(Luận văn thạc sĩ) LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH VỀ HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY - Pdf 61

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
--------------------

NGUYỄN VĂN DOÃN

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH VỀ HÌNH PHẠT TÙ
CÓ THỜI HẠN TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
--------------------

NGUYỄN VĂN DOÃN

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH VỀ HÌNH PHẠT TÙ
CÓ THỜI HẠN TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY
Ngành:Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8380104

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. PHẠM VĂN BEO


2.5. Quy định về hình phạt tù có thời hạn trong trong pháp luật hình sự giai đoạn
từ năm 2015 đến nay ........................................................................................... 47
Chương 3: MỘT SỐ HẠN CHẾ VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN
VIỆC QUY ĐỊNH VỀ HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN TRONG PHÁP
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ................................................................................55
3.1. Những yêu cầu và định hướng cải thiện quy định hình phạt tù có thời hạn .55
3.2. Hạn chế từ các quy định về hình phạt tù có thời hạn trong pháp luật hình sự
hiện hành..............................................................................................................56
3.3. Các giải pháp định hướng hoàn thiện và đề xuất các quy định về hình phạt
tù có thời hạn .......................................................................................................59
KẾT LUẬN ..............................................................................................................73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT:

BLHS

: Bộ luật Hình sự

BLTTHS

: Bộ luật Tố tụng Hình sự

CNXH

: Chủ nghĩa xã hội

ĐNPL

Bảng 2.5. Số liệu thống kê 10 khung hình phạt tù có chứa mức thời gian tối đa
cao nhất theo BLHS 1985.
Bảng 2.6. Số liệu thống kê 10 khung hình phạt tù có chứa mức thời gian tối
thiểu thấp nhất theo BLHS 2009.
Bảng 2.7. Số liệu thống kê 10 khung hình phạt tù có chứa mức thời gian tối đa
cao nhất theo BLHS 2009.
Bảng 2.8. Số liệu thống kê 10 khung hình phạt tù có chứa các mức thời gian tối
đa cao nhất theo BLHS 2015.
Bảng 2.9. Số liệu thống kê 10 khung hình phạt tù có chứa mức thời gian tối
thiểu thấp nhất theo BLHS 2015.
Bảng 3.1. Số liệu thống kê các khung hình phạt có cải tạo không giam giữ
BLHS 2015.
Bảng 3.2. Số liệu thống kê BLHS 2015 các khung quy định hình phạt có cải tạo
không giam giữ được phép lựa chọn thay thế với hình phạt tù có thời hạn.
Bảng 3.3. Số liệu thống kê quy định mức thấp nhất và cao nhất của hình phạt
TCHT trong BLHS một số nước và Việt Nam hiện nay.


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phan Chu Trinh, một chí sĩ yêu nước đấu tranh trong thời kỳ Thực dân Pháp
đô hộ từng bị tù đày một thời gian dài có những trải nhiệm thực rất gian lao và với
khí chất bất khuất của mình có những câu thơ bất hủ về cảnh phải chịu tù:
“Dầu ai tại ngoại đù thiên thu
So lại không qua nhất nhật tù” [27]
Hay như tục ngữ dân gian ta có câu: “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại”
nghĩa là một ngày phải chịu tù đày như dài bằng cả nghìn năm ở ngoài, ý chỉ rằng
sự khó khăn và khổ sở khi phải chịu đựng cảnh tù giam chỉ một thời gian ngắn cũng
thật sự khủng khiếp.
Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời kỳ đấu tranh dành độc lập từng bị giam

Ngày nay các hệ thống PLHS tại các quốc gia đặt loại hình phạt tù có thời
hạn (TCTH) là trọng tâm và tìm cách tùy biến nó bằng các điều kiện và hình thức
khác đi kèm để có thể gia giảm tính chất cũng như mức độ nặng nhẹ của nó để đảm
bảo mục đích của hình phạt.
Tuy có thể có những hình thái thể hiện khác nhau nhưng đặc tính của hình
phạt TCTH vẫn hiện hữu thường xuyên trong các HTHP. Về thực chất hình phạt
TCTH là một hình phạt tước đi sự tự do của một người bằng cách thức tách một đối
tượng phạm tội ra khỏi đời sống xã hội và cộng đồng cụ thể trong một khoảng thời
gian nhất định.
Tại Việt Nam, HTHP trong thời kỳ ban đầu của các triều đại Phong kiến
cũng rất đa đạng và khắc nghiệt, qua đối chiếu có thể thấy rằng HTHP ở nước ta
thời kỳ Phong kiến ảnh hưởng nặng nề từ Phong kiến Trung Quốc. Trong đó hình
phạt TCTH được biểu thị bằng nhiều hình thức, là một hình phạt điển hình nổi bật
với các hình phạt khác trong một hệ thống gọi là “Ngũ hình: Xuy hình (đánh roi);
Trượng hình (đánh trượng); Đồ hình, có ba bậc; Lưu hình, có ba bậc; Tử hình, có
ba bậc” [65, tr.19] và chế định hình phạt TCTH với nhiều đặc tính biến thể thay đổi
qua các thời kỳ cần được nghiên cứu kỹ hơn.
Đất nước Việt Nam đến nay đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử thăng trầm,
một ngàn năm bắc thuộc, trăm năm bị thực dân xâm chiếm và nội chiến đặc biệt là
2


giai đoạn cận đại khi chyển giao giữa các ý thức hệ Phong kiến, Tư bản và Xã hội
chủ nghĩa. Nhà nước và Pháp luật cũng dần hình thành, biến đổi và có những sự vận
động hoàn thiện nhất định cho đến ngày nay.
Ngày 2/9/1945 là ngày Việt Nam tuyên bố độc lập, mở ra một thời kỳ mới,
thời kỳ rũ bỏ chế độ Phong kiến và xây dựng một đất nước với tư duy mới và nền
tảng là các giá trị chung của nhân loại và phù hợp với tình hình đất nước từng thời
kỳ.
Quy định hình phạt TCTH thay đổi diễn ra mạnh mẽ và tạo ra sự khác biệt

thực tế của đất nước.
Với vai trò rất quan trọng của hình phạt TCTH trong quy định của PLHS
nước ta, cùng các điều kiện thay đổi của xã hội, xu hướng chung của nhân loại cùng
chính sách chủ trương của Đảng và nhà nước, vấn đề này là một điều đáng được
quan tâm nghiên cứu nhằm phục vụ cho quá trình xây dựng PLHS đặc biệt là vấn đề
hình phạt và tội phạm. Đây cũng là lý do tác giả đã chọn đề tài "Lịch sử phát triển
các quy định về hình phạt tù có thời hạn trong pháp luật hình sự Việt Nam từ
năm 1945 đến nay" để làm đề tài luận văn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Về nghiên cứu vấn đề HTHP và hình phạt TCTH trong nước theo trình tự
thời gian cũng chỉ dừng lại ở mức độ sơ khởi và liệt kê so sánh, cũng có những
nghiên cứu riêng lẻ về các hình phạt khác. Lấy một số dẫn chứng các đề tài và các
công trình nghiên cứu có liên quan một phần như:
Sách chuyên khảo của Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp “Hình phạt trong
Luật Hình sự Việt Nam”, xuất bản 1995. Sách chuyên Khảo “Pháp luật hình sự Việt
Nam từ thế kỷ X đến nay- lịch sử và thực tại”, do tác giả TSKH.GS. Lê Cảm (chủ
biên) phát hành năm 2018, tác phẩm này thật sự là một công trình nghiên cứu công
phu toàn diện về PLHS, các định chế pháp luật, các triều đại nhà nước khác nhau
qua các giai đoạn lịch sử đất nước tự chủ từ thế kỷ thứ X đến nay với sự phân đoạn
nghiên cứu theo từng thời kỳ lịch sử và các lần pháp điển hóa hình sự rất chi tiết;
Một số nhóm khác trong các nghiên cứu của các luận văn thạc sĩ viết về các
đề tài liên quan đến hình phạt và hình phạt TCTH như “Hình phạt tù và thi hành
4


hình phạt tù - những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Trần Thị Thu Hằng năm 2011,
nghiên cứu về hình phạt tù và sự tương quan với thi hành hình phạt tù từ lý luận và
thực tiễn áp dụng trong những năm 2004-2008, và có một số kiến nghị giải pháp
trong việc thi hành hình phạt tù có thời hạn.
Đề tài luận văn thạc sĩ luật học “Hình phạt tù có thời hạn theo pháp luật hình

lịch sử luật hình sự mà chưa đi vào cụ thể quá trình thay đổi của hình phạt TCTH và
các chế định có liên quan. Vì thế thật sự hữu ích nếu có một sự nghiên cứu nghiêm
túc các quy định trong hình phạt TCTH qua từng thời kỳ lịch sử lập pháp của nhà
nước và pháp luật thời kỳ cận đại từ khi nước ta dành được độc lập năm 1945 đến
nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu một số vấn đề lý luận
chung cũng như những quy định cụ thể về hình phạt TCTH dưới khía cạnh lập pháp
hình sự nhằm tìm ra những mặt tích cực và hạn chế trong quy định hình phạt tù mỗi
thời kỳ. Từ đó kiến nghị hoàn thiện và dự báo xu thế sự biến đổi của hình phạt
TCTH trong PLHS.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu như trên, đề tài có những nhiệm vụ chủ yếu sau:
Trình bày những vấn đề lý luận chung về hình phạt TCTH.
Trình bày phân tích so sánh đối chiếu thêm những quy định về hình phạt
TCTH của một số nước trên thế giới với quy định tại Việt Nam.
Trình bày so sánh và đánh giá quy định về hình phạt TCTH trong luật hình
sự từ năm 1945 đến nay theo từng giai đoạn cụ thể của lịch sử.
Đề xuất các giải pháp khắc phục các mặt hạn chế của quy định về hình phạt
tù hiện này từ nghiên cứu lịch sử, thực tại và xu hướng của thế giới
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Quy định về hình phạt TCTHtrong pháp luật hình sự
Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu:Luận văn nghiên cứu hình phạt TCTH dưới góc độ lập
pháp tập trung trong giai đoạn từ 1945 đến hiện nay với nhiều phân đoạn từ sơ khai
đến các lần pháp điển hoá PLHS nước ta.
6





Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN TRONG
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm, đặc điểm, mục đích của hình phạt trong pháp luật hình sự
1.1.1. Khái niệm về hình phạt
Hình phạt đã gắn liền với sự hình thành Nhà nước và Pháp luật từ thời cổ
đại, cho đến ngày nay hình phạt được xem như là một trong những biện pháp quản
lý xã hội bằng pháp luật rất hữu hiệu. Hình phạt thường được áp dụng cho những
người phạm tội bị cấm mà theo theo khoa học hình sự hiện đại là gắn liền với tội
phạm nhất định
Theo Tự điển giải thích thuật ngữ luật học, Nhà xuất bản Công an nhân dân
thì giải thích rằng: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nhà nước được Luật hình sự
quy định và do toà án áp dụng có nội dung tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của
người phạm tội nhằm trừng trị giáo dục họ cũng như nhằm giáo dục người khác tôn
trọng pháp luật, đấu tranh phòng và chống tội phạm”. [20, tr.64]
Trên phương diện lịch sử PLHS của nước ta, khái niệm về hình phạt chỉ
được chính thức quy định lần đầu tiên tại BLHS 1999. Trước đó hầu hết các hình
phạt cụ thể được phân bổ trong các quy định về tội phạm tại các văn bản riêng lẻ,
các nhà lập pháp chưa có quy chuẩn hệ thống hình phạt mang tính khái quát khoa
học. Ngay cả BLHS 1985 là BLHS đầu tiên cũng không nêu khái niệm hình phạt
trong phần chung của BLHS. Theo Điều 26 BLHS 1999 quy định rằng: “Hình phạt
là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn
chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình
sự và do Toà án quyết định”. Trải qua nhiều lần thay đổi bổ sung và thay thế, đến
hiện nay khái niệm hình phạt trong BLHS 2015 xét về nội dung vẫn giữ lại các nội
dung trước đó nhưng có bổ sung mở rộng thêm đối tượng áp dụng hình phạt đó là
pháp nhân thương mại phạm tội (Điều 30 BLHS 2015).
Một cách biểu thị khái quát, đầy đủ và cân bằng hơn sẽ là quan điểm của

(6) Hình phạt phải đồng nhau nghĩa là sự công bằng giữa các đối tượng
phạm tội, không phân biệt đối tượng, tuy nhiên đây chỉ là đặc tính tương đối, với
một số đối tượng có những điều kiện nhất định thì hình phạt sẽ có tính chất tăng
9


nặng hoặc giảm nhẹ, nhưng sự gia giảm này cũng phải có quy định rõ ràng và điều
kiện hết sức nghiêm ngặt.
(7) Hình phạt tạo nên án tích cho người chịu hình phạt, án tích này chỉ được
xóa đi khi đảm bảo được một số điều kiện về thời gian và hành vi sau khi thụ lý
hình phạt.
1.1.3. Mục đích của hình phạt
Mục đích của hình phạt có nhiều quan điểm, trước đây, các Nhà nước Phong
kiến thực dân luôn xem mục đích hình phạt là sự trừng phạt đối tượng phạm tội, nó
được xem là cái giá phải trả theo nguyên tắc cổ xưa là luật về sự trả thù ngang bằng
(theo nguyên tắc lex talionis) thể hiện trong bộ luật cổ Hamurabi tại Babylon cổ đại,
hay trong Kinh thánh Do Thái cũng có nhắc đến nguyên tắc “mắt đền mắt, răng đền
răng” như câu ngạn ngữ nổi tiếng “an eye for an eye and a tooth for a tooth”, những
nguyên tắc trả thù ngang bằng đã rất phổ biến thời cổ đại ăn sâu vào tiềm thức của
các tầng lớp thống trị cũng như toàn xã hội thời đó. Tuy nhiên phong trào bảo vệ
quyền con người cũng như các ngành khoa học xã hội đã phát triển, xã hội không
còn quan niệm hình phạt có mục đích trừng phạt ngang hàng hoặc trừng phạt là yếu
tố chính của hình phạt nữa, mà nó kèm theo rất nhiều mục đích nhân văn khác mang
tính chất cải tạo người phạm tội và ngăn ngừa khả năng tội phạm diễn ra, nghĩa là
quan điểm về việc phòng ngừa tội phạm được đề cao đó cũng được xem là nhiệm
vụ của nhà nước và pháp luật đề ra vậy.
Tuy còn nhiều tranh cãi giữa các quan điểm nhưng quan điểm được chấp
nhận rộng rãi nhất là mục đích của hình phạt có 3 mục đích chính:
“Một là giáo dục người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội, có ý
thức tuân thủ theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa; Hai là

Luật Lệ thời nhà Nguyễn cũng có những điểm thể hiện sự trái ngược này. Vì thế
cũng có thể giải thích phần nào do việc kế thừa truyền thống nên dẫn đến các nhà
làm luật vẫn duy trì một cách thể hiện như điều luật trên đã nêu.
1.1.4. Phân chia hình phạt trong hệ thống hình phạt
Để dễ dàng xắp xếp, phân loại cho các hoạt động nghiên cứu và đặc biệt cho
việc soạn thảo cũng như áp dụng hình phạt trong BLHS, hình phạt ngày nay được
chia ra thành một hệ thống chặt chẽ, có thứ tự theo sự nghiêm khắc từ thấp đến cao,
11


theo đó hệ thống cơ bản nhất ngày này đa số các nước áp dụng đó là: (1) Hình phạt
không giam giữ: cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, phạt tiền, tước một số quyền
công dân, tịch thu tài sản, trục xuất; (2) Hình phạt giam giữ: TCTH và tù không thời
hạn còn gọi là tù chung thân; (3) Hình phạt tử hình.
Với cách phân loại khác mà các nhà nghiên cứu luật học trong giai đoạn
1963-1975 tại Sài Gòn Miền nam Việt Nam có nêu lên là có ba loại hình phạt chính
gọi là chính hình: Một là Thể hình: Hình phạt duy nhất là hình phạt tử hình, đây là
hình phạt duy nhất không thể sửa cũng không thể phân chia; Hai là Hình phạt bác
đoạt tự do hay hạn chế tự do: Là hình phạt TCTH hoặc chung thân, khổ sai hữu
hạn, cấm cố, cấm lưu trú, phạt giam…; Ba là Ngân hình (hình phạt vào tài sản):
Phạt tiền hoặc tịch thu tài sản.
Một cách thức phân loại khác để áp dụng thực tế thuận tiện hơn thì có thể
chia ra làm hình phạt chính và hình phạt bổ sung, theo đó thì hình phạt chính là hình
phạt được áp dụng độc lập với hình phạt khác và chỉ duy nhất hình phạt chính áp
dụng. Hình phạt bổ sung là hình phạt có thể được tuyên án kèm theo khi có hình
phạt chính. Với cách phân loại này sẽ dẫn đến một hình phạt tùy lúc lại là hình phạt
chính, có lúc lại là hình phạt bổ sung điển hình như phạt tiền. Cách phân loại này
phù hợp với thực tiễn áp dụng hơn nên phần lớn các nước sử dụng cách phân loại
này và Việt Nam trong BLHS cho đến nay cũng phân chia theo cách này. PLHS
Việt Nam tập hợp các hình phạt sau quy định vào hình phạt chính: Cảnh cáo; Phạt

Tuy nhiên với khoa học pháp lý, khái niệm trên là chưa đầy đủ để nói lên
được tính pháp lý nội hàm của nó, vì đây chỉ là khái lược bản chất nội tại của hình
phạt TCTH, vì thế cần phải xem xét sâu xa hơn về các đặc điểm và các điều kiện
pháp lý khác để có được khái niệm mang tính khoa học pháp lý cao hơn. Chính vì
thế các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều khái niệm có kèm theo các khía cạnh khác
của hình phạt này để cố gắng có được cái nhìn toàn diện hơn với hình phạt TCTH.
Một sự giải thích nổi bật được đặc tính đặc trưng hình phạt tù của Từ điển
luật học, Viện khoa học pháp lý- Bộ tư pháp (Nhà xuất bản Tư pháp) giải thích như
sau:
“Hình phạt tù là hình phạt tước quyền tự do của con người, buộc người bị
kết án phải cách ly khỏi cuộc sống bình thường của xã hội, sống trong mội trường
13


riêng biệt, có sự kiểm soát chặt chẽ (trại giam)”[64, tr.361], và còn cho rằng đây là
hình phạt magn tính truyền thống trong luật hình sự các nước nói chung và cũng là
loại hình phạt được áp dụng phổ biến nhất trong thực tế của chúng ta hiện nay.
Một quan điểm về hình phạt TCTH ngắn gọn nhưng đầy đủ và xúc tích làm
nổi bật khía cạnh giáo dục người phạm tội hơn trong phần khái niệm là “Tù có thời
hạn về thực chất là giam người bị kết án ở các trại giam, tức là cách ly người đó ra
khỏi môi trường xã hội bình thường trong một thời gian nhất định để giáo dục và
cải tạo họ”.[66, tr.359]
Lịch sử phát triển PLHS của Việt Nam cho thấy hình phạt TCTH là một
hình phạt có truyền thống rất lâu đời từ thời Phong kiến đến nay. Chỉ đến khi pháp
điển hoá về PLHS lần thứ nhất với BLHS 1985 mới được quy định rõ ràng trong
phần chung của BLHS, về sau qua nhiều lần sửa đổi và ban hành các BLHS khác
thay thế, chế định chỉ xuất hiện cụ thể trong các quy định hình phạt dành cho các tội
phạm, sau này đều được quy định rõ ràng bằng một điều trong phần chung của bộ
luật. BLHS 1985 là bộ luật đầu tiên quy định hình phạt tù dưới hình thức như là
định nghĩa pháp lý (ĐNPL), quy định tại điều 25; BLHS năm 1999 quy định tại

chỉ bị thu hẹp ở mức cao nhất chứ chưa hoàn toàn bị tước bỏ mất, họ vẫn được
sống, sinh hoạt, lao động, học tập ở mức cơ bản trong khuôn khổ ràng buộc nhất
định và những điều khiện giới hạn.
Một sự hạn chế tự do ở một mức độ nào đó là điều hợp lý khi cần có sự giới
hạn đó vì lợi ích chung, lợi ích của cộng đồng, trên nguyên tắc ấy, các nhà lập pháp
cũng đã hình thành nên các loại hình phạt mà hình phạt TCTH là hình phạt mang
tính toàn diện nhất giữa các khía cạnh trừng trị, giáo dục mang tính nhân bản và
phòng ngừa riêng lẫn phòng ngừa chung.
TCTH có thể ít khắc nghiệt với một thời gian ngắn nhưng cũng rất khắc
nghiệt với một thời gian giam giữ lâu dài vì thế nó có khả năng đáp ứng được mục
đích của hình phạt một cách sâu rộng hơn.
Yếu tố thời gian là một cấu thành quan trọng trong hình phạt TCTH, một yếu
tố rất đặc trưng trong hình phạt TCTH, yếu tố này sẽ làm căn cứ để xác định việc
nặng hoặc nhẹ đi hình phạt này. Nghĩa là một biến số thời gian trong hình phạt
TCTH có thể dùng để đo lường sự nặng hay nhẹ của hình phạt TCTH. Yếu tố thời
15


gian đảm bảo được định lượng cho việc quy định hình phạt tù cho các tội phạm.
Hình phạt TCTH so với hình phạt tù chung thân tuy có đặc tính tương tự nhau về
mặt hạn chế không gian nhưng khác biệt lớn nhất là về mặt thời gian phải chịu hình
phạt.
Về tính giới hạn thời gian của hình phạt TCTH, đa phần các bộ luật của các
nước trong giai đoạn hiện nay đều có quy định mức tối thiểu và mức tối đa của hình
phạt TCTH. Các nhà lầm luật cho rằng, ngoài việc giới hạn mức thời hạn ở mức tối
đa và tối thiểu thì việc hình thành các cộc mốc này còn có ý nghĩa rằng, với mức
thấp nhất là để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật không được phép áp dụng
thấp hơn trong hình phạt tù, với mức cao nhất để bảo đảm quyền con người và tính
nhân văn của khung hình phạt vì không được phép áp dụng vượt qua nó trong
khuôn khổ hình phạt tù. Trong khoảng thời gian trước đây khi chưa chính thức pháp

phạt cụ thể, theo kỹ thuật lập pháp hiện nay hình phạt TCTH thường có cấu trúc quy
định từ mức thấp đến mức cao cho một khung hình phạt; Tính tương đối về mặt thời
gian còn thể hiện ở mức áp dụng thời gian tù có thể thay đổi phụ thuộc vào các điều
kiện, đối tượng khác nhau mà luật quy định ở các chế định khác có liên quan.
Trong sự tương quan với hệ thống hình phạt tổng thể, hình phạt TCTH luôn
là hình phạt chính trong hệ thống hình phạt của PLHS của các quốc gia trên thế
giới. Hình phạt TCTH trong kết cấu phân loại là hình phạt chính nên còn có thể
kèm theo các hình phạt bổ sung theo các quy định của PLHS. Tuy nhiên ở chiều
ngược lại, hình phạt TCTH với các tội phạm ít nghiêm trọng có xu hướng chuyển
quy định về áp dụng các hình phạt khác thay thế như cải tạo không giam giữ hoặc
phạt tiền.
Mức độ phổ biến của hình phạt TCTH là rất lớn, xu hướng này vẫn có khả
năng xảy ra trong tương lai khi các hình phạt như tù chung thân và tử hình ngày
càng có xu hướng giảm hoặc loại bỏ. Hình phạt TCTH có sự phổ biến lợi thế trong
sử dụng so với các hình phạt khác bởi sự tuỳ biến cao về biến số thời gian, đồng
thời có thể có các điều kiện khác đi kèm dẫn đến hiệu quả của hình phạt vẫn đảm
bảo với từng yêu cầu của xã hội trong nhiều giai đoạn. Và như vậy hình phạt TCTH
sẽ gần như là hình phạt trung tâm với sự phổ biến và hiện diện hầu hết trong các
quy định về tội phạm. Khảo sát qua các BLHS của nhiều quốc gia, từ trước đến nay
17


thì hình phạt TCTH chiếm đa số trong tỷ lệ các hình phạt áp dụng cho các loại tội
phạm, thậm chí vài trường hợp nó còn có mặt 100% trong các điều quy định về tội
phạm tại một số BLHS ở các quốc gia hoặc tại Việt Nam trong một số thời kỳ trước
đây.
Hình phạt TCTH có thể gia giảm mức hình phạt khi tuyên án, và hình thức
áp dụng thi hành cũng có thể khác nhau, tuy nhiên việc này các nhà lập pháp đã hết
sức hạn chế và chỉ có thể chuyển đổi thực hiện theo xu hướng nhẹ hơn, ít nghiêm
khắc hơn và có lợi cho người phải chấp hành để tránh sự lạm dụng của tòa án và có

đích mà luật hình sự quy định mà còn có sự cân bằng và hiệu quả cao hơn so với
các hình phạt khác do đặc điểm riêng của nó mang lại. Ngoài ra hình phạt TCTH
cũng mang những mục đích cụ thể hơn:
(1) Giam giữ người bị kết án mục đích để tách biệt họ ra khỏi xã hội thông
thường mà họ đã tác động đến các mối quan hệ xã hội đó, trước tiên nhằm tránh cho
họ khả năng tái phạm, hoặc gây ảnh hưởng xấu đến các mối quan hệ xã hội tiếp
theo sau đó, vì tâm lý tội phạm sẽ có xu hướng lặp lại hoặc gia tăng hành vi nếu
không được sự kiểm soát.
(2) Hình phạt TCTH xét về mặt giới hạn thời gian thực hiện hình phạt: Nhằm
kiểm soát được các hành vi và đời sống người phải bị chấp hành trong một thời hạn
nhất định. Khoảng thời gian mà khoa học hình sự nghiên cứu từ tâm lý, sinh lý, giáo
dục để phù hợp và cần thiết với quá trình cải tạo lại một con người tùy theo mức độ
tội phạm.
(3) TCTH giam giữ người bị kết án nhằm đến sự hiệu quả của sự giáo dục
cải tạo bởi sự tập trung và kiểm soát người chấp hành về mặt không gian.
(4) Hình phạt TCTH như một tấm gương soi công lý bền bỉ hiện hữu trong
thời gian dài cho các thành viên khác có thể nhận biết hậu quả phải chịu hình phạt
khi thực hiện tội phạm giúp cho các cá nhân khác điều chỉnh hành vi của mình cho
phù hợp tránh tác động xấu đến các giá trị mà PLHS bảo vệ. Tuy nhiên luận điểm
này còn tranh cãi bởi một số nhà hoạt động nhân quyền cho rằng không thể dùng
hình phạt của một người để làm gương hoặc một biện pháp giáo dục cho người
khác, đó là điều không nên có.
1.2.4. Bản chất của hình phạt tù có thời hạn
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status