BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
----------------------------
HOÀNG THẾ GIÁP
SỰ THAY ĐỔI VỀ ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH
VÀ DÂN CƯ Ở HUYỆN ĐÔ LƯƠNG (NGHỆ AN)
TỪ NĂM 1963 ĐẾN NĂM 2011
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã Số: 60.22.54
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. HOÀNG VĂN LÂN
Nghệ An, 2012
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, trong quá trình nghiên cứu, tôi đã nhận
được sự giúp đỡ tận tình của PGS. Hoàng Văn Lân. Tôi xin chân thành bày tỏ
lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy.
Nhân dịp này, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô
giáo khoa Lịch sử, khoa đào tạo Sau đại học trường Đại học Vinh, Trung tâm
Thư viện Nguyễn Thúc Hào, Thư viện tỉnh Nghệ An, Cục Thống kê Nghệ An,
UBND huyện Đô Lương, Trung tâm lưu trữ UBND tỉnh Nghệ An…gia đình
và bạn bè đã cung cấp tư liệu, động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi
cho tôi hoàn thành luận văn này.
Quá trình thực hiện luận văn tuy đã cỗ gắng hết sức, song không thể
THPT
:
Trung học phổ thông
TW
:
Trung ương
UBND
:
Ủy ban nhân dân
DSKHHGĐ :
Dân số kế hoạch hóa gia đình.
CP
:
Chính phủ
NĐ
Trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta từ thời
đại Hùng Vương tới thời đại hồ Chí Minh, hầu hết các địa giới hành chính
giữa các trấn, lộ, đạo, phủ, huyện, làng, xã,…đều có những sự biến đổi nhất
định, ít có sự ổn định bền vững. Trong khi đó, việc thay đổi địa giới hành
chính lại gắn với nhiều biến đổi về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh
quốc phòng của cả một cộng đồng dân cư trong suốt thời gian dài. Do vậy,
việc nghiên cứu về những thay đổi, điều chỉnh địa giới hành chính của các
trấn, lộ, phủ, huyện, làng, xã,…là một đề tài có giá trị cho việc nghiên cứu về
lịch sử dân tộc nói chung, lịch sử vùng miền, tỉnh và huyện nói riêng.
Đặc biệt, từ trước tới nay việc nghiên cứu sự thay đổi địa giới hành
chính và dân cư của huyện Đô Lương chưa được nghiên cứu một cách cụ thể.
Vì điều kiện lịch sử riêng của nó: trước năm 1963, Đô Lương thuộc huyện
Anh Sơn, đến ngày 19/04/ 1963 theo Quyết định 52/QĐ - CP của Hội đồng
Chính Phủ, Đô Lương được chia tách. Vì thế, việc nghiên cứu địa giới hành
chính và dân cư của huyện còn một cách chung chung. Do đó, việc nghiên
cứu về “sự thay đổi về địa giới hành chính và dân cư ở huyện Đô Lương từ
1963 đến năm 2011” là góp phần vào việc nghiên cứu một vấn đề còn nhiều
khoảng trống trong lịch sử dân tộc nói chung và lịch sử huyện Đô Lương nói
riêng .
1.2. Về mặt thực tiến
Từ năm 1963 đến năm 2011, phạm vi không gian địa lý của huyện cũng
có nhiều sự thay đổi trong bối cảnh lịch sử của tỉnh nhà nói riêng và đất nước
5
nói chung. Đặc biệt trải qua cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta chống
lại đế quốc Mỹ xâm lược và trong công cuộc đổi mới hiện nay. Những biến
động và thay đổi dồn dập đó của lịch sử huyện nhà gắn liền với lịch sử dân
tộc nói chung và tỉnh Nghệ An nói riêng. Đề tài góp phần vào việc nghiên cứu
và nghị quyết của BTV Tỉnh ủy Nghệ An, các địa phương trong tỉnh đang tích
cực viết lịch sử Đảng bộ xã, lịch sử xã, nhưng vần đề biến đổi về địa giới
hành chính và dân cư của các địa phương vẫn chưa được quan tâm chú ý đúng
mức. Cho đến nay, vẫn chưa có một công trình chuyên sâu nào nghiên cứu về
đề tài: “Sự thay đổi về địa giới hành chính và dân cư ở huyện Đô Lương từ
năm 1963 đến năm 2011” một cách đầy đủ và có hệ thống. Trong nhiều năm
gần đây, cũng đã có những công trình nghiên cứu về huyện Đô Lương ở
những góc độ khác nhau đã đề cập đến một số khía cạnh của vần đề này.
Cuốn sách “Lịch sử Đảng bộ huyện Đô Lương” tập I (1930 - 1963),
NXB Nghệ An, “Lịch sử Đảng bộ huyện Đô Lương” tập II (1963 - 2005),
NXB Nghệ An của Ban chấp hành Đảng bộ huyện Đô Lương, đã dành một
phần nhỏ đề cập về lãnh thổ địa giới hành chính và dân cư của huyện Đô
Lương và sự tách, nhập thành lập một số xã mới trong huyện trong các giai
đoạn phát triển của địa phương cũng như của dân tộc.
Một số bài viết tìm hiểu về di tích lịch sử văn hóa, về truyền thống đấu
tranh,...và những chuyển biến kinh tế - xã hội ở Đô Lương của những học giả
và các con em địa phương trong những năm gần đây như:
1.Nguyễn Trí Nghị (2005), Tìm hiểu một số di tích lịch sử - văn hóa ở
huyện Đô Lương - Nghệ An, Đại học Vinh.
2.Nguyễn Thị Hằng (2009), Tìm hiểu một số dòng họ tiêu biểu ở Đông
Sơn, Đô Lương, Đại học Vinh.
3.Nguyễn Thị Kim Oanh (2006), Tìm hiểu một số nghề thủ công truyền
thống ở Đô Lương - Nghệ An, Đại học Vinh.
4.Trần Thị Quyên (2007), Đảng bộ Đô Lương với quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế thời kỳ đổi mới (1986 - 2006), Đại học Vinh.
7
5.Mai Thị Lan Phương (2009), Cuộc vận động giải phóng dân tộc ở Đô
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tư liệu
Chúng tôi đã tiến hành thu thập, sưu tầm, các nguồn tư liệu từ: các nghị
quyết, nghị định của Chính phủ, của tỉnh Nghệ An; các đề án xây dựng tỉnh
Nghệ An cũng như của Ủy ban nhân dân huyện Đô Lương; các phòng ban
huyện ủy, ủy ban nhân dân huyện như: phòng thống kê, phòng lưu trữ, phòng
dân số; tài liệu từ các thư viện như: thư viện Quốc gia, thư viện tỉnh Nghệ An,
thư viện Đại học Vinh, thư viện huyện Đô Lương; các Bảo tàng; tài liệu từ
các phòng ban của cục Thống kê tỉnh Nghệ An; tài liệu ở các xã; một số công
trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu lịch sử, dân tộc học, xã hội học, còn
phải kể đến nguồn tài liệu từ các cuốn Gia phả của các dòng họ trên địa bàn
huyện,.. có liên quan đến đề tài đã được công bố.
Ngoài ra chúng tôi còn tham khảo thêm một số luận văn tốt nghiệp cao
học, thạc sỹ chuyên ngành lịch sử Việt Nam đã được bảo vệ tại Đại học Vinh,
Đại học sư phạm Hà Nội có nội dung liên quan đến đề tài, một số bài báo, báo
cáo tổng kết hàng năm của huyện, xã về tình hình kinh tế, xã hội, văn hoá,
giáo dục, y tế, an ninh quốc phòng... cũng được chúng tôi tham khảo để đối
chiếu, so sánh.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng nhiều phương pháp phục vụ
cho nghiên cứu chuyên nghành như: Đối chứng, so sánh, thống kê, xử lý tư
liệu. Từ đó có cơ sở để nhìn nhận, phân tích, đánh giá vấn đề. Đồng thời sử
dụng hai phương pháp truyền thống quan trọng là phương pháp lôgic, phương
pháp lịch sử để mở rộng nhiều nguồn tư liệu, sự kiện lịch sử với mục đích
khôi phục lại bức tranh quá khứ đúng như nó đã tồn tại. Sau cùng là tổng hợp,
khái quát để đưa ra những đánh giá chung nhất, khách quan và chính xác
nhất.
9
10
NỘI DUNG
Chương 1
SỰ THAY ĐỔI ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH Ở HUYỆN ĐÔ LƯƠNG
TỪ NĂM 1963 ĐẾN NĂM 2011
1.1. Vài nét về địa giới hành chính và dân cư ở vùng đất Đô Lương trước
khi thành lập huyện
1.1.1. Địa giới hành chính, tên gọi
Đô Lương là huyện nằm về phía bắc thành phố Vinh, Phía Đông giáp
huyện Nam Đàn, Nghi Lộc, phía Bắc giáp huyện Yên Thành, phía Tây giáp
huyện Tân Kỳ, Anh Sơn và phía Nam giáp huyện Thanh Chương.
Địa hình của Đô Lương nghiêng dần về Đông. Diện tích đất trồng trọt
của huyện được phân bố trên các vùng: bán sơn địa, vùng lúa, vùng ven bãi
sông Lam và các vùng kinh tế mới. Vùng rừng đồi và ven theo các bãi sông
rất thuận lợi cho việc trồng các loại cây hoa màu, cây lâu năm, đặc biệt là cây
công nghiệp. Ruộng đất phì nhiêu được trải ra thành cánh đồng vừa rộng, vừa
bằng phằng lại có hệ thống tưới tiêu khá tốt, nên rất thuận lợi cho việc đẩy
mạnh thâm canh tăng năng suất. Đô Lương trở thành một trong những vùng
trọng điểm lúa của tỉnh Nghệ An.
Sông Lam là con sông lớn nhất của tỉnh Nghệ An, bắt nguồn từ đất Lào
chảy qua các huyện vùng thượng rồi đổ về Đô Lương, chia huyện thành hai
phía tả ngạn và hữu ngạn. Ngoài ra, Đô Lương còn có các con sông nhỏ phụ
lưu của sông Lam chảy từ nhiều vùng khác nhau về rồi đổ vào sông Lam. Các
con sông lớn, nhỏ phục vụ tưới tiêu, bồi đắp phù sa đem lại sự phì nhiêu cho
đồng bãi và tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu mọi mặt trong đời sống
kinh tế, xã hội.
Đô Lương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm nên có
những thuận lợi như: nắng lắm, mưa nhiều, độ ẩm cao nên rất thuận lợi cho
huyện Nhật Nam của châu Hoan [4; 9].
12
Thời Lý - Trần - Hồ, Đô Lương thuộc huyện Đông Ngàn thuộc Châu
Hoan, theo sách “Đất nước Việt Nam qua các đời” của Đào Duy Anh “lấy
tên Đông Ngàn mà suy thì thấy rằng huyện ấy phải là ở trên bờ phía đông
(Đông Ngàn) sông Lam, có thể là là tương đương phần huyện Thanh Chương
và huyện Anh Sơn ở bên bờ tả ngạn [1; 160].
Thời Lê Sơ năm 1490, niên hiệu Hồng Đức thứ 21, đời vua Lê Thánh
Tông, Anh Sơn thuộc huyện Nam Đường, phủ Anh Đô, xứ Nghệ An.
Thời nhà Nguyễn trước năm 1822, Đô Lương thuộc tổng Đô Lương,
huyện Nam Đường, phủ Anh Đô. Theo sách "Tên làng xã Việt Nam đầu thế
kỷ XIX", Đô Lương là một Tổng thuộc huyện Lương Sơn, phủ Anh Đô, cụ thể
như sau: Phủ Anh Đô gồm có 2 huyện: huyện Hưng Nguyên và huyện Nam
Đường. Huyện Nam Đường Gồm có 8 tổng, 90 xã, thôn, phường, trại, sách,
giáp, vạn, đó là:
1. Tổng Non Liễu: 20 xã, thôn, giáp: Non Liễu, Yên Lạc, Thanh Tuyền,
Non Hồ, Vân Đồn, Chung Giáp, Thượng Hồng (thôn)
2. Tổng Lâm Thịnh có 15 xã, thôn, phường, giáp: Lâm Thịnh, thôn
Chung Mỹ, Duyên La, Trường Cát, Chung Cự (thôn Ngọc Đình, thôn Hoàng
Trù, thôn Kim Lạc, thôn Vân Hội, giáp khoa cử, phường Tiểu Ca), Gia Lạc,
Hữu Biệt, Vạn Thủy cơ Duyên La
3. Tổng Đại Đồng có 6 xã, thôn, giáp: Đại Đồng, Hiến Lạng, Đồng Luân
(thôn Luân, giáp Bào và giáp Chân Ngọc thuộc thôn Bào), Nông Sơn, Lạng Khê.
4. Tổng Hoa Lâm có 5 xã, thôn: Hoa Lâm, Động Liệt, Hoa Ổ, Đồng
Điên, Tràng Các
5. Tổng Đô Lương gồm 24 xã, thôn, giáp:
Đô Lương (xã): thôn Cẩm Hoa Thượng, thôn Cẩm Hoa Đông, giáp
Huyện có 2 phủ Lương Sơn và Nam Đường do phủ kiêm lý, gồm 9 tổng:
1. Thuần Trung, gồm 17 xã, thôn:
Thôn: Bột Đà, Phượng Lịch, Thuần Hậu, Đông Bích, Trung Thượng, Mỹ
Trung, Tiên Cung, Doanh Châu, Thuận Lý, Phú Văn, Bảo Thiện, Mỹ Ngọc,
Lễ Nghĩa, Trung Hậu, Thượng Cát; xã: Sơn La, Trường Mỹ.
14
2. Tổng Bạch Hà, gồm 11 xã, thôn: Đào Mỹ, Văn Khuê, Triêu Dương,
Ngọc Mỹ, Ngọc Luật, Lưu Sơn, Thanh Tân, Bạch Hà, Long Thái, Văn Lâm,
Chi Phương.
3. Tổng Đô Lương, gồm 23 thôn: Yên Tứ, Bỉnh Trung, Chấp Trung,
Trường Thịnh, Cẩm Ngọc, Hương Liên, Đông Trung, Nghiêm Thắng, Phúc
Thuỵ, Diên Tiên, Tập Phúc, Nhân Bồi, Phúc Hậu, Nhân Trung, Phúc Yên,
Trạc Thanh, Thanh Đường, Vĩnh Sơn, Phúc Mỹ, Ân Thịnh, Phú Thọ, Yên
Thanh, Mỹ Hoà.
4. Tổng Đặng Sơn, gồm 28 xã, thôn: Nhân Hậu, Phú Nhuận, Xuân Chi,
Xuân Như, Đặng Lâm, Đặng Thượng, Long Bố, Khả Quan, Lương Điền, Khả
Phong, Đa Cai, Dương Long, Dương Xuân, Yên Phú, Vĩnh Yên, Yên Lĩnh,
Tri Lễ, Thanh Lãng, Phúc Sơn, Xuân Trường, Khai Lãng, Hội Lâm, Tam
Giang, Thanh Lương, Chân Suất, Xuân Thuỷ, Thanh Xuân, Lương Giang.
5. Tổng Lãng Điền, gồm 9 xã thôn: Mặc Điền, Lãng Điền, Hội Tiên,
Đại Điền, Vạn Hộ, Yên Lương, Cấm Võng, Tào Điền, Tào Giang.
Huyện Nam Đường: gồm 4 tổng, 73 xã, thôn, phường.
Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta đến đầu năm 1946, phủ Anh
Sơn là một trong 6 phủ 5 huyện của tỉnh Nghệ An. Từ năm 1946 đến năm
1963 Đô Lương nằm trong huyện Anh Sơn - một trong 12 huyện của tỉnh
Nghệ An. Theo quyết định số 52/CP ngày 19 tháng 4 năm 1963 của Hội đồng
Chính Phủ, Anh Sơn được tách ra thành 2 huyện Đô Lương và Anh Sơn
ra tổng Đặng Lâm (Nam Sơn, Bắc Sơn, Đặng Sơn ngày nay) [49; 2].
Ở xã Bài Sơn, Đô Lương có dòng họ Thái Đắc từ bắc vào đây lập
nghiệp ở thế kỷ thứ XVII. Đây là dòng họ luôn có đóng góp rất lớn sức người,
sức của trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhà thờ dòng họ là
nơi hoạt động bí mật của các đồng chí lãnh đạo, đây còn là địa điểm in ấn, cất
dấu tài liệu của Phủ ủy Anh Sơn. Nhà thờ Thái Đắc là một công trình kiến
trúc mang đậm bản sắc xứ Nghệ [51; 2].
Xã Đông Sơn có dòng họ Nguyễn Cảnh có nguồn gốc thiên lý Đông
Triều, tỉnh Quảng Ninh. Cuối đời Hồ ông tổ của họ Nguyễn Cảnh đã chạy
16
theo đoàn người loạn lạc đến Ninh Bình sau đó là Hương Sơn, Hà Tĩnh. Cuối
cùng theo nghĩa binh Lam Sơn diệt trừ giặc Minh, ông dời đến bến sông Lam
lần theo các xã huyện Thanh Chương, Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Theo thời
gian dòng họ Nguyễn Cảnh ngày càng phát triển, chung sức cùng các dòng họ
nơi khác họ Nguyễn Cảnh sinh sôi nảy nở và đã thành một dòng họ lớn không
chỉ ở Nghệ An mà còn khắp mọi miền đất nước [30; 3]
Ở xã Tân Sơn có dòng họ Nguyễn Kim là một dòng họ có nguồn gốc
rất sớm, sự ra đời của dòng họ cũng như những dòng họ khác đã tạo nên một
cộng đồng dân cư sống và phát triển có bề dày hàng mấy thế kỷ từ buổi khai
sinh lập nghiệp cho đến ngày nay. Theo truyền thuyết và gia phả của dòng họ
để lại, tổ tiên dòng họ có nguồn gốc xuất xứ từ Thanh Hóa về lập nghiệp ở
đây vào buổi hoang sơ chưa có tên gọi. Cho đến nay, dòng họ đã trở thành
một dòng họ tương đối lớn và có vị trí quan trọng đóng góp vào nền kinh tế
của địa phương [48; 3]
Dưới thời thuộc Pháp, tình trạng dân cư huyện Đô Lương đã có nhiều
thay đổi. Trên mảnh đất này, dân cư ngày càng đông đúc vào những năm
1926 đến năm 1930, số dân của Đô Lương trên 70,000 người. Tuy nhiên, sau
Phủ lớn, nên hàng năm hàng ngàn người bị chết do dịch bệnh hoành hành.
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, theo công điện số 351 ngày
12/2/1946, Ủy ban hành chính trung bộ ra quyết định số 86 - VP thành lập ở
phủ Anh Sơn 27 xã, là một trong những huyện lớn của tỉnh Nghệ An với số
dân đông đúc, ngay sau khi thành lập huyện đã phải tập trung giải quyết nạn
đói hoành hành. Riêng nạn đói đầu năm 1945, cả huyện Anh Sơn cũ có 2493
người chết, trong đó có 106 gia đình không còn sót lại người nào [4;100].
Những khó khăn đó đã làm tình trạng dân cư của huyện Đô Lương có những
biến đổi.
Mặc dù đã trải qua những thăng trầm cùng với lịch sử dân tộc. Nhưng
trong những khó khăn ấy, người dân Đô Lương vẫn hình thành nên những
truyền thống quý báu. Đó là truyền thống hiếu học, truyền thống chống giặc
18
ngoại xâm, truyền thống văn hóa. Đó chính là niềm tự hào, là sức mạnh để
giúp Đô Lương vượt qua những khó khăn.
Đô Lương từ xa xưa cũng đã nổi danh là vùng đất hiếu học. Quan niệm
về học hành ở đây rất đơn giản và rõ ràng: trước là học để biết, để hiểu đạo lý
làm người, sau nữa là để giúp đời giúp nước. Vì thế, ở mảnh đất này những
nhà nho thời xưa đã nổi về sự khẳng khái, chí hướng, hào hiệp và trọng khí
tiết. Nơi đây còn lưu danh những dòng họ truyền thống về trình độ học vấn
như dòng họ Nguyễn Cảnh ở Đông Sơn là dòng họ có truyền thống hiếu học.
Từ xa xưa đã có nhiều bậc tiền nhân học hành đỗ đạt làm rạng danh cho dòng
họ và địa phương, nổi bật là: Nguyễn Hữu Tố là Hàm Lâm Viện Trực Học Sỹ
Suy Sử Quán Toản Tư có nhiều đóng góp cho triều đình phong kiến nhà
Nguyễn và được nhà Nguyễn gia tặng sắc phong; Tiến sĩ Nguyễn Nguyên
Thành từng giữ chức Hàm Lâm Viện Biên Tu. Dòng họ Nguyễn Cảnh ở Đông
Sơn tiêu biểu cho truyền thống khoa bảng, điển hình là 4 nhà anh em ruột bốn
An để cai quản. Năm Tân Tị Càn Phù Hữu Đạo thứ tư (1041), vua Lý Thái
Tông xuống chiếu cho Ủy Minh Hầu Lý Nhật Quang con trai thứ tám của vua
Lý vào làm tri châu Nghệ An. Sau khi khảo sát địa lý, địa hình và ý chí của
quân thần, tri châu Lý Nhật Quang đã chọn vùng Bạch Đường (nay là 3 xã
Lam Sơn, Ngọc Sơn, Bồi Sơn) làm thủ phủ đặt bản doanh. Như vậy, Đô
Lương từng là bản doanh cả một vùng lớn cả ba châu Hoan - Diện - Ái (nay
tương đương là Nghệ An Hà Tĩnh và một phần Thanh Hóa) điều đó nói lên
rằng mảnh đất Đô Lương có vị trí chiến lược hết sức quan trọng. Từ hậu
phương vũng chắc Nghệ An, mà bộ máy lãnh đạo nơi tập trung quân lương
chủ yếu Bạch Ngọc (Đô Lương), nhà Lý đã lần lượt mở các cuộc tấn công
chinh phạt về phía nam và liên tiếp dành thắng lợi. Với vị trí chiến lược, địa
hình hiểm yếu và con người nổi tiếng về lòng nhân nghĩa Đô Lương trở thành
nơi đứng chân của các vị anh hùng hào kiệt. Có thể nói trong suốt chiều dài
lịch sử, từ thế kỷ XI đến nay, không có một cuộc nổi dậy nào của nhân dân
Nghệ An chống lại cường bạo để giữ gìn độc lập chủ quyền cho dân tộc mà
không có sự đóng góp to lớn về nhiều mặt của nhân dân Đô Lương. Những
20
thắng lợi vang dội của nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo ở các trận Bồ
Đằng, Trà Lân (Con Cuông)…làm cho giặc Minh “khiếp vỡ mật” có sự hậu
thuẫn rất lớn về quân lương của nhân dân Đô Lương. Đến thời Lê - Mạc rồi
Trịnh - Nguyễn phân tranh từ thế kỷ XVI trở đi Nghệ An là vùng “đất căn
bản” nên trở thành điểm tranh dành của các bên và “nhân dân Đô Lương cũng
đã đứng dậy tham gia các cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Mật. Sau khi thất bại ở
đàng ngoài ông chạy vào Trấn Ninh thổi bùng ngọn lửa ấu tranh từ kỳ Sơn
đến Đô Lương” [4; 15].
Từ sau khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, triều đình phong
kiến nhà Nguyễn từng bước đầu hàng giặc, thế nhưng nhân dân ta vẫn tiến
với truyền thống lâu đời. Người dân nơi đây rất coi trọng những giá trị thuần
phong, mỹ tục, tín ngưỡng và quá khứ.
Quá trình hình thành và phát triển Tôn giáo ở Đô Lương gắn với quá
trình hình thành và phát triển Tôn giáo ở nước ta. Tuy nhiên sự hình thành và
phát triển ở Đô Lương có những nét riêng. Trong buổi đầu nước ta giành độc
lập tự chủ, thời đại Lý - Trần xuất hiện hiện tượng Tam giáo đồng nguyên
(nho, phật, lão cùng tồn tại) nhưng Phật giáo được lấy làm Quốc giáo. Các
ông vua nhà Lý đều coi trọng Phật giáo, chú trọng xây dựng chùa chiền để thờ
tự, chính vì thế khi Lý Nhật Quang vào cai quản ở Nghệ An ông cũng rất
chăm lo coi trọng Phật giáo. Theo ông Nguyễn Đức Kiếm trưởng phòng bảo
tồn bảo tàng Nghệ An thì: “xứ Bạch Ngọc xưa kia là một trong những trung
tâm phật giáo của Nghệ An”. Những chứng tích nay còn để lại như: chùa Bà
Bụt, chùa Nhân Bồi, chùa Nhân Trung…Có lịch sử từ thời Lý minh chứng
cho điều đó. Không những thế những di tích này còn minh chứng cho những
tư tưởng tốt đẹp của Phật giáo đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân nơi đây.
Cùng với Phật giáo, theo thời gian Thiên chúa giáo cũng được truyền
bá và hình hành trên địa bàn Đô Lương. Hiện nay toàn huyện có khoảng 8
nghìn người theo đạo Thiên chúa giáo chiếm 4% dân số của huyện. Tất cả có
4 xứ 24 họ với 1426 hộ. Bốn xứ đó là xứ Lưu Mỹ ở Trù Sơn có 6 họ với 596
hộ, xứ Thanh Tân ở Hiến Sơn có 6 họ với 243 hộ, xứ Sơn La ở Xuân Sơn có 5
22
dòng họ với 277 hộ, xứ Bột Đà ở Đà Sơn có 5 dòng họ với 310 hộ. Hoạt động
công giáo ở Đô Lương tương đối thuần, lương giáo sống một cách hòa thuận
chan hòa cùng nhau.[5; 199]
Tín ngưỡng với tư cách như một hình thức thể hiện niềm tin vào cái
thiêng liêng của con người, của một cộng đồng nào đó, ở một trình độ phát
triển xã hội cụ thể. Ở Đô Lương hoạt động tín ngưỡng phong phú gắn với đời
hình thực tế của một nông nghiệp thuần nông, đại hội đã đề ra phương hướng
chung là: nhanh chóng ổn định tình hình mọi mặt, sớm kiện toàn tổ chức từ
huyện đến cơ sở, chăm lo phát triển đời sống kinh tế, ổn định đời sống xã hội,
xây dựng quê hương Đô Lương giàu mạnh. Để thực hiện được nhiệm vụ đó,
huyện đã tiến hành hợp tác hóa từ quy mô thôn xóm, nay đã lên quy mô làng
xã và thu được những kết quả tích cực. Tuy nhiên, vẫn còn mâu thuẫn giữa
yêu cầu tập trung ruộng đất vào các hợp tác xã với chế độ công hữu công
quản với thực tế ruộng đất manh mún nhỏ lẻ. Vì thế năm 1963, toàn huyện đã
tiến hành khoanh vùng, quy hoạch cải tạo đồng ruộng, tạo điều kiện cho canh
tác thuận lợi. Những vùng đồng ruộng gồ gề, lồi lõm, nhiều đám nhỏ lẻ được
tập hợp lại thành vùng, thành khoảnh lớn hơn có diện tích hợp lý từ hai mẫu
đến bốn mẫu. Nhờ đó tạo những điều kiện thuận lợi cho thủy lợi và cơ giới
hóa. Năm 1964, để tránh hiện tượng bỏ hoang đất đai sản xuất kém, huyện đã
tiến hành nhiều biện pháp như thực hiện hình thức ba khoán, nhờ vậy sản xuất
hiệu quả cao hơn. Trong giai đoạn này, mặc dù bị thiên tai và chiến tranh phá
hoại. Nhưng huyện Đô Lương đã vượt qua khó khăn tiến hành khai hoang,
phục hóa mở rộng diện tích. Trong hai năm (1965 - 1966), toàn huyện cải tạo
được hơn 60% diện tích đất nông nghiệp, với hàng triệu ngày công. Cũng
trong thời gian này, cả huyện đã cất bốc 42 nghìn ngôi mộ trên đồng ruộng
quy tập về nghĩa trang để tăng thêm diện tích sản xuất và canh tác thuận lợi
hơn [5; 21].
Trong giai đoạn 1963 - 1975, huyện Đô Lương vẫn duy trì 32 xã và
một thị trấn, diện tích được mở rộng hơn trước nhưng chủ yếu là đất nông
24
nghiệp. Nguyên nhân là thời kỳ này mới tách huyện và phải đối đầu với hai
cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Vì vậy, lãnh đạo huyện phải tập
trung kiện toàn bộ máy và lãnh đạo nhân dân kháng chiến, nên chưa ra những