LỜI CẢM ƠN
Đề tài “Biện pháp phát triển đội ngũ Hiệu trưởng trường Trung học cơ sở
huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ theo Quy định Chuẩn hiệu trưởng" là một nội
dung nhỏ của Khoa Quản lý Giáo dục, nhưng là kết quả của một quá trình nghiên
cứu của bản thân tác giả sau một thời gian học tập, nghiên cứu tại Trường Đại học
Sư phạm Hà Nội. Có được kết quả này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tác giả đã
nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn, động viên của các cơ quan, đơn vị, trường học
và các thầy, cô giáo Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội.
Xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô trong Ban Chủ nhiệm Khoa, các thầy cô
trong Khoa Quản lý Giáo dục, Phòng Sau đại học và các thầy cô trong và ngoài
Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ và tạo điều kiện
cho tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu tại trường.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Nguyễn Thị Mùi, cô giáo
đã tận tụy giúp đỡ, hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và
hoàn thành bản luận văn.
Xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của các đồng chí Lãnh đạo,
Phòng Nội vụ, Phòng Giáo dục và Đào tạo, cán bộ quản lý và giáo viên các trường
THCS trong huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, bạn bè đồng nghiệp và người thân
trong gia đình đã tạo mọi điều kiện về tinh thần, vật chất, thời gian, động viên, chia
sẻ, khích lệ tôi cung cấp nhiều thông tin có giá trị sử dụng cho Đề tài “Biện pháp
phát triển đội ngũ Hiệu trưởng trường Trung học cơ sở huyện Phù Ninh tỉnh
Phú Thọ theo Quy định Chuẩn hiệu trưởng.
Dù đã cố gắng nhiều, song luận văn không thể tránh khỏi những thiếu xót.
Tác giả kính mong nhận được sự chỉ dẫn và góp ý chân tình của các nhà khoa học,
của thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà nội, tháng 10 năm 2013
Tác giả luận văn
Phạm Thị Hồng Loan
NHỮNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN
STT Từ viết tắt Nghĩa của từ
Bảng 2.5. Thống kê trình độ chuyên môn nghiệp vụ của Hiệu trưởng trường
THCS huyện Phù Ninh 41
Bảng 2.6. Thống kê trình độ tin học, ngoại ngữ và chứng chỉ quản lý của Hiệu
trưởng trường THCS huyện Phù Ninh 42
Bảng 2.7. Thống kê thâm niên QLGD của Hiệu trưởng trường THCS huyện
Phù Ninh 43
Bảng 2.8: Đánh giá phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp theo Quy định
Chuẩn của Hiệu trưởng trường THCS huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ 43
Bảng 2.9: Đánh giá về năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm của Hiệu
trưởng trường THCS huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 47
Bảng 2.10: Đánh giá về thực hiện chức năng quản lý theo chuẩn Hiệu trưởng
trường THCS của Hiệu trưởng ở huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 50
Bảng 2.11: Đánh giá về thực hiện nhiệm vụ quản lý theo Điều lệ trường
THCS của Hiệu trưởng ở huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ 51
Bảng 2.12: Tổng hợp kết quả đánh giá về mức độ thực hiện của các biện
pháp được đánh giá để phát triển đội ngũ Hiệu trưởng trường THCS 56
huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ theo quy định chuẩn Hiệu trưởng 56
Bảng 2.13: Tổng hợp kết quả đánh giá về mức độ hiệu quả của các biện pháp
đang thực hiện phát triển Hiệu trưởng trường THCS huyện Phù Ninh, 57
tỉnh Phú Thọ 57
Bảng 2.14: Tổng hợp ý kiến đánh giá những thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng
đến phát triển đội ngũ Hiệu trưởng trường THCS huyện Phù Ninh, 61
tỉnh Phú Thọ 61
Bảng 3.1. Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp phát triển đội
ngũ hiệu trưởng trường THCS huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ theo ý kiến
chuyên gia 103
Bảng 3.2: Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp phát triển đội
ngũ Hiệu trưởng trường THCS huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ huyện Phù Ninh
theo Quy định Chuẩn theo ý kiến chuyên gia 106
Bảng 3.3. Tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
phát từ lợi ích của nhân dân ta, đồng thời phù hợp với chân lý phổ biến của lịch sử
thế giới. Trong những năm qua đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục đã góp phần quan
trọng vào việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần vào
sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên, trước những yêu cầu mới của giáo dục trong
thời kỳ CNH, HĐH, đội ngũ CBQLGD nói chung và đội ngũ Hiệu trưởng nói riêng
có những hạn chế và bất cập. Vẫn còn có một số Hiệu trưởng hạn chế về năng lực
chuyên môn, năng lực quản lý nhà trường, thiếu gương mẫu trong đạo đức, lối sống
và nhân cách, chưa làm gương tốt cho học sinh và đồng nghiệp. Việc cập nhật và
vận dụng các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước của một số
Hiệu trưởng còn chưa tốt. Một số hiệu trưởng trường THCS là giáo viên giỏi được
bổ nhiệm nhưng chưa được đào tạo bồi dưỡng về lý luận và nghiệp vụ quản lý giáo
dục nên thiếu kiến thức về kỹ năng quản lý và lãnh đạo trường học, tầm nhìn hạn
chế nên không thúc đẩy được nhà trường phát triển ổn định và vững chắc.
Để góp phần vào sự phát triển toàn diện của giáo dục ngày 22 tháng 10 năm
2009, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 29/2009/TT -
BGD&ĐT ban hành quy định chuẩn Hiệu trưởng trường THCS, trường THPT và
1
trường phổ thông có nhiều cấp học. Từ năm học 2010-2011 Hiệu trưởng các trường
trung học được đánh giá xếp loại theo Quy định chuẩn hiệu trưởng. Việc ban hành
quy định Chuẩn hiệu trưởng giúp Hiệu trưởng tự đánh giá, từ đó xây dựng kế hoạch
học tập, rèn luyện, tự hoàn thiện và nâng cao năng lực lãnh đạo và quản lý trường
học. Đồng thời đây cũng là căn cứ để các cơ quan quản lý giáo dục đánh giá, xếp
loại Hiệu trưởng phục vụ công tác sử dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, đào tạo, bồi
dưỡng và đề xuất, thực hiện chế độ, chính sách đối với Hiệu trưởng các trường
trung học. Trên cơ sở kết quả đánh giá Hiệu trưởng theo quy định chuẩn, các cơ sở
đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục xây dựng, đổi mới chương
trình đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo quản lý của Hiệu trưởng
các trường trung học .
Theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục & Đào tạo từ năm học 2010-2011 phòng
Giáo dục và Đào tạo Phù Ninh đã thực hiện việc đánh giá xếp loại hiệu trưởng các
4.2. Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là các trường THCS trên địa bàn huyện Phù Ninh, tỉnh
Phú Thọ.
4.3. Giới hạn về khách thể kháo sát
- Lãnh đạo Phòng nội vụ, Phòng Giáo dục và Đào tạo: 03 người
- Phó hiệu trưởng các trường THCS trên địa bàn huyện: 26 người
- Giáo viên Trung học cơ sở trên địa bàn huyện: 90 người
5. Giả thuyết khoa học
Công tác phát triển đội ngũ Hiệu trưởng trường THCS huyện Phù Ninh, tỉnh
Phú Thọ trong những năm qua đã đạt được một số kết quả; tuy nhiên yêu cầu đặt ra
so với Quy định Chuẩn còn bộc lộ nhiều hạn chế. Nếu có được các biện pháp đồng
bộ, hiệu quả, phù hợp bám sát vào Quy định của Chuẩn hiệu trưởng sẽ góp phần
phát triển đội ngũ Hiệu trưởng trường THCS huyện Phù Ninh đáp ứng yêu cầu đổi
mới giáo dục.
3
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1. Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận
Tổng hợp quan điểm của Đảng, Nhà nước; các tài liệu liên quan đến công tác
cán bộ.
Phân tích cơ sở lý luận về quản lý, quản lý giáo dục về phát triển đội ngũ
Hiệu trưởng trường THCS theo Quy định Chuẩn hiệu trưởng.
6.2. Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn
Khảo sát, đánh giá thực trạng đội ngũ Hiệu trưởng trường THCS và công tác
phát triển đội ngũ Hiệu trưởng trường THCS theo Quy định chuẩn hiệu trưởng
trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học trên địa bàn
huyện Phù Ninh của phòng GD&ĐT.
6.3. Đề xuất biện pháp phát triển đội ngũ Hiệu trưởng trường THCS theo
Quy định Chuẩn hiệu trưởng trường THCS, trường THPT và trường phổ thông
có nhiều cấp học.
Đề xuất biện pháp phát triển đội ngũ hiệu trưởng trường THCS huyện Phù
* Chương 3: Đề xuất biện pháp phát triển đội ngũ hiệu trưởng trường THCS
huyện Phù Ninh theo Quy định chuẩn hiệu trưởng trường THCS, trường THPT và
trường phổ thông có nhiều cấp học.
* Kết luận và kiến nghị.
* Danh mục tài liệu tham khảo.
* Phụ lục.
5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG
THCS THEO QUY ĐỊNH CHUẨN HIỆU TRƯỞNG
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Ở nước ngoài
Vào giữa thế kỷ 18, các nhà khoa học Robert Owen (1771- 1858), Charles
Babbage (1792- 1871) và Andrew Ure (1778- 1875) đã bắt đầu đưa ra ý tưởng:
Muốn tăng năng xuất lao động, cần tập trung giải quyết một số yếu tố chủ yếu là tạo
ra phúc lợi công cộng, tìm giải pháp giám sát công nhân, quan tâm đến mối quan hệ
giữa người quản lý với người bị quản lý và nâng cao trình độ quản lý cho các nhà
quản lý. Đến đầu thập niên 60 của thế kỷ XX, khi xã hội công nghiệp có dấu hiệu
của sự bùng nổ thông tin và dần chuyển thành xã hội thông tin, các nhà khoa học
nghiên cứu về quản lý đã có công trình nghiên cứu về quản lý trong môi trường
luôn luôn biến đổi, quản lý theo quan điểm hệ thống, quản lý tình huống, và từ đây,
vấn đề chất lượng của người quản lý thực sự đã được đề cập tới những yêu cầu và
cách thức nâng cao chất lượng đội ngũ đó. Cụ thể, công trình của ba tác giả: Harold
Koontz, Cyril Odonnell, Heinz Weihrich với các tác phẩm nổi tiếng là những cuốn
“Những vấn đề cốt yếu của quản lý” (NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội - 1992).
Công trình này đã đề cập nhiều hơn về các yêu cầu chất lượng của người quản lý.
Ngoài ra, đứng ở góc độ nghiên cứu lý luận giáo dục học, hầu hết các công trình
nghiên cứu các tác giả Liên Xô (cũ) đã đề cập tới lực lượng giáo dục; trong đó có
nêu lên vai trò, vị trí, chức năng của cán bộ quản lý nhà trường. Đó là các công trình
tiêu biểu như: Ilina. T.A, Savin N.V với tác phẩm Giáo dục học. Năm 1991, tổ chức
Đại hội Đảng các cấp. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản
Việt Nam đã thông qua chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 trong đó đã
định hướng: "Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn
diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân
7
chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển
đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt".
Về mặt lý luận, mấy năm gần đây, có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết
của các tác giả bàn về vấn đề xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo nói chung và
CBQLGD nói riêng, như: Đặng Quốc Bảo (2006) - "Hoạt động quản lý và sự vận
dụng vào quản lý nhà trường phổ thông" [4]; Trần Kiểm (2009) -"Những vấn đề cơ
bản của khoa học quản lý giáo dục" [40]; Trần Kiểm (2010)- "Khoa học tổ chức và
tổ chức giáo dục [39]; Chu Mạnh Nguyên - Giáo trình Bồi dưỡng Hiệu trưởng
trường THCS (NXB Hà Nội -2005). Các công trình nghiên cứu này là cẩm nang cho
các nhà QLGD các cấp trong lý luận cũng như trong thực tiến QLGD và quản lý
nhà trường. Trong các công trình nghiên cứu, bài viết đó các tác giả đã đề cập đến
vai trò của đội ngũ nhà giáo và CBQLGD; đưa ra một số giải pháp để xây dựng và
phát triển đội ngũ nhà giáo và CBQLGD.
Thông tư số 29/2009/TT-BGD&ĐT ngày 22/10/2009 quy định chuẩn Hiệu
trưởng trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học nhằm
đưa ra những định hướng trong công tác quy hoạch, chuẩn mực đánh giá, bồi dưỡng
đội ngũ hiệu trưởng. Đây là cơ sở cho các cấp quản lý giáo dục, các cơ sở giáo dục
phổ thông nghiên cứu, áp dụng trong việc quy hoạch, dự nguồn, đào tạo bồi dưỡng
và đánh giá hiệu trưởng nhằm mục đích nâng cao hiệu quả công tác phát triển đội
ngũ CBQL giáo dục.
Một số tác giả của luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Khoa học quản lý Giáo
dục đã nghiên cứu đến nội dung phát triển CBQL như:
- Đề tài: “Một số biện pháp bồi dưỡng đội ngũ hiệu trưởng trường THCS
huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Phùng Quang
Thơm (2005).
mỗi các nhân nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Trong mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào nỗ lực của mỗi các
nhân mỗi tổ chức. Các Mác nói đến sự cần thiết của quản lý, coi quản lý là một đặc
điểm vốn có bất biến về mặt lịch sử của đời sống xã hội. Ông viết: "Tất cả mọi lao
9
động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn,
thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động các nhân và
thực hiện những chức năng chung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể sản
xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu
vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc
trưởng”[34;24]. Theo quan điểm này thì trong quá trình lao động con người phải
có sự phân công, hợp tác với nhau sự tổ chức phân công lao động đó chính là một
chức năng quản lý, như vậy quản lý là một chức năng xã hội, xuất hiện và phát triển
cùng với xã hội.
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quản lý, theo nghĩa rộng thì quản lý
là hoạt động có mục đích của con người, nếu xét quản lý với tư cách là một hoạt
động, các tác giả Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải và Đặng Quốc Bảo định nghĩa:
“Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối
tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra”[ 33;12]. Theo tác giả Trần Kiểm:
“Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể người để tổ chức và phối hợp hoạt
động của họ trong suốt quá trình lao động”. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang:
Quản lý là tác động có mục đích có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những
người lao động (gọi chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện những mục tiêu dự
kiến.
Như vậy khái niệm quản lý được các nhà nghiên cứu đưa ra định nghĩa đã
gắn với loại hình quản lý hoặc ở lĩnh vực hoạt động, nghiên cứu cụ thể song đều
thống nhất ở bản chất của hoạt động quản lý.
Sơ đồ 1.1. Mô hình về quản lý
10
11
Kiểm tra
đánh giá
Thông tin quản
lý hai chiều
Tổ chức thực
hiện
Chỉ đạo giám
sát
Lập kế hoạch
- Chức năng lập kế hoạch: Đây là chức năng hạt nhân, quan trọng nhất của
quá trình quản lý. Lập kế hoạch là phải đặt rõ mục đích, mục tiêu trong tương lai
của tổ chức và những biện pháp, cách thức để đạt được mục đích, mục tiêu đó. Nội
dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hóa là định rõ và xác lập các mục tiêu, xác
định rõ và đảm bảo các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã đề ra, quyết định xem
những hoạt động nào, biện pháp nào để đạt được các mục tiêu đó sản phẩm của
chức năng. Kế hoạch có thể là:
+ Kế hoạch chiến lược (Giải quyết các mục tiêu chiến lược).
+ Kế hoạch chiến thuật (Giải quyết các mục tiêu chiến thuật).
+ Kế hoạch tác nghiệp (Giải quyết các mục tiêu tác nghiệp).
- Chức năng tổ chức: Chức năng tổ chức được tiến hành nhằm thực hiện kế
hoạch đã đề ra. Tổ chức là sự hình thành cấu trúc các quan hệ giữa các bộ phận
trong tổ chức.
- Chức năng chỉ đạo: Chỉ đạo là phương thức tác động của chủ thể quản lý
tới đối tượng quản lý nhằm điều khiển tổ chức vận hành theo đúng kế hoạch để đạt
được mục đích, mục tiêu đề ra.
- Chức năng kiểm tra: Kiểm tra là những hoạt động của chủ thể quản lý tác
động đến khách thể quản lý nhằm đánh giá kết quả vận hành của tổ chức.
Như vậy kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra có quan hệ biện chứng
chặt chẽ với nhau, phối hợp và bổ sung cho nhau tạo thành một chu trình quản lý,
hợp hài hòa với nhau.
1.2.2. Quản lý giáo dục.
1.2.2.1. Khái niệm quản lý giáo dục.
Cũng như khái niệm quản lý chung, khái niệm QLGD cũng có nhiều cách
hiểu khác nhau trên cơ sở cách tiếp cận khác nhau.
Theo M.I Kônđacôp: "Quản lý giáo dục là tập hợp các biện pháp tổ chức,
cán bộ, kế hoạch hóa, tài chính cung tiêu… nhằm đảm bảo vận hành bình thường
13
của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ
thống cả về mặt số lượng lẫn chất lượng" .[36]
Theo P.V.Khuđôminxky: "Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế
hoạch, có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu
của hệ thống giáo dục nhằm đảm bảo việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ
trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hòa của họ".
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: "QLGD là hệ thống những tác động có
mục đích có kế hoạch, hợp chủ thể quy luật của quản lý" (Hệ giáo dục) nhằm làm
cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được
các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy
học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái
mới về chất.
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo "QLGD theo nghĩa tổng quan là điều hành,
phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển
của xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo
dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người. Cho nên, QLGD được hiểu
là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân".
Mặc dù những định nghĩa về QLGD có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng
đều nêu nên bản chất của QLGD là quá trình tác động có định hướng của chủ thể
quản lý nên các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động giáo dục nhằm thực hiện
có hiệu quả mục tiêu giáo dục trong một môi trường luôn biến động.
1.2.2.2. Khái niệm quản lý nhà trường
nhiệm vụ quy định. Đó là các hoạt động có ý thức có kế hoạch và có định hướng
của chủ thể quản lý tác động tới các hoạt động của nhà trường nhằm thực hiện các
chức năng nhiệm vụ mà trung tâm đó là hoạt động dạy và học trong nhà trường.
1.2.3. Khái niệm đội ngũ hiệu trưởng, phát triển đội ngũ hiệu trưởng
1.2.3.1. Khái niệm đội ngũ hiệu trưởng
15
Theo từ điển Tiếng Việt “Đội ngũ là một tập hợp gồm một số đông người
cùng chức năng hoặc nghề nghiệp thành một lực lượng”, ví dụ như: đội ngũ CBQL,
đội ngũ hiệu trưởng Như vậy khái niệm đội ngũ được hiểu là "Đó là một nhóm
người, một tổ chức, tập hợp thành một lực lượng để thực hiện mục đích. Do người
quản lý phải xây dựng gắn kết các thành viên để tạo ra đội ngũ, trong đó mỗi người
có thể có phong cách riêng song khi gắn kết thành một khối thì mỗi cá nhân phải có
sự thống nhất cao về mục tiêu cần đạt tới.
Cán bộ là khái niệm dùng để chỉ những người có chức vụ, có chuyên môn
nghiệp vụ, có vai trò nòng cốt trong một tổ chức, một cơ quan đơn vị, có tác động
đến hoạt động của tổ chức cơ quan và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý,
điều hành, góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức.
Cán bộ quản lý, theo từ điển Tiếng việt: Cán bộ quản lý là người làm công tác
có chức vụ trong một cơ quan, tổ chức, phân biệt với người khác không có chức vụ.
Cán bộ quản lý là chủ thể quản lý gồm những người giữ vai trò tác động, ra
lệnh kiểm tra đối tượng quản lý. Cán bộ quản lý là người chỉ huy, lãnh đạo, tổ chức
thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ của tổ chức. Người quản lý vừa là người lãnh đạo,
quản lý cơ quan, đơn vị, vừa là người chịu sự lãnh đạo quản lý của cấp trên. Cán bộ
quản lý có thể là cấp trưởng hoặc cấp phó của một tổ chức, được cơ quan có thẩm
quyền cấp trên bổ nhiệm bằng quyết định hành chính Nhà nước.
Cán bộ quản lý giáo dục theo Phạm Viết Nhụ từ quan niệm trên có thể hiểu
một cách chung nhất: Cán bộ quản lý giáo dục là những CBQL làm việc trong các
cơ quan quản lý hành chính nhà nước về giáo dục, trong các cơ sở giáo dục, có
chức vụ hoặc làm công tác chuyên môn nghiệp vụ trong các cơ quan quản lý giáo
dục, có vai trò nòng cốt trong cơ quan, trong ngành, có tác động đến hoạt động của
- Quản lý tài chính, tài sản của nhà trường;
- Thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước đối với giáo viên, nhân
viên, học sinh; tổ chức thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường;
thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục của nhà trường;
17
- Chỉ đạo thực hiện các phong trào thi đua, các cuộc vận động của ngành;
thực hiện công khai đối với nhà trường;
- Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và
hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật.
1.2.3.2. Khái niệm phát triển đội ngũ hiệu trưởng
- Phát triển: Theo từ điển Tiếng việt: Phát triển là “Sự vận động theo chiều
hướng tăng lên”, là “ biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, là sự vận động
từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp”. Khái niệm "Phát triển đội ngũ hiệu
trưởng" trước hết phải tạo ra một đội ngũ Hiệu trưởng, từ đó phát triển đội ngũ cả
về số lượng, chất lượng, cơ cấu tổ chức, độ tuổi giới tính. Phát triển là làm cho số
lượng và chất lượng vận động theo hướng đi lên trong mối quan hệ hỗ trợ, bổ sung
cho nhau tạo nên một hệ thống đội ngũ hiệu trưởng phát triển bền vững.
Tóm lại, khái niệm "Phát triển" là quá trình tăng trưởng về số lượng và biến
đổi về chất của một sự vật, một hiện tượng đã có, đã được xây dựng nhưng chưa
hoàn chỉnh, chưa đầy đủ, hoặc phải tiếp tục nâng cao chất lượng để đáp ứng yêu cầu
của một thời kỳ mới.
- Phát triển đội ngũ Hiệu trưởng: Phát triển đội ngũ Hiệu trưởng là phát
triển nguồn nhân lực đặc biệt. Phát triển đội ngũ hiệu trưởng bao gồm phát triển cá
nhân Hiệu trưởng và phát triển cả đội ngũ.
Theo quan điểm về mặt chất và theo quy trình lựa chọn, bổ nhiệm Hiệu
trưởng hiện nay thì phát triển đội ngũ hiệu trưởng gắn liền với việc xây dựng và
phát triển đội ngũ nhà giáo. Phát triển đội ngũ hiệu trưởng là xây dựng đội ngũ Hiệu
trưởng đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu, đạt chuẩn về trình độ đào tạo, đặc biệt coi
trọng việc nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lương tâm, trách nhiệm
nghề nghiệp, năng lực và kỹ năng giảng dạy, quản lý để đạt chất lượng và hiệu quả
định: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về
đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá
nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội
chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp
19
tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
[42]
Về mục tiêu giáo dục THCS: “Giáo dục THCS nhằm giúp cho học sinh củng
cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình
độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học
phổ thông, trung cấp học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”.[42]
* Về nội dung của giáo dục THCS:
Điều 28, Luật giáo dục năm 2005, quy định về nội dung của giáo dục THCS
là: "Giáo dục THCS phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở bậc tiểu học,
đảm bảo cho học sinh có những hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng Việt, toán, lịch
sử dân tộc, kiến thức khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin
học, ngoại ngữ, có những hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp".
[42]
* Về phương pháp giáo dục THCS
Giáo dục THCS là một bậc học trong giáo dục phổ thông nên phương pháp
giáo dục THCS không thể tách rời với phương pháp giáo dục phổ thông nói chung.
Điều 28, Luật giáo dục năm 2005 có quy định: "Phương pháp giáo dục phổ thông
phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với
đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ
năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,
hứng thú học tập cho học sinh". [42]
1.3.2. Nhiệm vụ và quyền hạn của trường THCS
Theo Điều 3 của Thông tư 12/2011/TT-BGD&ĐT ngày 28 tháng 3 năm
2011 ban hành Điều lệ trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều
cấp học Trường trung học có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: