tiếp theo của Nhà nước Việt Nam với các quốc
gia có liên quan trong khu vực Biển Đông.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quá trình phân định biển giữa
Việt Nam và Trung Quốc ở Vịnh Bắc Bộ từ năm 1993 đến năm 2000.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian: Luận văn giới hạn thời gian nghiên cứu quá trình
phân định biển giữa Việt Nam với Trung Quốc ở Vịnh Bắc Bộ từ năm 1993,
sau khi hai nước ký thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề
biên giới lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc đến khi Hiệp định phân định
lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa Việt Nam và Trung
Quốc được ký kết năm 2000.
Phạm vi không gian: Luận văn đi sâu nghiên cứu quá trình phân định
biển giữa Nhà nước Việt Nam và Trung Quốc ở Vịnh Bắc Bộ từ năm 1993
đến năm 2000.
Phạm vi nội dung: Luận văn nghiên cứu bối cảnh lịch sử, cơ sở và nội
dung quá trình phân định biển giữa Việt Nam và Trung Quốc từ năm 1993
đến năm 2000: Đó là quá trình đàm phán có những thuận lợi và khó khăn về
quan điểm khác nhau của hai bên về chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài
phán quốc gia, ý nghĩa của hiệp định phân định biển.
Trên cơ sở đó rút ra một số nhận xét về thành tựu, về nguyên nhân của
thành tựu và những kinh nghiệm của việc phân định biển.

10



khẳng định vai trò của Nhà nước Việt Nam đối với quá trình phân định biển
giữa Việt Nam và Trung Quốc ở Vịnh Bắc Bộ từ năm 1993 đến năm 2000.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn là công trình nghiên cứu tương đối chuyên sâu và có hệ thống
đối với quá trình phân định biển trong Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung
Quốc. Qua đó, rút ra ý nghĩa lịch sử và một số bài học kinh nghiệm thực tiễn
phục vụ việc triển khai chính sách phân định biển giữa Việt Nam với các quốc
gia hữu quan trong thời gian sau này.
Luận văn là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy về bảo
vệ chủ quyền biển đảo quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội các vùng ven biển,
các lĩnh vực kinh tế biển cũng như mở rộng hợp tác quốc tế trên biển của Nhà
nước Việt Nam, nhất là việc sử dụng nội dung luận văn trong việc nghiên
cứu, giảng dạy môn lịch sử ở cấp phổ thông về chủ quyền biển đảo.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục.. luận văn được chia thành ba
chương như sau:
Chương 1: Bối cảnh lịch sử về phân định biển ở Vịnh Bắc Bộ.
Chương 2: Quá trình đàm phán và kết quả phân định ở Vịnh Bắc Bộ.
Chương 3: Ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm.

12


Chương 1
BỐI CẢNH LỊCH SỬ VỀ PHÂN ĐỊNH BIỂN VỊNH BẮC BỘ
1.1. Khái quát vùng biển Vịnh Bắc Bộ
1.1.1. Sơ lược về lịch sử Vịnh Bắc Bộ
Kinh đô của nước Đại Việt từ triều đại nhà Lý được gọi là Thăng Long,
năm 1397 thành Thăng Long được gọi là Đông Đô. Khi nhà Minh xâm lược

với diện tích khoảng 126.250 km², Vịnh Bắc Bộ trải rộng từ khoảng 17010’
đến 21055’ độ vĩ Bắc, 105036’ đến 109055’ độ kinh Đông; chiều ngang nơi
rộng nhất khoảng 310km và nơi hẹp nhất khoảng 220 km; có hai cửa ra vào
Vịnh: Một là, eo biển Quỳnh Châu nằm giữa bán đảo Lôi Châu và đảo Hải
Nam rộng khoảng 35 km (19 hải lý) và hai là, cửa chính từ đảo Cồn Cỏ (Việt
Nam) tới mũi Oanh Ca (đảo Hải Nam – Trung Quốc) rộng khoảng 207 km
(112 hải lý) [10,tr.2].
Phần Vịnh phía Việt Nam tập trung khoảng 2312 đảo ven bờ với thắng
cảnh Vịnh Hạ Long nổi tiếng. Phần Vịnh phía Trung Quốc chỉ có khoảng vài
trăm đảo đá nhỏ ven bờ, lớn nhất là đảo Vị Châu ở Đông Bắc vịnh có diện
tích rộng trên 30km2, cách đất liền Trung Quốc khoảng 35km (19 hải lý). Ở
giữa Vịnh có đảo Bạch Long Vĩ thuộc Việt Nam. Đảo rộng khoảng 2,5km2,
nằm cách bờ Việt Nam 110km (59 hải lý) và bờ biển đảo Hải Nam (Trung
Quốc) khoảng 130 km (70 hải lý).
Trong phạm vi đó, chiều dài bờ vịnh bên phía Việt Nam là 763 km,
chạy qua 10 tỉnh, thành phố: Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định,
Ninh Bình,Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị. Bờ
biển phía Trung Quốc dài 695 km, chạy qua 2 tỉnh Quảng Tây và Hải Nam.
Phía Việt Nam có hàng nghìn đảo ven bờ, đặc biệt có đảo Bạch Long Vĩ nằm
gần giữa Vịnh. Phía Trung Quốc chỉ có một số ít đảo nhỏ ở phía Đông Bắc
14


Vịnh như các đảo Vị Châu,Tà Dương. Vịnh Bắc Bộ tương đối nông (chiều
sâu chưa tới 60 m). Sông Hồng là con sông chính chảy vào Vịnh này.
Thành phố Hải Phòng và thành phố Vinh (Nghệ An) của Việt Nam và
Bắc Hải ở tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc là những thành phố có hải
cảng chính trong vịnh. Các đảo nhỏ khác trong vịnh gồm đảo Bạch Long
Vĩ, Cát Bà của Việt Nam và Vị Châu, Tà Dương của Trung Quốc, đảo Hải
Nam của Trung Quốc là bờ phía Đông của Vịnh Bắc Bộ.

Pháp thì nhà Thanh (Trung Quốc) can thiệp.Vì Pháp muốn kiểm soát vùng
đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam và con đường nối từ Hà Nội đến tỉnh Vân
Nam của Trung Quốc. Nhà Thanh ngược lại muốn ngăn cản sự hiện diện quân
sự của Pháp ở Bắc Kỳ, vì điều này sẽ trực tiếp uy hiếp đến vùng biên giới
phía Nam của họ. Sâu xa hơn nữa, nhà Thanh muốn nhân cơ hội này để chiếm
đoạt hoặc là duy trì ảnh hưởng của mình đối với Việt Nam, vốn là thuộc quốc
truyền thống của Trung Quốc. Vậy nên mâu thuẫn giữa Pháp –Thanh (Trung
Quốc) về vấn đề Việt Nam là điều không tránh khỏi. Chiến tranh Pháp –
Thanh (Trung Quốc) đã diễn ra từ tháng 9/1884 tới tháng 6/1885 và kết thúc
bằng bản Hiệp ước Thiên Tân được kí ngày 09/6 /1885, hiệp ước gồm 10 điều
khoản được ký giữa chính phủ Pháp và nhà Thanh (Trung Quốc) và hai bên sẽ
bắt đầu việc phân định đường biên giới giữa Bắc Kỳ và Trung Quốc. Theo đó
trong điều 3 của Hiệp ước Thiên Tân 1885 với nội dung: Trong thời hạn sáu
tháng sau khi kí hòa ước này, hai bên sẽ phái người đến khảo sát tại chỗ biên
giới giữa Bắc Kỳ và Trung Quốc; chỗ nào cần thì sẽ trồng cột mốc giới ở nơi
dễ trông thấy. Trong trường hợp hai bên không thể đồng ý về nơi lập cột mốc
giới hoặc về điểm nào khác thì mỗi bên phải trình lên chính phủ nước mình
định liệu [35,tr.9]. Đó là cơ sở pháp lý để chính phủ Pháp và nhà Thanh tiến
hành việc hoạch định biên giới Việt – Trung (trong các văn bản hồi đó thường
gọi là Biên giới Trung Quốc – Bắc Kỳ) [35,tr.11].
16


Quá trình hoạch định biên giới Việt Nam – Trung Quốc của Ủy ban Liên
hợp giữa Pháp và Trung Quốc diễn ra từ tháng 01/1886 đến tháng 4/1887,
trong đó việc hoạch định đường biên giới trên Vịnh Bắc Kỳ được tiến hành ở
Móng Cái từ ngày 31/3/1883 đến ngày 08/4/1887[35,tr.11].
Công ước hoạch định biên giới giữa Trung Quốc và Bắc Kỳ ký ngày
26/6/1887 là một văn bản pháp lý, phân định đường biên giới Bắc Kỳ - Trung
Quốc trên đất liền và phân định hải phận của Bắc Kỳ - Trung Quốc trong

biển Thanh Hóa (cách bờ biển khoảng 06 hải lý) nằm trong lãnh hải của Việt
Nam [74]. Sau khi tạo dựng Sự kiện Vịnh Bắc Bộ, không quân Mĩ đã mở màn
chiến dịch đánh phá miền Bắc Việt Nam. Chiến thắng của Hải quân Việt Nam
ngày 02 và ngày 05/8/1964 trong kháng chiến chống Mĩ có ý nghĩa lịch sử to
lớn mở ra trang sử hào hùng của Quân chủng Hải quân Việt Nam.
Vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ, mà cụ thể là phân định lãnh hải, vùng
đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong vịnh giữa Việt Nam và Trung Quốc
chỉ được đặt ra sau khi có sự phát triển tiến bộ của Luật biển quốc tế từ giữa
những năm 50 của thế kỷ XX trở lại đây. Theo quy định của Luật Biển quốc
tế hiện đại, quốc gia ven biển được hưởng lãnh hải rộng tối đa 12 hải lý, vùng
đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý và thềm lục địa rộng tối đa 350 hải lý tính
từ đường cơ sở hoặc cách đường đẳng sau 2500 m một khoảng cách không
quá 100 hải lý. Do bờ biển hai nước vừa kế cận vừa đối diện nhau, nơi rộng
nhất không đến 200 hải lý, nên các vùng biển và thềm lục địa của hai nước
trong Vịnh đều bị chồng lấn lên nhau do đó cần phải được phân định để xác
định rõ ràng biên giới lãnh hải cũng như ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và
thềm lục địa giữa hai nước.
Thực tế cho thấy, trước đây do chưa có đường biên giới và ranh giới
biển rõ ràng trong Vịnh Bắc Bộ nên giữa hai nước thường xảy ra các vụ việc
tranh chấp phức tạp về đánh bắt hải sản và thăm dò khai thác dầu khí trong
18


một thời gian dài, gây bất ổn định và ảnh hưởng không tốt đến quan hệ hai
nước, làm hạn chế đến việc khai thác bền vững và hiệu quả tiềm năng của
vịnh, ảnh hưởng tới môi trường hòa bình và ổn định trong khu vực. Do đó,
việc Việt Nam và Trung Quốc tiến hành đàm phán giải quyết vấn đề phân
định Vịnh Bắc Bộ để xác định rõ ràng đường biên giới lãnh hải, ranh giới
vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa là nhu cầu tất yếu đối với công cuộc
xây dựng và phát triển của mỗi nước, cũng như để góp phần vào việc tăng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status