BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
------------------
TRẦN KHẮC HUY
GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
TP. HỒ CHÍ MINH – 2012
4
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
------------------
TRẦN KHẮC HUY
GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2010
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.54
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
6
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài....................................................................................7
2. Mục đích nghiên cứu.............................................................................9
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.....................................................................9
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu........................................................14
5. Phương pháp nghiên cứu.....................................................................14
6. Đóng góp của luận văn........................................................................15
7. Kết cấu của luận văn............................................................................15
NỘI DUNG
Chương 1: Khái quát tình hình giáo dục Trung học phổ thông ơ
thành phố Hồ Chí Minh trước năm 1996
1.1. Thành phố Hồ Chí Minh – vùng đất, con người và truyền thống
văn hóa - giáo dục
1.1.1. Điều kiện tự nhiên..................................................................16
1.1.2. Điều kiện kinh tế – xã hội.......................................................23
1.1.3. Truyền thống văn hóa – giáo dục...........................................26
1.2. Khái quát tình hình Giáo dục Trung học phổ thông ở thành phố
Hồ Chí Minh trước năm 1996
1.2.1. Giai đoạn 1975 – 1986 ..........................................................30
1.2.2. Giai đoạn 1986 – 1995 ..........................................................33
Tiểu kết chương 1.............................................................................35
7
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................113
8
PHỤ LỤC......................................................................................................120
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Việt Nam vốn là một nước có truyền thống hiếu học, khoa bảng từ lâu
đời. Những chính sách giáo dục đúng đắn nhằm đào tạo nhân lực, bồi dưỡng
nhân tài đã giúp cho lịch sử Việt Nam suốt hàng nghìn năm qua luôn có được
một sự phát triển bền vững. Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước đang
hướng tới xây dựng, phát triển một nền kinh tế tri thức thì vai trò của ngành
giáo dục càng trở nên quan trọng. Việt Nam luôn đề cao công tác phát triển
giáo dục, xem đó là yếu tố tiên quyết đối với sự phát triển của quốc gia.
Những chủ trương, đường lối chỉ đạo đúng đắn của Đảng và các chính sách
phát triển phù hợp của Nhà nước đã tạo nên những thành tựu không nhỏ trong
công tác giáo dục của Việt Nam trong nhiều năm qua. Điều này được thể hiện
một cách đồng bộ, toàn diện ở tất cả các khu vực, các tỉnh thành trong cả
nước, nổi bật nhất là tại các trung tâm kinh tế - văn hóa – chính trị của quốc
gia như: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh...
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII năm 1996 với quan
điểm giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, trong hơn 15 năm qua, Đảng bộ
và Chính quyền các cấp cùng nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã nỗ lực
chăm lo sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Thời gian qua, ngành giáo dục và đào
tạo thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được những thành tựu nổi bật như xây
dựng và củng cố mạng lưới trường lớp khang trang cho mọi con em nhân dân,
thực hiện phổ cập giáo dục Tiểu học, Trung học cơ sở và bậc Trung học phổ
thông theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ VIII.
dưỡng nhân tài trên cơ sở giáo dục nhân cách. Thông qua đó để mỗi nhà giáo
đều xác định rõ tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực, vấn đề
phát triển giáo dục phù hợp với yêu cầu khả năng đáp ứng của kinh tế xã hội
thành phố, gắn liền với khả năng quản lý của nhà nước để giữ vững và nâng
cao chất lượng giáo dục.
10
Với những lý do nêu trên, chúng tôi quyết định chọn vấn đề “Giáo dục
Trung học phổ thông ở thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1996 đến năm 2010”
làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình.
2. Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu những thành tựu và hạn chế
của giáo dục trung học thành phố Hồ Chí Minh từ khi có Nghị quyết TW 2
(khóa VIII) đến 2010 (tức từ năm 1996 đến năm 2010). Nghiên cứu còn góp
phần làm sáng tỏ nhận thức những quan điểm, chính sách của Đảng bộ, chính
quyền và những nỗ lực vươn lên của đội ngũ cán bộ, giáo viên, công nhân
viên, học sinh thành phố Hồ Chí Minh nhằm phát huy những giá trị tích cực
về truyền thống hiếu học của dân tộc ta nói chung và thành phố Hồ Chí Minh
nói riêng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ở các cấp học, bậc học. Từ
đó rút ra một số định hướng làm nền tảng cho công tác quản lý của nhà nước
nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đối với hoạt động giáo dục ở
các cấp học, bậc học phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - văn hóa – xã
hội thành phố Hồ Chí Minh trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Sau năm 1975, công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế được tiến
hành nhằm đưa cả nước tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa, bảo vệ thành
quả của cách mạng Việt Nam. Lĩnh vực giáo dục và đào tạo được đặc biệt coi
trọng nhất là từ sau Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã mở đầu công
còn dầy công lựa chọn, chắt lọc từng đề mục, từng sự kiện nối tiếp nhau để
nêu lên thực trạng nền giáo dục trong các thời kỳ lịch sử và yêu cầu phát triển
giáo dục trong giai đoạn công nghiệp hóa. Công trình nghiên cứu trên có giá
trị tham khảo.
Cuốn "Công tác giáo dục và người thầy giáo xã hội chủ nghĩa" của
Thủ tướng Phạm Văn Đồng (Nxb Sự thật, Năm 1970) đã đánh giá cao
chương trình giáo dục phổ thông phải đảm bảo những cái cơ bản, toàn diện
và phải cân đối; và vai trò của người thầy giáo xã hội chủ nghĩa, đó là đội
ngũ cán bộ của chúng ta đang rèn luyện trong nhà trường phải vừa đỏ vừa
chuyên, đỏ để mà chuyên, chuyên để mà đỏ. Đây là tài liệu có giá trị tham
khảo nhằm định hướng cho đội ngũ cán bộ giáo viên trong thời kỳ mới.
Nói về giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh, trong tác phẩm “Giáo dục
thành phố Hồ Chí Minh – 50 năm đấu tranh xây dựng và phát triển 1945 1995” do TS Hồ Thiệu Hùng (chủ biên) phát hành năm 2009 (NXB Giáo dục
13
Việt Nam) đã viết về giáo dục thành phố Hồ Chí Minh trong một giai đoạn
trải dài nửa thế kỷ (1945-1995). Đây là sản phẩm của quá trình nghiên cứu
miệt mài của tác giả và nhóm biên soạn, là công trình nghiên cứu, là tài liệu
quý, thậm chí có những tư liệu trở nên vô giá đối với thế hệ sau.
Tác phẩm “30 năm giáo dục và đào tạo thành phố Hồ Chí Minh”của
TS Huỳnh Công Minh (chủ biên), do Báo Giáo dục TP.HCM và NXB Tổng
hợp TP.HCM phát hành năm 2005 là công trình chào mừng 30 năm giải
phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (1975-2005). Công trình này
đã khái quát lại toàn bộ sự phát triển, lớn mạnh ngành giáo dục thành phố
trong 30 năm cũng như ghi nhận công sức đóng góp của những người đi trước
qua các nhiệm kỳ công tác đã vượt qua bao khó khăn, thách thức từ những
ngày đầu giải phóng để đưa ngành giáo dục thành phố phát triển đi lên về quy
mô lẫn chất lượng đào tạo. Đồng thời, từ những vấn đề có tính lý luận và thực
Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn đổi mới, đặc biệt là giai đoạn đẩy
mạnh sự nghiệp Công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước (từ 1996 đến 2010).
Chính vì vậy, chúng tôi chủ yếu sử dụng nguồn tài liệu gốc lưu trữ tại Sở
Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh qua báo cáo hàng năm và tổng
kết các giai đoạn trong thời gian 1996 – 2010 để làm sáng tỏ thực trạng
“Giáo dục Trung học phổ thông ở thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1996 đến
năm 2010” trong khả năng cho phép.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Như tên đề tài chỉ rõ, đối tượng nghiên cứu chính luận văn là “Giáo
dục Trung học phổ thông ở thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1996 đến năm
2010”. Đề tài đi sâu vào nghiên cứu hoạt động giáo dục ở cấp học bậc trung
học phổ thông và những thành tựu mà ngành giáo dục đào tạo thành phố đã
đạt được trong giai đoạn này.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Từ năm 1996 đến năm 2010 (lấy mốc từ khi Nghị quyết
TW 2 khóa VIII của Đảng ra đời với quan điểm “Giáo dục và Đào tạo là
Quốc sách hàng đầu”).
15
Về nội dung: Nghiên cứu giáo dục bậc trung học phổ thông tại Thành
phố Hồ Chí Minh.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết những vấn đề mà đề tài đã đặt ra, chúng tôi dựa vào chủ
nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, những quan điểm của Đảng
và Nhà nước về Giáo dục và Đào tạo làm cơ sở phương pháp luận cho việc
nghiên cứu.
Đây là một đề tài lịch sử nên phương pháp lịch sử và phương pháp
∗
17
NỘI DUNG
Chương 1: KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỚC NĂM
1996.
1.1. Thành phố Hồ Chí Minh – vùng đất, con người và truyền thống
1.1.1. Điều kiện tự nhiên.
Vị trí địa lý
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong toạ độ địa lý khoảng 10o 10’ – 10o 38 vĩ
độ Bắc và 106o 22’ – 106o 54’ kinh độ Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương,
Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, phía Đông
Nam giáp tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền
Giang [61 tr 25].
Thành phố Hồ Chí Minh cách thủ đô Hà Nội gần 1.730km đường bộ,
nằm ở ngã tư quốc tế giữa các con đường hàng hải từ Bắc xuống Nam, từ
Ðông sang Tây, là tâm điểm của khu vực Đông Nam Á. Trung tâm thành phố
cách bờ biển Đông 50 km đường chim bay. Đây là đầu mối giao thông nối
liền các tỉnh trong vùng và là cửa ngõ quốc tế. Với hệ thống cảng và sân bay
lớn nhất cả nước, cảng Sài Gòn với năng lực hoạt động 10 triệu tấn/năm, sân
bay quốc tế Tân Sơn Nhất với hàng chục đường bay chỉ cách trung tâm thành
phố 7km.
Ðịa hình
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Ðông
Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Ðịa hình tổng quát có dạng thấp dần
từ Bắc xuống Nam và từ Ðông sang Tây. Nó có thể chia thành 3 tiểu vùng địa
hình:
lợi cho sự phát triển các chủng loại cây trồng và vật nuôi đạt năng suất sinh
học cao; đồng thời đẩy nhanh quá trình phân hủy chất hữu cơ chứa trong các
chất thải, góp phần làm giảm ô nhiễm môi trường đô thị
19
Lượng mưa cao, bình quân/năm 1.949 mm. Năm cao nhất 2.718 mm
(1908) và năm nhỏ nhất 1.392 mm (1958). Số ngày mưa trung bình/năm là
159 ngày. Khoảng 90% lượng mưa hàng năm tập trung vào các tháng mùa
mưa từ tháng 5 đến tháng 11; trong đó hai tháng 6 và 9 thường có lượng mưa
cao nhất. Các tháng 1,2,3 mưa rất ít, lượng mưa không đáng kể. Trên phạm vi
không gian thành phố, lượng mưa phân bố không đều, có khuynh hướng tăng
dần theo trục Tây Nam - Ðông Bắc. Ðại bộ phận các quận nội thành và các
huyện phía Bắc thường có lượng mưa cao hơn các quận huyện phía Nam và
Tây Nam.
Ðộ ẩm tương đối của không khí bình quân/năm 79,5%; bình quân mùa
mưa 80% và trị số cao tuyệt đối tới 100%; bình quân mùa khô 74,5% và mức
thấp tuyệt đối xuống tới 20%.
Về gió, Thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng bởi hai hướng gió chính
và chủ yếu là gió mùa Tây - Tây Nam và Bắc - Ðông Bắc. Gió Tây -Tây Nam
từ Ấn Ðộ Dương thổi vào trong mùa mưa, khoảng từ tháng 6 đến tháng 10,
tốc độ trung bình 3,6m/s và gió thổi mạnh nhất vào tháng 8, tốc độ trung bình
4,5 m/s. Gió Bắc- Ðông Bắc từ biển Đông thổi vào trong mùa khô, khoảng từ
tháng 11 đến tháng 2, tốc độ trung bình 2,4 m/s. Ngoài ra có gió tín phong,
hướng Nam - Ðông Nam, khoảng từ tháng 3 đến tháng 5 tốc độ trung bình 3,7
m/s. Về cơ bản TPHCM thuộc vùng không có gió bão. Năm 1997, do biến
động bởi hiện tượng El-Nino gây nên cơn bão số 5, chỉ một phần huyện Cần
Giờ bị ảnh hưởng ở mức độ nhẹ.
mặn 45.500 ha (23,6). Ngoài ra có một diện tích nhỏ khoảng hơn 400 ha
21
(0,2%) là "giồng" cát gần biển và đất feralite vàng nâu bị xói mòn trơ sỏi đá ở
vùng đồi gò.
Nguồn nước và thủy văn
Về nguồn nước, nằm ở vùng hạ lưu hệ thống sông Ðồng Nai - Sài Gòn,
thành phố Hồ Chí minh có mạng lưới sông ngòi kênh rạch rất đa dạng….
Sông Ðồng Nai bắt nguồn từ cao nguyên Langbiang (Ðà Lạt) và hợp lưu
bởi nhiều sông khác, như sông La Ngà, sông Bé, nên có lưu vực lớn, khoảng
45.000 km2. Nó có lưu lượng bình quân 20-500 m3/s và lưu lượng cao nhất
trong mùa lũ lên tới 10.000 m3/s, hàng năm cung cấp 15 tỷ m 3 nước và là
nguồn nước ngọt chính của thành phố Hồ Chí Minh. Sông Sài Gòn bắt nguồn
từ vùng Hớn Quản, chảy qua Thủ Dầu Một đến thành phố với chiều dài 200
km và chảy dọc trên địa phận thành phố dài 80 km. Hệ thống các chi lưu của
sông Sài Gòn rất nhiều và có lưu lượng trung bình vào khoảng 54 m3/s.
Bề rộng của sông Sài Gòn tại Thành phố thay đổi từ 225m đến 370m và
độ sâu tới 20m. Sông Ðồng Nai nối thông qua sông Sài Gòn ở phần nội thành
mở rộng, bởi hệ thống kênh Rạch Chiếc. Sông Nhà Bè hình thành từ chỗ hợp
lưu của sông Ðồng Nai và sông Sài Gòn, các trung tâm thành phố khoảng
5km về phía Ðông Nam. Nó chảy ra biển Ðông bằng hai ngả chính - ngả Soài
Rạp dài 59km, bề rộng trung bình 2km, lòng sông cạn, tốc độ dòng chảy
chậm; ngả Lòng Tàu đổ ra vịnh Gành Rái, dài 56km, bề rộng trung bình
0,5km, lòng sông sâu, là đường thủy chính cho tàu bè ra vào bến cảng Sài
Gòn.
Ngoài trục các sông chính kể trên ra, thành phố còn có mạng lưới kênh rạch
chằng chịt, như ở hệ thống sông Sài Gòn có các rạch Láng The, Bàu Nông, rạch
Tra, Bến Cát, An Hạ, Tham Lương, Cầu Bông, Nhiêu Lộc-Thị Nghè, Bến Nghé,
Từ khi có các công trình thủy điện Trị An và thủy lợi Dầu Tiếng ở
thượng nguồn, chế độ chảy tự nhiên chuyển sang chế độ chảy điều tiết qua
tuốc bin, đập tràn và cống đóng-xả, nên môi trường vùng hạ du từ Bắc Nhà
23
Bè chịu ảnh hưởng của nguồn, nói chung đã được cải thiện theo chiều hướng
ngọt hóa. Dòng chảy vào mùa kiệt tăng lên, đặc biệt trong các tháng từ tháng
2 đến tháng 5 tăng 3-6 lần so với tự nhiên.
Vào mùa mưa, lượng nước được điều tiết giữ lại trên hồ, làm giảm thiểu
khả năng úng lụt đối với những vùng trũng thấp; nhưng ngược lại, nước mặn
lại xâm nhập vào sâu hơn. Tuy nhiên, nhìn chung, đã mở rộng được diện tích
cây trồng bằng việc tăng vụ mùa canh tác. Ngoài ra, việc phát triển các hệ
thống kênh mương, đã có tác dụng nâng cao mực nước ngầm trên tầng mặt
lên 2-3m, tăng thêm nguồn cung cấp nước phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt
của thành phố.
Thảm thực vật
Trên cơ sở các yếu tố cơ bản của điều kiện tự nhiên ở thành phố Hồ Chí
Minh, như đã trình bày; người ta đã khái quát hóa thành ba kiểu sinh thái
cảnh: kiểu lập địa - tương ứng với nó là ba hệ sinh thái thảm thực vật rừng
tiêu biểu; rừng nhiệt đới ẩm mưa mùa, rừng úng phèn và rừng ngập mặn.
Các thảm thực vật rừng nguyên sinh, hiện tại hầu như không còn; song
sự tìm hiểu nó sẽ giúp ích cho việc đánh giá tiềm năng điều kiện lập địa, xác
định phương hướng phục hồi và xây dựng các thảm thực vật đạt hiệu quả
mong muốn, nhất là về cảnh quan, môi trường sinh thái ở một thành phố đông
dân cư của vùng nhiệt đới.
1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội.
Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay có diện tích là 2.095,239 km2, với số
dân gồm 7.549.341 người. (Theo số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê ngày
năm 2011, thành phố Hồ Chí Minh xếp ở vị trí thứ 20/63 tỉnh thành.
Về thương mại, Thành phố Hồ Chí Minh có một hệ thống trung tâm mua
sắm, siêu thị, chợ đa dạng. Chợ Bến Thành là biểu tượng về giao lưu thương
mại từ xa xưa của thành phố, hiện nay vẫn giữ một vai trò quan trọng. Những
thập niên gần đây, nhiều trung tâm thương mại hiện đại xuất hiện như Saigon
Trade Centre, Diamond Plaza... Mức tiêu thụ của Thành phố Hồ Chí Minh
cũng cao hơn nhiều so với các tỉnh khác của Việt Nam và gấp 1,5 lần thủ đô
Hà Nội. Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, có mã giao dịch
25
là VN-Index, được thành lập vào tháng 7 năm 1998. Tính đến ngày 31 tháng
12 năm 2007, toàn thị trường đã có 507 loại chứng khoán được niêm yết,
trong đó có 138 cổ phiếu với tổng giá trị vốn hóa đạt 365 nghìn tỷ đồng.
Tuy vậy, nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh vẫn phải đối mặt với
nhiều khó khăn. Toàn thành phố chỉ có 10% cơ sở công nghiệp có trình độ
công nghệ hiện đại. Trong đó, có 21/212 cơ sở ngành dệt may, 4/40 cơ sở
ngành da giày, 6/68 cơ sở ngành hóa chất, 14/144 cơ sở chế biến thực phẩm,
18/96 cơ sở cao su nhựa, 5/46 cơ sở chế tạo máy... có trình độ công nghệ, kỹ
thuật sản xuất tiên tiến. Cơ sở hạ tầng của thành phố lạc hậu, quá tải, chỉ giá
tiêu dùng cao, tệ nạn xã hội, hành chính phức tạp... cũng gây khó khăn cho
nền kinh tế. Ngành công nghiệp thành phố hiện đang hướng tới các lĩnh vực
cao, đem lại hiệu quả kinh tế hơn.
Việc triển khai thực hiện 12 chương trình và công trình trọng điểm đã có
bước khởi động đồng loạt khá tích cực ở nhiều mức độ khác nhau. Một số
chương trình đã đi vào vận hành khá tốt, một số chương trình, công trình khác
đã khởi động và đang tiếp tục triển khai nhanh hơn, tạo tiền đề thuận lợi khi
bước vào kế hoạch năm 2002. Công viên phần mềm Quang Trung đã đi vào
hoạt động giai đoạn I với 35 doanh nghiệp và đang chuẩn bị giai đoạn II với
dựng cơ sở vật chất để thực hiện đề án. Tính đến nay, đã giải quyết cho
10.452 học viên và 5.391 người sau cai nghiện có việc làm. Các đợt truy quét
cao điểm chống tội phạm có tổ chức theo kiểu xã hội đen vào cuối năm đã đạt
được thắng lợi bước đầu, tạo niềm tin trong nhân dân; Trung ương và thành
phố sẽ tiếp tục truy quét kiên trì, đồng bộ, liên tục và quyết liệt hơn nữa.
Thành phố đã triển khai, đẩy mạnh hoạt động y tế trên cả hai lĩnh vực:
Chăm sóc sức khoẻ ban đầu, năng cao chất lượng khám chữa bệnh và phát
triển y tế chuyên sâu ; các chương trình chăm sóc sức khoẻ trên địa bàn thành
phố hoạt động ổn định, đảm bảo việc chăm sóc sức khoẻ cộng đồng cho nhân
dân (bình quân 6,78 triệu lượt người khám chữa bệnh/năm). Tiếp tục duy trì
hoạt động các chương trình sức khoẻ như phòng chống ung thư, bệnh tim
mạch, bệnh tiểu đường, tai nạn thương tích, chương trình chăm sóc sức khoẻ
ban đầu về mắt cho học sinh ; đẩy mạnh công tác xã hội hoá trong việc tăng
27
cường đầu tư xây dựng, nâng cấp, mở rộng các cơ sở y tế, đặc biệt là cơ sở
khám và chữa bệnh, các trung tâm y tế chuyên sâu, v.v...
1.1.3. Truyền thống văn hóa – giáo dục.
1.1.3.1. Truyền thống văn hóa
Đặc trưng văn hoá của vùng đất này là sự kết hợp hài hòa giữa truyền
thống dân tộc với những nét văn hoá phương Bắc, phương Tây, góp phần hình
thành lối sống, tính cách con người Sài Gòn. Đó là những con người thẳng
thắn, bộc trực, phóng khoáng, có bản lĩnh, năng động, dám nghĩ, dám làm.
Đất Sài Gòn - Gia Định là nơi hội tụ nhiều dòng chảy văn hóa, là "cơ
cấu kiến trúc" Việt - Hoa - Châu Âu. Vì trên 300 năm trước, Bến Nghé – Sài
Gòn xưa là nơi tiếp nhận các nguồn lưu dân từ Trung, Bắc đến lập nghiệp, rồi
các di dân người Hoa vào định cư ở Biên Hòa, Mỹ Tho cùng hội tụ với dân cư
bản địa. Sau đó, Sài Gòn trở thành một trong những trung tâm của cả nước