BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
------------------
NGUYỄN THỊ QUỲNH TRÂM
TRƯỜNG THI HƯƠNG GIA ĐỊNH
TỪ NĂM 1813 ĐẾN NĂM 1858
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
TP. HỒ CHÍ MINH – 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
------------------
NGUYỄN THỊ QUỲNH TRÂM
TRƯỜNG THI HƯƠNG GIA ĐỊNH
TỪ NĂM 1813 ĐẾN NĂM 1858
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.54
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Cán bộ hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. NGUYỄN QUANG HỒNG
TP. HỒ CHÍ MINH – 2012
nhất đến tất cả mọi người đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này!
Tác giả Luận văn
Nguyễn Thị Quỳnh Trâm
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài................................................................................04
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề..................................................................06
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu......................................................09
4. Phương pháp nghiên cứu....................................................................10
5. Đóng góp của luận văn.......................................................................10
6. Kết cấu của luận văn...........................................................................11
NỘI DUNG
Chương 1: Khái quát về hệ thống trường thi Hương ở Việt Nam dưới
thời Nguyễn
1.1. Chính sách giáo dục, khoa cử của nhà Nguyễn.
1.1.1. Vài nét về triều Nguyễn........................................................12
1.1.2. Khái quát tình hình giáo dục của triều Nguyễn....................14
1.1.3. Khái quát tình hình khoa cử của triều Nguyễn.....................19
1.2. Vài nét về các trường thi Hương ở nước ta từ năm 1807 đến năm
1918.
1.2.1. Thi Hương: Nội dung giáo dục và tổ chức.
1.2.1.1. Nội dung giáo dục....................................................21
1.2.1.2. Tổ chức thi Hương...................................................24
1.2.2. Các trường thi Hương ở nước ta từ năm 1807 đến năm 1918.
1.2.2.1. Trường thi Hương – những quy cách chung............32
1.2.2.2. Các trường thi Hương ở triều Nguyễn.....................34
Tiểu kết chương 1............................................................................39
1. Lý do chọn đề tài:
1.1. Về mặt khoa học
- Từ năm 1075 – 1919 giáo dục khoa cử là một trong những con đường
để nhà nước phong kiến Việt Nam tuyển chọn quan lại. Thật vậy, trong Lịch
triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú có nhận xét “Con đường tìm người
tài giỏi, trước hết là khoa mục. Phàm muốn thu hút người tài năng, tuấn kiệt
vào trong phạm vi của mình, thì người làm vua một nước không thể không có
khoa cử” [8,tr.149] . Các vua triều Nguyễn từ Gia Long đến Minh Mạng, Tự
Đức…cũng đã nhận thấy được tầm quan trọng của chế độ khoa cử và rất quan
tâm đến. Kể từ thời Minh Mạng, việc đào tạo, tuyển chọn nhân tài ngày càng
được chấn chỉnh, mở mang và đi vào nề nếp, quy củ. Theo số liệu trong Đại
Nam Liệt truyện chỉ tính từ thời Gia Long đến Tự Đức, số người tài được
tuyển chọn qua khoa cử là 247 người, còn không qua thi cử là 99 người, vậy
cũng thấy rõ ưu tiên hàng đầu trong việc tuyển chọn quan lại của triều
Nguyễn là thông qua thi cử.
- Nghiên cứu về giáo dục khoa cử triều Nguyễn và lịch sử hình thành
phát triển của các kỳ thi Hương trong đó có trường thi Hương Gia Định là góp
phần thiết thực vào việc nghiên cứu, đánh giá về vương triều Nguyễn một
cách toàn diện. Mặc dù số lượng trường thi Hương phân bố không đều và tỉ lệ
đỗ đạt ở các trường cao thấp khác nhau nhưng xu hướng thống nhất về học
tập và thi cử là một thực tế không thể phủ nhận được. Đây cũng là một cố
gắng nhằm tạo ra sự thống nhất cho toàn bộ các hoạt động văn hóa khác.
Những người đỗ đạt từ các trường thi Hương trong cả nước được phép về
kinh thành để tham gia thi Hội và thi Đình cho thấy nhà Nguyễn muốn tạo ra
một nền tảng giáo dục và khoa cử chung trên phạm vi cả nước.
- Trường thi Hương Gia Định ra đời từ năm 1813 và kết thúc vai trò
lịch sử vào năm 1858 góp phần quan trọng trong lịch sử của vùng đất Gia
Định. Dù chỉ xuất hiện trong gần nửa thế kỷ nhưng trong thời gian tồn tại của
đất Gia Định nói chung, trường thi Hương Gia Định nói riêng là đề tài có ý
nghĩa thực tiễn sâu sắc. Bởi vì, chỉ một thời gian sau khi Pháp chiếm Gia
Định, vị trí, nơi tổ chức kỳ thi dần dần thay đổi hoặc biến mất. Do đó, đề tài
góp phần phục dựng một khoảng trống trong việc nghiên cứu lịch sử hình
thành và phát triển của vùng đất Gia Định.
- Trong xu thế hội nhập hiện nay, Gia Định xưa – Sài Gòn nay đang
phát triển thành trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục của cả nước. Nghiên cứu
về lịch sử trường thi Hương Gia Định là góp phần sáng tỏ thêm về lịch sử
giáo dục và khoa cử dưới triều Nguyễn ở một vùng đất mới - vùng đất Gia
Định. Lịch sử khoa cử và giáo dục của Gia Định bao gồm nhiều nội dung rất
phong phú. Trong đó, sự ra đời của các kỳ thi Hương được tổ chức ở Gia
Định trong thời Nguyễn cùng với sự xuất hiện của lực lượng nho sĩ với những
đóng góp của họ là một nội dung rất cần được tìm hiểu. Một số nho sĩ rất
thành công trong giai đoạn này như: Trương Minh Giảng, Nguyễn Thông,
Nguyễn Hữu Huân, Phan Thanh Giản, Phan Văn Trị, Bùi Hữu Nghĩa…và còn
rất nhiều người khác đã góp phần rất lớn cho sự phát triển của lịch sử dân tộc.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Công trình nghiên cứu công phu hơn cả là tài liệu: "Quốc triều hương
khoa lục", do nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh phát hành năm 1993 của
Cao Xuân Dục có đề cập đến tất cả các khoa thi Hương ở triều Nguyễn cũng
như về tên, quê quán của những cử nhân đỗ đạt trong các kỳ thi đó. Tương tự,
các cử nhân của trường thi Hương Gia Định cũng được ghi chép khá đầy đủ
trong tác phẩm này. Phần lớn những thay đổi về thể lệ thi, cách tổ chức đều
có trình bày nhưng là chung cho các trường trong cả nước, vì vậy chúng tôi đã
chọn lọc, thống kê những nội dung có liên quan đến trường thi Gia Định để
đưa vào luận văn cho phù hợp.
Qua các tài liệu như: “Hệ thống giáo dục và khoa cử nho giáo triều
Nguyễn” của Nguyễn Ngọc Quỳnh, “Thi Hương” của Nguyễn Thị Chân
nhiều thay đổi so với thời gian trước đó. Quỳnh Cư trong “Chuyện hay sử
cũ” có bài viết “ Xem lại bản án về Phan Thanh Giản”. Đặc biệt trong cuộc
hội thảo khoa học về Phan Thanh Giản được tổ chức tại Vĩnh Long năm
1994, những đánh giá về ông có sự khách quan và phù hợp hơn. Tại hội thảo
này, trong bài tổng kết hội thảo có nhan đề “Phan Thanh Giản (1796 –
1867), con người, sự nghiệp và bi kịch cuối đời”, nhà sử học Phan Huy Lê
bày tỏ quan điểm “ Phan Thanh Giản là người thừa hành và thực hiện một
chủ trương đã được hoạch định của Tự Đức và triều đình Huế….Trách nhiệm
của Phan Thanh Giản ở đây là trách nhiệm của người thừa hành và tất nhiên
với cương vị Chánh sứ toàn quyền đại thần, ông cũng có phần trách nhiệm
trong việc thương thuyết và thực thi một chủ trương sai lầm của triều đình
Huế”. Sách viết cho nhân vật Phan Thanh Giản chúng ta có thể tham khảo tác
phẩm “Thế kỷ XXI nhìn về nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản” của tạp chí
Xưa & Nay và nhà xuất bản Đồng Nai.
Các nhân vật khác như Bùi Hữu Nghĩa, Phan Văn Trị, Nguyễn Hữu
Huân…cũng đều có nhiều tài liệu nghiên cứu liên quan đến cuộc đời và
những đóng góp của các chí sĩ này cho lịch sử. Nhà xuất bản Trẻ có giới thiệu
các cuốn sách như: “Nguyễn Hữu Huân, nhà yêu nước kiên cường, nhà thơ
bất khuất”, “ Phan Văn Trị: cuộc đời và tác phẩm”… Năm 1990, nhà xuất
bản Tiền Giang cho ra mắt “Những danh sĩ miền Nam” của hai tác giả Hoài
Anh và Hồ Sĩ Hiệp đã giới thiệu khá đầy đủ về các nho sĩ ở miển Nam.
Qua nghiên cứu tài liệu, chúng tôi thấy lịch sử khoa cử dưới triều
Nguyễn cũng là mảng đề tài được nhiều người nghiên cứu, khám phá. Tuy
nhiên, riêng ở vùng đất Gia Định các công trình nghiên cứu còn mang tính
chất chung về nội dung và chưa có công trình nào tìm hiểu về trường thi
Hương Gia Định một cách đầy đủ mặc dù sự đóng góp của các nho sĩ đỗ đạt ở
đây cho lịch sử dân tộc - theo chúng tôi, đó là một sự đóng góp không nhỏ.
Chính vì vậy, với những nguồn tư liệu thu thập được, chúng tôi hy vọng sẽ
làm sáng tỏ vấn đề này trong khả năng cho phép.
một số trường thi hương khác, do đó, luận văn góp phần thiết thực vào việc
nghiên cứu về giáo dục khoa cử Nho học nước ta đầu thế kỷ XIX nhất là ở
vùng đất Đàng Trong.
Luận văn góp phần cung cấp một hệ thống danh mục tài liệu tham khảo
có liên quan đến việc nghiên cứu về giáo dục và khoa cử dưới thời Nguyễn
tại Gia Định cũng như của nền giáo dục Việt Nam trong thời kỳ đó cho
những ai quan tâm, tìm hiểu và thực sự là tài liệu hữu ích đối với việc giảng
dạy lịch sử địa phương trong các trường Trung học cơ sở, Trung học phổ
thông,…
Từ việc nghiên cứu về trường thi Hương Gia Định và các học trò
trưởng thành từ trường thi này, chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số đề xuất
nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học lịch sử địa phương tại các
trường trong địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh ( phụ lục 9)
6.
Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung
chính của đề tài gồm ba chương:
Chương 1: Khái quát về hệ thống trường thi Hương ở Việt Nam dưới
thời Nguyễn.
Chương 2: Lịch sử hình thành và phát triển của trường thi Hương ở Gia
Định từ năm 1813 đến năm 1858.
Chương 3: Đóng góp của học trò trưởng thành từ trường thi Hương Gia
Định đối với lịch sử dân tộc.
CHƯƠNG 1.
việc khai hoang, mở rộng diện tích canh tác nhưng số ruộng đất bị bỏ hoang
vẫn còn nhiều, ruộng đất công bị thu hẹp, nông dân vừa bị cường hào tước
đoạt ruộng đất, vừa chịu sưu thuế nặng nề lại thêm thiên tai dồn dập, mùa
màng thất bát nên ngày càng lâm vào cảnh khốn cùng. Trong kinh tế công –
nông nghiệp do những chính sách “bế quan tỏa cảng”, “trọng nông ức
thương”, thuế khóa nặng nề, nhà nước nắm độc quyền về ngoại thương, về
nhiều ngành công nghiệp… nên nhìn chung còn thiếu những tiền đề để phát
triển.
Những khó khăn về kinh tế đã làm cho mâu thuẫn trong xã hội ngày càng
gay gắt, các cuộc khởi nghĩa của nhân dân liên tiếp nổ ra. Chỉ riêng trong bốn
triều đại đầu của nhà Nguyễn từ Gia Long đến Tự Đức (1802 – 1884) đã có
466 cuộc khởi nghĩa của nông dân. Để ổn định xã hội, ngoài việc tập trung
lực lượng đàn áp các cuộc khởi nghĩa, triều đình cũng áp dụng một số biện
pháp tích cực như giảm hoặc miễn thuế cho dân chúng ở các vùng bị thiên tai,
hạn hán. Ngoài các biện pháp để giải quyết về hành chính, kinh tế, củng cố bộ
máy quan lại, triều đình cũng đã sử dụng nhiều cách để giải quyết tình trạng
suy yếu trong nếp sống xã hội. Triều đình nhấn mạnh sự tôn trọng đạo lý của
Nho giáo để khôi phục lại trật tự xã hội. Mười điều giáo huấn mà vua Minh
Mạng ban bố năm 1834 là một ví dụ.
Về phương diện lãnh thổ quốc gia “so với các triều đại trước thì dưới
triều Nguyễn, nước Việt Nam rộng lớn hơn hết, có thể xem là hoàn chỉnh từ
Nam Quan đến Cà Mau. Không những chỉ rộng lớn hơn hết về lãnh thổ mà về
phương diện hành chính cũng thống nhất hơn hết. Tất cả các triều đại trước
không nắm được các địa phương, nhưng thời Nguyễn, cụ thể là từ Minh
Mệnh, triều đình đã trực tiếp nắm được các tỉnh” (Kỷ yếu hội thảo: Những
vấn đề văn hóa - xã hội ViệtNam thời Nguyễn, Nxb KHXH, Hà Nội, 1992, tr
19).
Một điểm đặc biệt là mặc dù trong bối cảnh khủng hoảng về kinh tế,
Giảng đường được triều Nguyễn lập từ năm 1817, là nơi dạy học cho các
hoàng tử, thái tử là những người trong tương lai sẽ trị vì đất nước nên việc
tuyển thầy dạy học ở các Giảng đường hay còn gọi là Giảng tập rất được triều
đình chú trọng. Ngày lẻ dùng để giảng truyện hoặc kinh, ngày chẵn học sử.
Ngoài ra mỗi tháng vào các buổi sáng ngày mùng 1, 11, 21 vào chầu ở chính
điện, các buổi chiều ngày mùng 6, 16, 26 đem sách học vào chầu ở điện
Quang Minh để vua hỏi bài.
Sở Tôn học là trường học dành cho những người trong tôn thất được xây
dựng bên cạnh Phủ Tôn Nhân trong kinh thành. Tại Sở Tôn học các học quan
được tuyển chọn một phần từ các học sinh ở Quốc Tử Giám, một phần là con
cháu hoàng thân từ 10 tuổi trở lên, 35 tuổi trở xuống,nếu muốn vào học để mở
rộng hiểu biết thì đều được chuẩn. Tôn Học đường do một hoàng thân chỉ
huy, hai hàn lâm học sĩ và nhiều người giảng dạy ở các nơi khác sung vào.
Hàng năm, vào tháng 11, các tôn sinh học ở đây phải trải qua kỳ thi. Sau khi
chấm, người nào được hạng ưu, bình thì được thưởng bạc, tiền theo thứ tự,
hạng thứ sẽ phạt bớt đi nửa lương, hạng liệt thì thôi cấp lương. Người nào bị
phạt 3 năm liền thì truất bỏ, không cho học ở nhà Tôn học nữa
Quốc Tử Giám là trung tâm giáo dục đào tạo Nho giáo của cả nước. Từ
năm 1803, vua Gia Long cho dựng trường Quốc học ở kinh đô Phú Xuân
(Huế). Đến năm 1821, Minh Mạng đổi tên thành Quốc Tử Giám và cho xây
dựng thêm Giảng đường, Di luân đường và hai học xá ở hai bên tả, hữu. Ở
trường, các vị tế tửu, tư nghiệp, giảng quan đều là người thông hiểu nho giáo,
đỗ đạt cao và có tư cách tốt. Số người được triều đình cử ra quản lý, trông coi
Quốc Tử Giám có sự thay đổi theo yêu cầu thực tế của từng thời kỳ. Học sinh
trường Giám bao gồm giám sinh là những người đã đỗ cử nhân đến học để
chuẩn bị thi hội còn có tôn sinh, ấm sinh (con của các vị quan được nhà vua
ban ơn cho vào học tại Quốc Tử Giám) và cống sinh ở các địa phương. Các
học sinh này được triều đình rất ưu đãi, được miễn quân dịch, miễn thuế thân
và miễn sưu dịch. Hằng tháng được cấp gạo, lương và dầu đèn. Ở trường
Giám, ngày khai giảng diễn ra vào đầu xuân, sau ngày khai ấn một ngày. Cuối
phẩm. Thường dược chọn trong các cử nhân và tú tài
- Cấp huyện có chức huấn đạo, phụ trách giảng dạy, tước quan hàm bát
phẩm.
Ở một số huyện ở xa, giáo dục ít phát triển, số học trò chưa nhiều thì
các tri huyện, tri châu có thể kiêm luôn chức huấn đạo. Còn tại những địa
phương có số học trò ngày càng tăng, triều đình cũng đã chú ý kịp thời ra
chiếu chỉ bổ sung học quan cho các địa phương. Các quy định của triều đình
về việc đặt học quan là khá chi tiết, cụ thể, tuy nhiên chưa theo một hệ thống
rõ ràng, nhất quán từ trên xuống mà thường xuyên thay đổi tùy theo tình hình
của các địa phương.
Ngoài các trường học do triều đình quản lý, việc mở trường học tại các
thôn xóm cũng được khuyến khích nhằm góp phần đào tạo lớp người có tri
thức, tuyển chọn quan lại ra giúp vua trị nước. Việc mở trường tư ở các địa
phương nhìn chung không bị triều đình ràng buộc bởi những quy định phức
tạp, tổ chức việc học ở làng xã do dân tự lo liệu. Đội ngũ thầy đồ gồm các bậc
hưu quan, hoặc những người có đỗ đạt nhưng không ra làm quan, hoặc có học
hành ít nhiều tự do mở trường lớp, được quan niệm là trường tư để phân biệt
với trường công hàng huyện, phủ, tỉnh và kinh kỳ. Số lượng trường tại các
thôn xóm hầu như làng xã nào cũng có, bất cứ nho sĩ nào cũng có thể mở
trường, lớp học tại nhà của mình. Các lớp học bao gồm hai loại: lớp tiểu tập
được mở tại trường hoặc nhà của các gia đình có điều kiện, thầy dạy có thể là
người địa phương hoặc từ nơi khác tới; lớp đại tập thường học ở dinh các
quan đã nghỉ hưu. Trong các lớp học đó học sinh bao gồm nhiều lứa tuổi,
trình độ và chỉ có một thầy dạy. Giờ giấc, nội dung và phương pháp học đều
do thầy quyết định. Thầy không thu học phí hàng tháng, học phí cũng không
có quy định mà tùy theo hoàn cảnh. Các học sinh cùng học một thầy thường
lập hội đồng môn. Các thầy học ở địa phương bao gồm những nho sĩ có học
vấn ở một trình độ nhất định như đã thi đỗ khảo hạch, đỗ tú tài mà không có
tuổi trở lên học Luận ngữ, Mạnh Tử rồi đến Trung dung, Đại học; từ 15 tuổi
trở lên học Thi, Thư rồi sau đến kinh Dịch, kinh Lễ, kinh Xuân Thu...
Chế độ thi cử dưới triều Nguyễn giống như thời Lê về thể lệ và quy chế
thi cử, với 3 kỳ thi chính là thi Hương, thi Hội, thi Đình. Các danh xưng đỗ
đạt trong các kì thi cũng lấy đại khoa (tiến sĩ), trung khoa (cử nhân, tú tài) và
các lễ ban yến, áo mũ, vinh quy như trước đây.
Nho học và khoa cử đã đào tạo được nhiều bậc khoa bảng ngoài sự
nghiệp văn chương đều có công giúp nước, triều nào cũng có.
Về tổ chức khoa thi: Đời vua Gia Long chỉ tổ chức thi Hương, nhưng
đến đời vua Minh Mạng khoa cử được chỉnh đốn lại và mở thi Hội, rồi thi
Đình để chọn tiến sĩ. Thời gian trung bình mở một khoa thi đại khoa dưới
triều Nguyễn là 2, 3 năm.Tính từ khoa thi đại khoa đầu tiên năm Minh Mạng
thứ 3 (1822) đến khoa thi cuối cùng năm Kỷ Mùi (1919), triều Nguyễn đã tổ
chức được 39 khoa thi (có 33chính khoa, 4 ân khoa, 1 chế khoa,1 nhã sĩ), lấy
đỗ được 558 tiến sĩ và phó bảng. Trong đó có 293 vị đỗ chánh bảng được
khắc tên vào 32 tấm bia đá dựng tại Văn Miếu.
Vua Minh Mạng cũng ra thêm học vị Phó bảng năm 1829 để chọn đỗ
thêm người. Đặc biệt, việc thay đổi thời này là việc bỏ Đệ nhất giáp, học vị
Trạng Nguyên, Bảng nhãn không còn trên khoa bảng nữa. Những thay đổi ở
đời Minh Mạng kéo dài mãi đến năm 1918.
Thi Hội: là khoa thi cao hơn khoa thi Hương dành cho những người đã
đỗ Cử nhân. Thi Hội cũng phải trải qua 4 kỳ như thi Hương nhưng mức độ
cao hơn nên còn được gọi là đại khoa. Bài thi sau khi được quan chủ khảo
chấm xong, phải dâng lên vua duyệt, sau đó mới công nhận kết quả, người đỗ
được danh hiệu Tiến sĩ và được vua ban cân đai áo mão để vinh quy bái tổ và
dược dự khoa thi Đình. Thi Hội được tổ chức ở kinh đô Huế vào các năm
Thìn, Tuất, Sửu, Mùi ngoại trừ những ân khoa thì tổ chức bất thường. Các kỳ
thi được tổ chức cách nhau, từ lúc tiến trường đến khi yết bảng khoảng từ 18
thi. Học quan địa phương tiến hành sơ khảo sau đó chuyển đến quan tế tửu, tư
nghiệp chấm lại. Thí sinh phải làm được bài thì mới đủ điều kiện dự thi.
Trúng tuyển thi khảo được gọi là Khóa sinh, người đỗ đầu gọi là ông Đầu xứ
(không có học vị gì cả) và được ghi đứng đầu danh sách của những người
được dự thi Hương. Người đỗ được xếp hạng, cho miễn binh đao một năm
hoặc nửa năm để đợi khoa thi. Về độ tuổi dự thi, xưa kia không có hạn định
tuổi tối thiểu và tuổi tối đa. Vì thế có người đỗ đạt khi rất trẻ (13,15 tuổi),
song nhiều người phải trên tuổi 50, thậm chí 60 tuổi mới qua được kỳ thi
Hương.
Những sĩ tử vượt qua được kỳ khảo hạch sẽ được lý trưởng lập danh sách
chuyển lên quan trấn. Trong danh sách phải ghi rõ học ở đâu hoặc đốc học,
giáo thụ huấn đạo là người nào; học ở nhà tư, học của quan địa phương khác,
hoặc những người đã đỗ tú tài kỳ thi trước… Nếu đỗ tú tài mà không tiếp tục
dự thi vì có sự cố phải có chứng thực của quan lo việc học ở địa phương.
Mục đích của thi cử dưới thời phong kiến là để tuyển chọn người ra làm
quan cai trị, vì vậy ngoài điều kiện phải vượt qua các kỳ khảo hạch ở địa
phương thì việc xem xét lý lịch, tư cách đạo đức của thí sinh rất được chú ý.
Trong các quyển thi, thí sinh phải khai rõ lý lịch ba đời, nếu thí sinh nào man
trá sẽ bị trị tội. Trước kỳ thi, lý trưởng sở tại phải ghi tên học trò đi thi vào sổ,
những người có trọng tang, những người bất hiếu, bất mục, loạn luân, điêu
toa, con nhà xướng ca và phạm án cướp hay phản nghịch thì không được vào
thi.
Nội dung học
Học chữ Nho là một lối học kinh điển, học để nắm rõ cương thường đạo
lý. Một số nghiên cứu cho rằng đó là lối học kinh điển vừa nhằm học văn tự,
vừa nhằm hiểu biết kinh điển để từ đó nó mới thâm nhập vào tình cảm và trí
tuệ con người, sau này học nhiều mới thấu rõ hết nghĩa lý của kinh điển đã
học, càng học càng hiểu sâu.
- Kỳ đệ tam: Thông thường là thi Thơ phú, trong thi hương dùng luật thơ
thất ngôn, phú dùng phú luật là một thể văn có từ đời Đường, có vần, đối theo
luật bằng trắc.
- Có một số năm thì thêm kỳ đệ tứ: Thí sinh phải thi Văn sách là bài văn
làm để trả lời những câu hỏi về những vấn đề có liên quan đến lịch sử hoặc
thời sự. Khi làm học trò phải dẫn lời của thánh hiền trong kinh truyện, dùng
những sự kiện lịch sử để chứng minh hoặc minh họa cho ý kiến của mình.