Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
---------------------
NGUYễN THị Vân ANH
Thủy nông Nghệ Tĩnh
từ năm 1976 đến năm 1991
Chuyên ngành: lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.54
Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử
Ngời hớng dẫn khoa học:
PgS.TS. Nguyễn Trọng Văn
2
NghÖ An, 2012
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ về mọi mặt
của các cơ quan, đơn vị, các thầy cô giáo, các nhà khoa học cũng như gia
đình và bạn bè.
Từ tận đáy lòng mình, tôi xin bày tỏ sự kính trọng, lòng biết ơn sâu sắc
đến PGS. TS. Nguyễn Trọng Văn, Người đã truyền cho tôi niềm đam mê
nghiên cứu lịch sử và định hướng cho tôi trong việc tiếp cận những giá trị
khoa học, giúp tôi trưởng thành hơn trên bước đường nghiên cứu.
Tôi xin cảm ơn các Thầy, Cô giáo trong khoa Lịch sử trường Đại học
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1 Trải qua các thời kì lịch sử, nền kinh tế của Việt Nam chủ yếu vẫn
là nền kinh tế nông nghiệp với cây trồng chính là cây lúa nước. Bởi vậy để
sản xuất nông nghiệp phát triển ổn định và bền vững, công tác thủy nông –
giải quyết vấn đề tưới, tiêu nước và phục vụ dân sinh trên địa bàn nông thôn –
có vai trò hết sức quan trọng.
Ông cha ta đã từng nói “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”,
điều đó chứng tỏ rằng trong sản xuất nông nghiệp, nước là một trong bốn
điều kiện cơ bản để nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng. Tuy
nhiên nước cũng có thể gây ra những thảm họa cho con người: nhiều nước
quá thì úng lụt, ít nước quá thì hạn hán. Vì vậy để phát huy mặt tích cực
và hạn chế mặt tiêu cực của nước, một trong những biện pháp hàng đầu là
ngày càng hoàn thiện công tác thủy nông để đảm bảo tưới tiêu kịp thời.
Hay nói cách khác, công tác thủy nông nói riêng và thủy lợi nói chung cần
phải đi trước một bước để tạo tiền đề cho việc áp dụng các tiến bộ khoa
học kĩ thuật như giống mới, phân bón, chế độ luân canh cây trồng và đa
dạng hóa nông nghiệp. Thủy nông và thủy lợi làm tốt sẽ là tiền đề cho
việc nâng cao năng suất cây trồng và hiệu quả sử dụng các nguồn lực khác
trong phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn
Với ý nghĩa quan trọng đó, nên trong mọi thời kì lịch sử, nhà nước và
các cấp chính quyền ở địa phương cùng với nhân dân đều đã quan tâm đầu tư
cho công tác thủy lợi và thủy nông.
1.2 Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, thực hiện chủ trương của Đảng
và nguyện vọng của nhân dân, Nghệ An và Hà Tĩnh đã hợp nhất thành tỉnh
Nghệ Tĩnh. Đây là một tỉnh lớn của nước ta nằm ở Bắc Trung Bộ, có tài
nguyên đất, nước phong phú, đa dạng với nền kinh tế chủ yếu là sản xuất
6
Như vậy, có thể thấy rằng, ngoài vai trò đối với nông nghiệp, các công
trình thủy nông xét trên các phương diện khai thác khác nhau còn có tác dụng
nhiều mặt và hiệu quả của nó khó có thể tính hết được.
1.3 Chứng kiến sự đổi thay diệu kì trên quê hương Nghệ Tĩnh từ khi có
các công trình thủy nông, chúng ta không thể không tự hào về những thành
quả mà người dân xứ Nghệ đã đạt được trong lĩnh vực thủy lợi. Tuy nhiên
chúng ta cũng luôn băn khoăn tự hỏi: đất nước vừa bước ra khỏi chiến tranh,
tiềm lực kinh tế còn non yếu, chưa có điều kiện để đầu tư nhiều vốn, khoa học
kĩ thuật cho thủy lợi, Nghệ Tĩnh lại là tỉnh nghèo của cả nước. Vậy những
nhân tố nào đã tác động đến vấn đề thủy nông ở Nghệ Tĩnh? Và điều gì đã
góp phần làm nên những công trình vĩ đại ấy? Tất cả những điều đó làm cho
thế hệ trẻ hôm nay luôn khao khát kiếm tìm lời giải đáp về một thời sục sôi
khí thế. Để rồi khi tìm được câu trả lời lại càng thêm cảm phục tự hào.
1.4 Nghệ Tĩnh cũng như cả nước, thủy lợi nói chung thủy nông nói
riêng luôn luôn là một vấn đề cấp thiết quan trọng cả trong quá khứ và hiện
tại đòi hỏi phải thường xuyên quan tâm giải quyết. Ý nghĩa chiến lược đó của
vấn đề thủy lợi đã được chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Việt Nam ta có hai
tiếng tổ quốc, ta cũng gọi Tổ quốc là đất nước, có đất và có nước thì mới
thành Tổ quốc. Có đất lại có nước thì dân giàu nước mạnh. Nước cũng có thể
làm lợi, nhưng cũng có thể làm hại, nhiều nước quá thì úng lụt, ít nước quá
thì hạn hán. Nhiệm vụ của chúng ta là làm cho đất với nước điều hòa với
nhau để nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945, đặc biệt từ sau ngày đất nước
thống nhất, thủy lợi nước ta và thủy lợi Nghệ Tĩnh đã được quan tâm đầu tư
xây dựng, vượt xa những thời kì lịch sử trước. Tuy vậy, thủy lợi cũng đang có
nhiều yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước.
Mặt khác, thủy lợi rất quan trọng nhưng hiện nay ý thức bảo vệ các công trình
thủy lợi ở nhiều nơi bị giảm sút. Nhiều công trình thủy lợi đang bị xuống cấp.
Thủy lợi đang là nỗi lo và là sự quan tâm của toàn xã hội. Đặc biệt, trong thời
“65 năm Thủy lợi Nghệ An – Những chặng đường phát triển”, nhà xuất bản
9
Nghệ An năm 2010. Cho đến nay đây là công trình chuyên sâu đầu tiên viết
về thủy lợi tỉnh Nghệ An, trong đó đã hệ thống hóa chặng đường thủy lợi
trong 15 năm nhập tỉnh. Tuy nhiên nội dung của mỗi chặng đường lại mang
tính khái quát về lĩnh vực thủy lợi, còn hệ thống thủy nông đã được đề cập
đến nhưng chưa cụ thể mà nằm trong thủy lợi.
Ngoài ra, ở Hà Tĩnh, trong cuốn “Lịch sử Hà Tĩnh” do Đặng Duy Báu
chủ biên (2000) cũng đã đề cập đến một số công trình thủy nông được xây
dựng từ năm 1976 đến năm 1991, nhưng vì là tác phẩm viết về Lịch sử Hà
Tĩnh nên chỉ chú trọng đến những công trình thủy nông của tỉnh được xây
dựng trong thời kì này, còn các công trình ở Nghệ An được xây dựng trong
thời kỳ hợp tỉnh chỉ được nhắc đến chứ không tìm hiểu sâu.
Bên cạnh những tác phẩm của địa phương thì cũng có những công trình
của Bộ Thủy lợi có đề cập đến thủy nông ở Nghệ Tĩnh. Đó là cuốn “ 50 năm
thủy lợi những chặng đường” NXB Chính trị quốc gia Hà Nội năm 1995. Tuy
nhiên, tác phẩm chỉ đề cập đến hai công trình thủy nông tiêu biểu ở Nghệ
Tĩnh là hồ Kẻ Gỗ và kênh tiêu Vách Bắc.
Như vậy, các công trình nghiên cứu về thủy lợi và thủy nông của tỉnh
Nghệ Tĩnh (1976-1991) còn quá ít ỏi, chưa đi sâu tìm hiểu về quá trình xây
dựng cũng như hiệu quả của các công trình. Bởi vậy kế thừa những thành tựu
của các công trình trên, tác giả mở rộng nghiên cứu thêm về những vấn đề này.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ khoa học của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Thủy nông Nghệ Tĩnh từ năm
1976 đến năm 1991
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: đề tài tập trung nghiên cứu thủy nông ở Nghệ Tĩnh
công tác thủy nông ở Nghệ Tĩnh; tìm hiểu những công trình thủy nông được
xây dựng, sửa chữa ở Nghệ Tĩnh từ năm 1976 đến năm 1991. Rút ra những
đặc điểm cơ bản của thủy nông trong giai đoạn này.
11
- Hiệu quả của các công trình thủy nông trong việc chống úng, lụt, hạn
hán, xâm nhập mặn, đặc biệt đối với sản xuất nông nghiệp và nâng cao đời
sống dân sinh ở nông thôn.
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tư liệu sử dụng trong luận văn
Chúng tôi đã tiến hành thu thập, sưu tầm, các nguồn tư liệu, các thông
tư, các nghị quyết của Chính phủ, của Bộ Thủy lợi, các đề án xây dựng, các
bản qui hoạch thủy lợi của Bộ Thủy lợi, Sở Thủy lợi tỉnh Nghệ Tĩnh; các tài
liệu ở Cục thống kê tỉnh Nghệ An, Chi cục thủy lợi tỉnh Nghệ An, Chi cục
thủy lợi tỉnh Hà Tĩnh, tài liệu ở Trung tâm lưu trữ quốc gia III, Trung tâm thư
viện quốc gia Hà Nội, Thư viện tỉnh Nghệ An, thư viện Đại học Vinh, một số
công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu lịch sử... có liên quan đến đề tài
đã được công bố.
Chúng tôi còn tham khảo thêm một số luận văn cao học, luận án tiến sĩ
chuyên ngành lịch sử Việt Nam đã được bảo vệ tại Đại học Vinh, Đại học sư
phạm Hà Nội có nội dung liên quan đến đề tài; một số bài báo, báo cáo tổng
kết hàng năm của tỉnh, huyện về tình hình kinh tế, xã hội... cũng được chúng
tôi tham khảo để đối chiếu, so sánh.
Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng nguồn tư liệu điền dã.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết vấn đề đặt ra, chúng tôi dựa vào chủ nghĩa duy vật biện
chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử làm cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên
cứu. Là một đề tài lịch sử nên phương pháp lịch sử và phương pháp logic
được coi trọng. Luận văn dựa trên cơ sở những tài liệu, xem xét sự vận động
Chương 1
KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH THỦY NÔNG NGHỆ TĨNH
TRƯỚC NĂM 1976
Nghệ An và Hà Tĩnh trước đây thuộc trấn Nghệ An (1802-1830) - một
trấn lớn của vương quốc Đại Nam ở thế kỉ XIX. Đến năm Minh Mệnh thứ 12
(1831), nhà Nguyễn cắt hai phủ Đức Thọ (trước 1822 là phủ Đức Quang) và
Hà Hoan của Nghệ An lập thành một tỉnh mới là tỉnh Hà Tĩnh. Hơn 20 năm
sau (1853) Tự Đức lại bỏ tỉnh Hà Tĩnh cho hợp vào tỉnh Nghệ An, đổi phủ Hà
Thanh làm đạo Hà Tĩnh. Đến năm 1875, Tự Đức lại bỏ đạo Hà Tĩnh, lập lại
tỉnh Hà Tĩnh gồm các phủ huyện như trước. Từ đó cho đến năm 1975, Nghệ
An và Hà Tĩnh có vài thay đổi về địa giới giữa các huyện và địa giới giữa hai
tỉnh, nhưng về cơ bản là giữ nguyên cơ cấu hành chính đó [4; tr 165]. Tuy đã
phân chia ranh giới, song trong quá trình chinh phục thiên nhiên, chống thù
trong giặc ngoài, nhân dân hai tỉnh vẫn nương tựa vào nhau, luôn luôn đoàn
kết, đấu tranh kiên cường để bảo vệ và xây dựng đất nước. Sau thắng lợi của
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nước nhà thống nhất, theo nguyện
vọng của Đảng bộ và nhân dân hai tỉnh, ngày 27/12/1975, Quốc hội nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa đã quyết định hợp nhất Nghệ An và Hà Tĩnh thành
tỉnh Nghệ Tĩnh [3; tr 9 ]. Trải qua 15 năm “hợp tỉnh”, chung lưng đấu cật, thì
ngày 12/8/1991 tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VIII đã quyết định chia tỉnh
Nghệ Tĩnh thành hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Niềm vui nhập tỉnh chưa
được bao lâu thì nay đã phải “chia tỉnh”. Nhưng dẫu sao trong 15 năm ấy
người dân xứ Nghệ đã làm nên nhiều điều kỳ diệu, nhất là trong lĩnh vực thủy
lợi đã làm nên những công trình đại thủy nông kỳ vĩ mang dấu ấn của thời kỳ
hợp tỉnh (1976 - 1991).
14
1.1. Vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên, xã hội và con người Nghệ Tĩnh
Trên bờ Tây Thái Bình Dương, Nghệ Tĩnh nằm gọn trong vùng nội chí
thiếu nước. Chỉ khi có các công trình thủy nông mới phát huy giá trị của
mình. Tiếp đến là vùng đồng bằng Kỳ Anh, bị ngăn cách với đồng bằng Cẩm
Xuyên bởi dãy núi thấp đâm ra Cửa Nhượng. Đất vùng Kỳ Anh nhiều phù sa
cổ, bạc màu, lại bị nhiễm mặn. Càng gần biển cồn cát càng cao, chạy tít đến
chân đèo Ngang.
Như vậy, đồng bằng Nghệ Tĩnh nhỏ hẹp, kém màu, thừa mặn, chỉ
chiếm 15% diện tích, nhưng từ lâu đây đã là địa bàn quan trọng nhất để sản
xuất lúa, hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày. Đây cũng là vùng tập trung
dân cư và có mạng lưới giao thông quan trọng nhất của tỉnh. Bởi vậy vấn đề
thủy nông có ý nghĩa hết sức quan trọng.
Nói đến địa hình Nghệ Tĩnh, không thế không nói đến biển. Biển là
một ưu thế của Nghệ Tĩnh. Bờ biển dài gần 230 km, chiếm khoảng 7%
chiều dài bờ biển cả nước, đã tạo ra những lợi thế hiếm có, với những
điều kiện lý tưởng để con người có thể khai thác nguồn lợi từ biển. Tuy
nhiên đây cũng là nơi xuất phát những hiện tượng thiên tai khắc nghiệt,
đặc biệt là bão từ biển Đông thổi vào, gây ảnh hưởng không nhỏ đến sản
xuất và đời sống của nhân dân.
1.1.2. Khí hậu
Nghệ Tĩnh là hình ảnh của nước Việt Nam thu nhỏ với đủ các dạng địa
hình: núi, trung du, đồng bằng và ven biển. Vì vậy hầu như bất cứ một hiện
tượng thời tiết nào xảy ra trên đất nước ta thì cũng đều có ở nơi này hay nơi
khác ở Nghệ Tĩnh.
Khí hậu Nghệ Tĩnh phong phú và đa dạng, đồng thời có sự phân hóa
sâu sắc theo không gian và biến động mạnh mẽ theo thời gian. Ở Nghệ Tĩnh
mùa đông quá ẩm ướt, mùa hạ quá khô nóng. Tuy nhiên trong từng thời gian
ngắn, khí hậu cũng không hoàn toàn ổn định. Nhiều khi đang từ một thời kì
nắng ấm, bỗng chuyển sang mưa rét đột ngột; đang từ nắng hạn gay gắt, bỗng
16
Bom Bay Viên Chăn
(Ấn Độ)
1808
(Lào)
1747
[50; tr 24]
Trên đại thể, thì khu vực hàng năm có lượng mưa ít nhất tỉnh là dải
thung lũng Tương Dương cho đến tận biên giới Việt - Lào với lượng mưa cả
năm không vượt quá 1200mm. Khu vực có lượng mưa vừa, chiếm hơn một
nửa diện tích toàn tỉnh bao gồm khu vực đồng bằng ven biển từ Nghi Lộc đến
Quỳnh Lưu và rìa đông của các huyện Đô Lương, Tân Kỳ, Nghĩa Đàn, Quỳ
Hợp và giải hành lang sông Cả từ Nam Đàn cho đến Tương Dương với lượng
mưa năm vào khoảng 1500 - 1800mm. Khu vực có lượng mưa lớn là giải
đồng bằng ven biển từ Cửa Vạn cho đến Cửa Sót và phần phía Tây các huyện
Đô Lương, Tân Kỳ, Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong… và giải hành lang
thuộc Trường Sơn đông với lượng mưa hàng năm khoảng 1800-2000mm.
Khu vực có lượng mưa đặc biệt lớn là Nam thị xã Hà Tĩnh trở vào với lượng
17
mưa hàng năm trên 2500mm; trong đó nổi lên khu vực từ Nam Kỳ Anh, Nam
Hương Khê trở vào có lượng mưa năm trên 3500mm.
Như vậy, nhìn chung trên toàn tỉnh thì hàng năm khu vực có nhiều khả
năng thiếu nước nhất là từ Cửa Rào (Tương Dương) đi dọc lên các thung lũng
của các con sông Nậm Nơn và Nậm Nợi, giải đồng bằng ven biển từ Diễn
Châu cho đến Quỳnh Lưu và giải dọc theo sông Hiếu cho đến tận Quỳ Châu.
Cho nên muốn đẩy mạnh thâm canh, tăng vụ ở vùng này thì đòi hỏi phải có
Hệ thống sông Cả gồm 151 sông, ngoài dòng chính là sông Cả, có hai
chi lưu là sông Nghèn chảy ra Cửa Sót và sông Cấm chảy ra Cửa Lò. Sông La
nhận nước của hai sông Ngàn Sâu và Ngàn Phố ở Linh Cảm rồi đổ vào sông
Lam ở Chợ Tràng. Sông La còn có một chi lưu chảy qua cống Trung Lương
(Đức Thọ) nối với sông Nghèn (nhưng đây là một kênh đào thì đúng hơn là
con sông tự nhiên) [47; tr 22].
Do sự phân bố lượng mưa không đều nên lưu lượng nước trên các dòng
sông cũng không đều, lớn nhất là sông Ngàn Sâu, còn các sông khác đều thấp.
Chế độ nước của dòng chính sông Cả thuộc loại đơn giản, trong năm chỉ có
một mùa lũ và một mùa cạn kế tiếp nhau. Mùa lũ tương ứng với mùa mưa.
Nhờ dạng lòng chìm nên lũ bớt nguy hiểm.
Chế độ nước của sông Hiếu và sông La có phần phức tạp hơn. Ngoài
mùa lũ chính còn có lũ tiểu mãn. Riêng sông La thuộc loại sông miền trung
điển hình. Trên dòng chính cường suất nước dâng lên không lớn lắm, song
lượng nước trong mùa lũ tập trung lớn, do đó việc phòng lũ và chống hạn
trong mùa khô cần được xử lý đúng lúc.
Phù sa theo dòng chảy của sông Cả khá lớn, trung bình nhiều năm của
toàn hệ thống sông khoảng 160kg/s, tương đương với tổng lượng dòng chảy
là 5,0*106 tấn / năm. Độ đục bình quân nhiều năm của toàn hệ thống vào
khoảng 183 tấn/năm-km2. Độ đục trong mùa mưa của toàn hệ thống vào
khoảng 232g/m3 và trong mùa cạn khoảng 70g/m3.
19
Ngoài hệ thống sông Cả, Nghệ Tĩnh còn có một loạt các sông nhỏ. Ở
phía Bắc sông Cả có sông Tiêm (32km), sông Quèn (13km) chảy ra Lạch
Quèn và Cửa Vạn. Ở phía nam sông Cả, có sông Nghèn (37km), sông Rào
Cái (29km), sông Rác (67km), sông Cửa Khẩu (62km)…đều chảy ra biển, ở
Cửa Sót, Cửa Nhượng và Cửa Khẩu. Các sông này tuy nhỏ nhưng chế độ
nước tương tự sông Cả. Cùng với sông Cả chúng làm thành mạng lưới sông
đưa lại một nguồn lương thực đủ bảo đảm đời sống nhân dân, cung cấp nguồn
nguyên liệu dồi dào và nguồn nông phẩm phong phú, có giá trị xuất khẩu cao.
1.1.5. Dân cư
Thiên nhiên và con người Nghệ Tĩnh luôn gắn bó với nhau. Đồng chí
Phạm Văn Đồng đã nói “Con người Nghệ Tĩnh là vốn quí nhất của địa
phương và của cả nước”[47; tr 18]. Con người đã xuất hiện từ rất sớm trên
vùng đất xứ Nghệ và trong suốt chiều dài của lịch sử, họ đã biết ứng phó với
thiên nhiên, vượt qua mọi khó khăn để xây dựng cuộc sống của mình. Khi mở
rộng địa bàn cư trú trên một vùng rộng lớn như Nghệ Tĩnh với nhiều dạng địa
hình khác nhau như miền núi, đồng bằng và ven biển, con người nơi đây đã
dần dần thích ứng với điều kiện sinh thái khí hậu của từng khu vực. Mặt khác
người dân xứ Nghệ cũng luôn luôn tác động vào thiên nhiên, biến đổi thiên
nhiên, bắt thiên nhiên phải phục vụ mình. Từ thế hệ này sang thế hệ khác, con
người đã đào kênh, đắp đập, khai hoang, lấn mặn, tạo nên một nước non xứ
Nghệ như ngày nay. Trên bản đồ mạng lưới các dòng chảy Nghệ Tĩnh, chúng
ta có thể thấy rất nhiều con kênh mà tổ tiên đã đào qua các thế kỉ, chằng chịt
nối liền những dòng sông tự nhiên. Đó là Kênh Sắt ở Nghi Lộc, khe Son ở
Quỳnh Lưu, kênh Vịnh ở Nam Đàn, kênh Đò Trai ở Đức Thọ, sông Rác ở Kỳ
Anh…Nhiều con Kênh đã được đào trong khoảng từ thế kỉ X đến thế kỉ XV.
Như vậy non xanh nước biếc của xứ Nghệ không phải chỉ có do “trời” mà còn
do con người tạo ra.
Trong cuộc đấu tranh chống lại những mặt khắc nghiệt của điều kiện tự
nhiên, con người xứ Nghệ đã được tôi luyện. Nắng hạn, gió nóng, bão lụt…
21
không khuất phục được họ mà chỉ khiến tinh thần họ thêm kiên cường, nghị
lực họ thêm bền bỉ, sức vóc họ thêm dẻo dai và cốt cách họ thêm cứng cáp.
Tất cả những điều này là hành trang quan trọng để người dân xứ Nghệ vững
vàng bước vào thời kì hợp tỉnh với nhiều khó khăn, thách thức đặt ra.
tưới được 15000ha” [43; tr 36]. Ở hệ thống Nam Nghệ An, “ hệ thống dẫn
nước qua cống Nam Đàn và hệ thống ngăn mặn giữ ngọt cống Bến Thủy cho
vùng phía nam tỉnh được thi công từ năm 1935-1940” [43; tr 36].
Như vậy, trước năm 1945, ở Nghệ An đã có hai công trình thủy nông
lớn do Pháp đầu tư xây dựng và đưa vào sử dụng đó là đập nước ở Đô Lương
và cống BaRa ở Nam Đàn. Các công trình này đã có sự đầu tư đáng kể,
“riêng công trình đập Đô Lương và hệ thống kênh dẫn Bắc Nghệ An đã có số
vốn đầu tư lên tới 4,5 triệu đồng Đông Dương. Công trình này đưa nước từ
sông Lam về tưới cho 35.660 ha ruộng đất thuộc các huyện Đô Lương, Yên
Thành, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, với 508m ống ngầm và một hệ thống kênh
dẫn nước có chiều dài hàng trăm km” [41; tr139].
Ở Hà Tĩnh, trong giai đoạn từ 1920-1939, Pháp đã tiến hành khảo sát
thiết kế hai công trình thủy lợi lớn là: BaRa Cẩm Trang (Đức Giang) để giải
quyết tưới cho Đức Thọ, Can Lộc và một phần Thạch Hà; Còn ở phía nam Hà
Tĩnh, từ 1934, nhà cầm quyền thuộc địa đã cho khảo sát đắp đập ở vùng Kẻ
Gỗ tiến tới xây dựng Hồ chứa nước Kẻ Gỗ (Cẩm Xuyên) để tưới tiêu cho
Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Thị xã Hà Tĩnh và một phần của bắc Kỳ Anh. Dù cả
hai công trình đó cuối cùng bị tạm dừng xây dựng do điều kiện kinh tế xã hội
và do cuộc chiến tranh thế giới thứ hai xảy ra, nhưng đã để lại một giá trị kĩ
thuật lớn, có tính chính xác cao, để sau này các thế hệ cán bộ kỹ thuật thủy lợi
kế thừa và phát huy tác dụng.
1.2.2. Giai đoạn 1945- 1954
Kể từ khi Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa ra đời, sự nghiệp thủy lợi mới thật sự có được sự phát triển mạnh
23
mẽ nhờ sự quan tâm lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do chủ tịch Hồ
Chí Minh sáng lập và lãnh đạo
Ngày 19/8/1945 khi ngọn cờ đỏ sao vàng tung bay trên cột cờ Hà Nội,
Đặc biệt, trước sự bắn phá ác liệt của thực dân Pháp, ngày 28/9/1952, bộ
trưởng Bộ Giao thông Công chính đã gửi Công văn số 2261 cho Ủy ban
kháng chiến liên khu Việt Bắc, liên khu 3,4 và liên khu 5 nêu rõ nhiệm vụ
thủy lợi trong chặng đường này là phát triển tiểu thủy nông, tập trung nhân
lực và phương tiện để làm tiểu thủy nông, còn việc nghiên cứu làm các công
trình lớn vẫn phải làm nhưng phải có kế hoạch. Trên cơ sở đó, ngày
13/8/1953, Ủy ban kháng chiến hành chính liên khu 4 đã gửi công văn cho Ủy
ban kháng chiến hành chính tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh về việc phát triển tiểu
thủy nông. Vì vậy Ủy ban kháng chiến hành chính Nghệ An và Hà Tĩnh cũng
có công văn gửi cho các huyện về việc thực hiện chủ trương đắp đập, đào
mương, đào giếng, đào ao… để giữ nước tưới ruộng. Trên cơ sở đó công tác
thủy nông ở hai tỉnh đã đạt được những kết quả đáng khích lệ.
Ở Nghệ An, năm 1949 hoàn thành công trình hồ chứa nước Sông Rộ
(xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương), khởi công từ năm 1947, do người Pháp
thiết kế, khu giao thông công chính chỉ đạo thi công. Đây là công trình thủy
nông lớn được xây dựng đầu tiên của chế độ mới ở Nghệ An.
Năm 1950 tiến hành tu bổ hệ thống Bắc Nghệ An với 61.590m 3. Năm
1952 toàn tỉnh đào mương chống hạn, làm 290 con đập và 70 con mương.
Năm 1953 đắp bờ giữ nước 457km, 307.042 ngày công, đảm bảo tưới
30.665ha. Nhân dân các huyện còn đào nhiều ao hồ trữ nước cứu lúa, nạo vét
hệ thống Bắc 16.540m3, bằng 92 000 công, tu bổ hồ đập 9 360 m 3, ghép đá
các loại 764m3. Đến tháng 5/1954 nhiều huyện trong tỉnh đã tiến hành đắp các
đập: Nghi Công (Nghi Lộc), Thạch Tiền (Hưng Nguyên), Khe Bung (Quỳnh
Lưu), Hao Hao (Nam Đàn), Đình Dù (Diễn Châu). Tháng 7/1954, Sau thắng
lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ được kí kết, cả miền
Bắc trong đó có nhân dân Nghệ - Tĩnh phấn khởi bước vào thời kì hòa bình
25
tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, Hiệp định vừa kí kết thì “trận