Sự thay đổi địa giới hành chính và dân cư ở huyện nông cống tỉnh thanh hóa từ năm 1945 đến năm 2014 - Pdf 33

1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
______________________

NGUYỄN THỊ ĐIỆP

SỰ THAY ĐỔI ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH VÀ DÂN CƯ
Ở HUYỆN NÔNG CỐNG TỈNH THANH HÓA
TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 2014

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

NGHỆ AN - 2015


2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
____________________

NGUYỄN THỊ ĐIỆP

SỰ THAY ĐỔI ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH VÀ DÂN CƯ
Ở HUYỆN NÔNG CỐNG TỈNH THANH HÓA
TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 2014

Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM
Mã số: 60.22.03.13

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ


Nguyễn Thị Điệp


4
DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

BCH TW
CNXH
CNH - HĐH
CP
DS - KHHGĐ
GDTX- DN
HĐBT
HTX
HĐND
KHKT
TTCN
TH
THCS
THPT
TW
UBMTTQ
UBND
UBHC

:
:
:
:

Uỷ ban mặt trận Tổ quốc
Ủy ban nhân dân
Ủy ban hành chính


5
MỤC LỤC
Trang
Về việc giải thể thị trấn nông trường để thành lập xã, thị trấn thuộc các huyện Ngọc Lặc, Thạch
Thành, Cẩm Thủy, Như Xuân, Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa............................................................144


1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1 Về mặt khoa học
Địa giới hành chính và dân cư là hai yếu tố quan trọng tác động đến sự
phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia, dân tộc nói chung và của địa
phương, vùng miền nói riêng.
Trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam, địa giới hành
chính và dân cư được hình thành, phát triển, hoàn chỉnh như ngày nay gắn
liền với quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc. Tuy nhiên theo dòng
chảy cuả lịch sử dân tộc, địa giới hành chính, tên gọi của các địa phương,
vùng miền trên lãnh thổ Việt Nam, bên cạnh sự ổn định còn có sự thay đổi,
thậm chí biến mất theo từng giai đoạn, thời kì lịch sử theo chương trình cải
cách hành chính và quy hoạch địa giới hành chính của nhà nước hiện nay.
Sự thay đổi hành chính, kéo theo sự thay đổi, phát triển của vấn đề dân
cư là một điều tất yếu của cả quốc gia dân tộc trong quá trình tồn tại và phát
triển. Chính vì vậy việc tìm hiểu, nghiên cứu về địa giới hành chính và dân cư
của một địa phương, vùng miền hay cụ thể một huyện, một tỉnh… là đề tài có

Nông Cống trải qua nhiều thay đổi, phạm vi không gian địa lý của huyện
cũng có nhiều sự thay đổi. Đặc biệt trải qua hai cuộc kháng chiến thần thánh
của dân tộc chống lại thực dân Pháp, đế quốc Mĩ xâm lược và trong công
cuộc đổi mới hiện nay. Những biến động và thay đổi đó của lịch sử huyện nhà
gắn liền với lịch sử dân tộc nói chung và tỉnh Thanh Hóa nói riêng. Đề tài góp
phần vào việc nghiên cứu một cách có hệ thống toàn diện những thay đổi về
địa giới hành chính, dân cư của huyện Nông Cống (Thanh Hóa) nhằm góp
phần lấp một khoảng trống trong nghiên cứu lịch sử địa phương lâu nay, để
giúp cho người đọc có cái nhìn cận cảnh và toàn diện hơn về lịch sử địa
phương.


3
Sự thay đổi địa giới hành chính của huyện Nông Cống trong thời gian
qua kéo theo sự thay đổi về dân cư và ảnh hưởng của nó đến những vấn đề
quản lý đất đai, phân bố lại vị trí các vùng dân cư, sự phát triển kinh tế - chính
trị - xã hội, bố trí lại cán bộ quản lý, hệ thống cơ sở hạ tầng... Đề tài không chỉ
dừng lại ở việc nghiên cứu những thay đổi về địa giới hành chính, dân cư mà
phạm vi nội dung của đề tài còn được mở rộng sâu hơn nhằm tạo bức tranh
toàn cảnh bước đường phát triển của huyện nhà trong những năm khói lửa
chiến tranh và trong công cuộc đổi mới hiện nay cũng như đóng góp của
Đảng bộ và nhân dân huyện Nông Cống đối với sự phát triển của tỉnh Thanh
Hóa và của đất nước.
Ngoài những nét riêng trong quá trình phát triển của huyện Nông Cống
từ 1945 đến năm 2014 thì huyện Nông Cống còn mang những nét chung
giống các huyện, thị ở nước ta trong quá trình hình thành và phát triển từ nửa
sau thế kỷ XX đến nay.Vì vậy nghiên cứu về những thay đổi về địa giới hành
chính, dân cư huyện Nông Cống là góp phần vào việc nghiên cứu về hệ thống
huyện, thị ở nước ta. Là người con sinh ra và lớn lên trên vùng đất Nông
Cống, thông qua việc nghiên cứu đề tài này, tôi muốn giúp phần nhỏ bé của

tỉnh Thanh Hóa.
Đặc biệt trong công trình: “Địa chí văn hóa huyện Nông Cống”, Nxb
khoa học xã hội Hà Nội, năm 1998 do nhà nghiên cứu Lê Huy Trâm làm chủ
biên đã nghiên cứu hết sức công phu, viết tương đối đầy đủ về địa lí, địa mạo,
thổ nhưỡng, khí hậu, đồi núi, sông ngoài, con người, truyền thống lịch sử,
phong tục tập quán, các tổ chức đơn vị hành chính của huyện Nông Cống.
Trong đó có phần làng xã và một số phong tục tập quán nếp sống và xây dựng
xóm làng ở Nông Cống qua đó đề cập đến nguồn gốc làng xã và các đơn vị
hành chính cấp xã từ năm 1945 đến nay. Mặt khác ở phần phụ lục, ở phụ lục
một tác giả đưa ra bảng tổng hợp tình hình ruộng đất, tình hình dân cư các xã
và ở phụ lục bốn là hương ước làng - xã cũ Nông Cống và phụ lục năm là địa
danh cổ - các dòng họ: Đình Chùa Nghè Miếu của từng làng. Qua đó giúp cho


5
việc tổng hợp tên gọi các làng xã trước và sau cách mạng Tháng Tám(1945) ở
Nông Cống, cùng với sự thay đổi tên gọi qua các thời kỳ.
Ngoài ra ở một số tài liệu như “Truyền thống cách mạng của Đảng bộ
và nhân dân huyện Nông Cống, (1930- 1990)”, “Những sự kiện lịch sử đảng
bộ huyện Nông Cống (1930 - 1954), Nxb Thanh Hóa, “Báo cáo biến động
diện tích đất theo mục đích sử dụng năm 2013 so với năm 2000 và năm
2009”, “Báo cáo tỷ lệ tăng dân số hàng năm giai đoạn 2000 - 2013” của
UBND huyện Nông Cống, “Niên giám thống kê Nông Cống từ năm 1999 đến
năm 2014” của cục thống kê Thanh Hóa… ít nhiều đã đề cập đến sự thay đổi
địa giới hành chính và dân cư của huyện Nông Cống. Mặc dù còn sơ lược
song đó là nguồn tài liệu quan trọng để tôi so sánh, đối chiếu và đi sâu vào nội
dung đề tài đề cập đến.
Nhìn chung có thể nói các công trình, các bài viết trên đều đã làm sáng
tỏ một số vấn đề lịch sử của huyện nói chung và vấn đề địa giới hành chính và
dân cư của huyện nói riêng. Tuy nhiên, nếu xét một cách toàn diện khách

liệu sau:
4.1.1. Tài liệu gốc
- Gồm các Nghị định của Chính phủ, của tỉnh Thanh Hóa về việc điều
chỉnh, mở rộng, chia tách các xã, thị trấn ở huyện Nông Cống từ năm 1945
đến năm 2014.
- Bản đồ hành chính của huyện Nông Cống, các huyện tiếp giáp với
huyện Nông Cống, của tỉnh Thanh Hóa.
- Các đề án xây dựng, quy hoạch huyện Nông Cống.
- Số liệu niên giám thống kê về dân số, sự phát triển, thay đổi dân cư ở
huyện Nông Cống từ năm 1945 đến năm 2014… Các tài liệu này là cơ sở
pháp lý để khẳng định về địa giới hành chính, sự ra đời và thay đổi của các
đơn vị hành chính cũng như dân cư của huyện Nông Cống từ năm 1945 đến
năm 2014.
4.1.2. Tài liệu nghiên cứu
Tôi tham khảo các tài liệu nghiên cứu lịch sử, chính trị, văn hóa như:
“Địa chí Nông Cống” của tác giả Hoàng Anh Nhân và Lê Huy Trâm biên
soạn, “Lịch sử Đảng bộ huyện Nông Cống” (1946 - 2005) của ban chấp hành


7
Đảng bộ và Ủy ban nhân dân huyện Nông Cống, “Lịch sử lực lượng vũ trang
nhân dân huyện Nông Cống” (1945 - 2007) của Đảng ủy - Ban chỉ huy quân
sự huyện Nông Cống. “Thanh Hóa thế và lực mới trong thế kỷ XXI”…
4.1.3. Tài liệu khác
Để bổ sung và làm phong phú tài liệu cho đề tài, tôi đã sử dụng cả tài
liệu báo chí, các bài viết trên các tạp chí nghiên cứu lịch sử, các báo cáo tổng
kết hàng năm của xã, huyện về tình hình kinh tế- xã hội, văn hóa, giáo dục, y
tế, an ninh quốc phòng… một số luận văn thạc sỹ, tiến sỹ chuyên ngành lịch
sử Việt Nam được bảo vệ thành công tại Trường Đại học Vinh… có liên quan
đến đề tài, bên cạnh đó tác giả còn sử dụng nguồn tài liệu điền dã, trực tiếp

kinh tế - xã hội ở huyện Nông Cống.

NỘI DUNG
Chương 1
SỰ THAY ĐỔI ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH VÀ DÂN CƯ
Ở HUYỆN NÔNG CỐNG TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1954
1.1. Khái quát về tên gọi, địa giới hành chính và dân cư huyện
Nông Cống trước 1945
1.1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, truyền thống lịch sử và văn
hóa
Nông Cống là một vùng đồng bằng và bán sơn điạ nằm ở phía tây nam
tỉnh Thanh Hóa. Từ Thành phố Thanh Hóa đi theo quốc lộ 45 về phía TâyNam dài 28km là huyện lỵ Nông Cống - trung tâm kinh tế - chính trị - văn
hóa của cả huyện thuộc vùng châu thổ đầy tiềm năng và truyền thống cách


9
mạng. Phía Bắc giáp huyện Đông sơn và Triệu Sơn với chiều dài đường biên
là 31,2 km, phía Nam và Tây - Tây Nam giáp huyện Như Thanh với chiều dài
đường biên là 7,1 km, phía Nam và Đông Nam giáp huyện Tĩnh Gia, phía
Đông giáp huyện Quãng Xương có chiều dài đường biên là 54,2 km. Xét theo
vĩ độ và kinh độ trên mặt địa cầu thì “Nông Cống Điểm cực Bắc ở 105,7 kinh
độ đông; 21,48 vĩ độ bắc. Điểm cực Nam ở 105,68 kinh độ đông; 21,54 vĩ độ
bắc. Điểm cực Tây ở 106,63 kinh độ Đông; 21,70 vĩ độ bắc. Điểm cực Đông
ở 105, 68 kinh độ đông; 21,70 vĩ độ bắc. Huyện Nông Cống có chiều dài BắcNam là 28,5 km; có chiều rộng Đông- Tây nơi hẹp nhất là 7,2 km (ở xã Công
Bình) nơi rộng nhất là 17,1 km (từ xã Trường Giang sang phía tây là xã Vạn
Thắng) [48; 21]. Diện tích tự nhiên của toàn huyện hiện nay là 28.710ha, dân
số là 182.289 người [5; 11]. Nông Cống trừ phần núi Nưa xuôi về phía Nam
là vùng bán sơn địa đất đỏ giàu khoáng sản và thích hợp với cây công nghiệp,
phần lớn đất đai Nông Cống thích hợp với cây lúa, là vùng trọng điểm lúa của
Thanh Hóa như từ xưa đã khẳng định “Nghệ Yên Thành, Thanh Nông Cống”.

Nghiêu Sơn, dãy núi này được chia thành 2 phần gồm dãy Hoàng Sơn thuộc
địa phận xã Hoàng Sơn, Nông Cống; dãy Nghiêu Sơn nằm trên địa phận xã
Đồng Thắng, Triệu Sơn (thuộc Nông Cống cũ) có dòng sông Hoàng Giang
làm gianh giới tự nhiên. Dãy Hoàng Nghiêu cao 276m khu vực này không chỉ
là danh sơn, thắng cảnh mà còn có một vị trí chiến lược hiểm yếu. Thế kỉ XV
Hoàng Nghiêu Sơn đã được Nguyễn Trích xây dựng thành lũy chống giặc
Minh và sau này trở thành công thần nhà Lê. Thời Cần Vương, Bang Văn
lãnh đạo nghĩa quân lập căn cứ Hoàng Nghiêu chống Pháp. Trong 2 cuộc
kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nơi đây trở thành nơi cất giữ vũ khí
của quân đội. Cùng nằm trong cụm đồi phía bắc huyện còn có núi Tiêu Sơn
(Tân Phúc), núi Trãi (Hoàng Giang), có nhiều hang động, núi sỏi (Tân Phúc)
là di tích khảo cổ học thuộc thời kì cuối của nền văn hóa Đông Sơn. Theo
sách Đại Nam Nhất Thống Chí thì núi Nưa tức núi Na Sơn (thuộc huyện
Nông Cống ngày nay) nằm trên địa phận 3 huyện: Triệu Sơn, Nông Cống,


11
Như Thanh. Vùng núi Nưa phía Đông và Đông Nam thuộc xã Tân Thọ, Tân
Khang, Trung Thành, Tế Thắng, Tế Lợi, đỉnh cao nhất là 350m gắn liền với
truyền thuyết ông khổng lồ Tu Nưa khai phá đồng bằng Nông Cống và về nữ
tướng Triệu Thị Trinh cưỡi voi phất cờ đánh giặc… núi Nưa còn nhiều
khoáng sản quý đang được khai thác.
Nằm trong hệ thống đồi núi giữa còn có núi Mưng thuộc xã Trung
Thành là một dải đồi đất đỏ rộng chừng 10ha, có độ cao so với mực nước biển
là 30m. Núi Mưng gắn liền với truyền thuyết thánh Ngũ Vị hy sinh trong cuộc
chiến đấu chống quân xâm lược nhà Đường (vào thế kỉ VII).
Cụm núi phía Nam Nông Cống gắn với đồi và cồn cát gồm 18 ngọn núi
gồm các xã Vạn Hòa, Vạn Thắng, Vạn Thiện, Thăng Long, Công Liêm, Công
Chính, Công Bình, Tượng Sơn… thuận lợi cho việc trồng mía, cà phê, chè, và
cây ăn quả.

của tỉnh Thanh Hóa, nên khi mưa trút xuống dữ dội, lại chịu ảnh hưởng trực
tiếp của triều cường sông Yên khiến nước sông Nhơm ngày càng tăng nhanh,
tốc độ chảy chậm thường gây úng lụt cho các xã phía bắc huyện.
Sông Chuối bắt nguồn từ huyện Như Xuân chảy qua Như Thanh vào
Nông Cống qua các xã Vạn Thắng, Vạn Hòa, Vạn Thiện, Minh Thọ, Minh
Nghĩa, Trường Trung gặp sông Yên tại Ngã ba Con Sơ. Bốn con sông kể trên
đã góp phần tạo nên vùng đồng bằng châu thổ tiềm năng sản xuất nông
nghiệp, đồng thời cũng gây ra nạn úng lụt vào mùa mưa.
Giao thông: Hệ thống giao thông gồm có: quốc lộ 45 xuyên Nam - Bắc
Nông Cống nối thành phố Thanh Hóa - Chuối - Yên Cát (Như Xuân); thành
phố Thanh Hóa theo quốc lộ 15B đi Nghĩa Đàn (Nghệ An) cùng hệ thống
đường liên huyện Nông Cống - Quán Giắt (Triệu Sơn), Nông Cống - Bến
Sung (Như Xuân)… hiện nay đường liên xã, liên thôn đang được mở rộng.
Đường sắt xuyên Việt qua Nông Cống dài 44 km từ thành phố Thanh Hóa đến
ga Yên Thái, Minh Khôi, Thị Long.
Khí hậu: Nông Cống thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, lại nằm ở
khu vực “Nam Thanh- Bắc Nghệ” nên thời tiết thay đổi thất thường. Tuy vậy
vẫn thể hiện rõ hai mùa trong năm. Đó là mùa khô từ tháng 10 năm trước đến
tháng 2 dương lịch năm sau, khí hậu hanh khô, giá rét. Nhiệt độ có khi giảm


13
xuống 50C-60C. Từ tháng 2 đến tháng 6 dương lịch gió Lào nóng bức, nhiệt
độ có ngày tăng lên 400C.
Khoáng Sản: Với cấu tạo tự nhiên phong phú, đa dạng. Nông Cống
không chỉ là vùng châu thổ giàu tiềm năng nông nghiệp mà còn là vùng đất có
nhiều khoáng sản quý với trữ lượng đáng kể.
Từ thời Pháp thuộc đã phát hiện nhiều loại khoáng sản quý và tổ chức
khai thác. Mỏ Crommit sa khoáng Cổ Định là mỏ khoáng sản lớn được phát
hiện từ năm 1932.

không ngừng cải tạo tự nhiên, khai thác tiềm năng thiên nhiên từng bước làm
biến đổi bộ mặt kinh tế - xã hội. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, mảnh đất
và con người Nông Cống luôn gắn bó máu thịt cùng với vùng đất xứ Thanh
và dân tộc Việt Nam. Không những thế đây được xem là vùng một trong
những vùng đất “Địa linh nhân kiệt” với truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời.
Bao trùm và nổi bật hơn cả đó là truyền thống yêu nước và truyền thống hiếu
học của nhân dân Nông Cống.
Từ buổi bình minh lịch sử dựng nước của dân tộc, Nông Cống đã góp
sức cùng với nhóm cư dân núi sỏi, các “kẻ” và các “làng cổ” đã làm cho cuộc
sống ở vùng Nông Cống trong đất nước Văn Lang trở nên sinh động, phong
phú, góp phần làm nên truyền thống và bản sắc dân tộc. Lịch sử Việt Nam
còn là lịch sử giữ nước rất oanh liệt. Từ thời Bắc thuộc trở đi, nhân dân Việt
Nam bất khuất chống Hán hóa, chống giặc ngoại xâm từ phương Bắc, phương
Tây đến xâm chiếm nước ta, đặt ách nô lệ lên dân tộc ta. Và chính trong lịch
sử chống ngoại xâm ấy Nông Cống đã trở thành địa phương nổi tiếng được cả
nước ca ngợi về việc đóng góp sức người, sức của cho tuyền tuyến. Mặt khác,
Nông Cống còn là địa bàn thủ hiểm, là một bộ phận quan trọng, là một cứ
điểm chiến lược trong hệ thống căn cứ của hậu phương thanh hóa rộng lớn
của nhiều cuộc chống ngoại xâm và có lúc trở thành căn cứ địa từ đây tấn
công kẻ thù xâm lược của các cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại.


15
Trong suốt thời kỳ ngàn năm Bắc thuộc, nhân dân Nông Cống không
ngừng vươn lên cùng với cả nước kiên trì đấu tranh chống hành động xâm
lược và âm mưu đồng hóa của kẻ thù Phương Bắc, tạo nên một sắc thái riêng
biệt cho quê hương của mình. Năm 40, Trưng Trắc, Trưng Nhị giương cao
ngọn cờ khởi nghĩa đánh đuổi quân xâm lược Nam Hán giành lại chủ quyền
độc lập cho dân tộc. Trong hàng chục tướng lĩnh Hai Bà Trưng người Thanh
Hóa có danh tướng Đào Kỳ quê hương Nông Cống đã cùng với vợ là Phương

Thiện) là nơi tập trung nghĩa quân, Bãi Sỏi xã Tân Phúc nơi đóng quân của
Bà Triệu. Nghĩa quân đã san bằng huyện lỵ, thành ấp ở 3 quận: Cửu Chân,
Cửu Đức, Nhật Nam (Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh, Quãng Bình ngày nay) lật đổ
ách thống trị của giặc Ngô, song do lực lượng chênh lệch, cuộc khởi nghĩa
thất bại. Bà Triệu đã thủ tiết, song khí phách lẫm liệt, anh hùng của bà vẫn
sang mãi, hồn thiêng của Bà vẫn gắn mãi với “Ngàn Nưa”, là “Bà tiên của
núi Nưa”:
Ai về Nông Cống tỉnh Thanh
Dừng chân nhớ Triệu Thị Trinh anh hùng.
Như vậy từ Hai Bà Trưng (40-43), Bà Triệu (248), phất cờ khởi nghĩa
đến chiến thắng của Ngô Quyền (938), góp sức khôi phục nền tự chủ, giành
độc lập dân tộc, chấm dứt thời kỳ Bắc Thuộc, Nông Cống luôn góp sức
người, sức của vì sự nghiệp giải phóng đất nước, vì vinh dự giống nòi.
Từ thời Lý - Trần trở đi, nền độc lập của Đại Việt trải qua biết bao
hưng vong, suy thịnh. Cùng chung nhịp thở với tổ quốc Việt Nam, nhân dân
Nông Cống gắn bó với vận mệnh dân tộc, góp phần trí tuệ và tâm hồn tình
cảm của mình xây dựng cho cuộc sống dân tộc ngày càng tiến lên phía trước.
Và cũng trong quá trình vận động lịch sử ấy, Nông Cống cũng hòa mình trong
niềm sung sướng khi tổ quốc chiến thắng cũng như đắm mình trong nỗi đau
mà các triều đại phong kiến bảo thủ, suy thoái đem lại. “Có tên từ thời Trần
trở về trước” huyện Nông Cống xưa đã có nhiều nhân vật tài năng góp trí tuệ
và công sức của mình xây dựng nền độc lập, tự chủ đất nước. Chỉ riêng một


17
làng Cổ Định (Kẻ Nưa) và một làng Phu Huệ (Cổ Đôi) đã làm cho thiên hạ
phải trầm trồ.
Võng lọng Cổ Định, Cổ Đôi
Lắm thịt nhiều xôi, Đống Cao, Đống Cải
Ở thời Lý, họ Doãn ở Cổ Định đã có nhiều nhân vật trong họ tham gia

xây thành, đắp lũy, tích lũy lương thực, tập luyện nghĩa quân đẩy lùi nhiều
cuộc tiến công của giặc Minh. Năm 1420, Nguyễn Chích đã đem toàn bộ
nghĩa quân gia nhập quân của Lê Lợi, cùng Lê Lợi tiến hành cuộc khởi nghĩa
đánh đuổi giặc Minh, giành độc lập tự chủ cho dân tộc.
Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh do Lê Lợi lãnh đạo, nhiều
người con ưu tú quê hương Nông Cống đã tìm đến tụ nghĩa và đã trở thành
những công thần của nhà Lê như: Đỗ Bí (Giáp Mai), Trịnh Đồ (Cổ Mộc), Hà
Mộng, Lương Khê, Hà Đô, Trương Lôi, Doãn Nổ (Cổ Định)… có công lớn
nên được ban quốc tính (họ Lê của Vua) và hàng ngàn trai tráng tham gia
nghĩa quân. Nếu như trước kia ở (thời Lý Trần) các dòng họ Doãn, họ Lê… ở
Cổ Định đã làm bừng sáng nửa trên của huyện Nông Cống thì vào triều Lê
Sơ, các vị khai quốc thần Đinh Liệt Lê Hiểm, Vũ Uy, Đỗ Bí… đã làm cho
nửa dưới huyện Nông Cống trở nên tươi đẹp, phồn vinh, nổi tiếng cả nước.
Từ thời Lê Trung Hưng trở đi, chế độ phong kiến suy thoái, giai cấp
thống trị xâu xé lẫn nhau, đất nước lâm vào cảnh chiến tranh chia cắt liên
mien, cho đến đầu thế kỷ XIX nhà Nguyễn mới thống nhất được đất nước.
Trong khoảng 400 năm ấy Nông Cống cũng chìm nổi, đau thương cùng đất
nước. Phong trào học nho ở Nông Cống phát triển, làm nên đất học nổi tiếng
cả tỉnh, cả nước là Cổ Định và Cổ Đôi. Từ thời Lê Hiến Tông (1502) đến thời
Lê Hy Tông (1676), hơn 100 năm, vùng Cổ Đôi trở vào đã có 20 vị đại khoa
(đậu tiến sĩ) [48; 161]. Huyện Nông Cống nổi lên những nhân vật xuất sắc,
tham gia triều chính hoặc biên soạn sách vở như Lê Thời Hiến, Lê Bật Tứ, Lê
Trạc Tú, Nguyễn Hiệu, Nguyễn Hoàn, Nguyễn Thu, Lê Nghĩa Trạch, Lê
Nhân Triệt, Lê Sĩ Cẩn, Đỗ Phi Tán, Phạm Trác, Đỗ Tấn Đạt, Đỗ Tế Mỹ, Lê
Đình Túc… Đất học Nông Cống “võng lọng Cổ Định, Cổ Đôi” là như thế,


19
cùng tham gia với đất nước trong lý tưởng “trung quân Ái quốc” mà lúc này
sự lựa chọn “trung với vua nào?” trở thành sự đánh giá nhân cách nhân vật có

hưng thịnh, có lúc suy vong. Quá trình lịch sử đấu tranh gian nan có lúc chính
tà lẫn lộn, dân tộc ta tìm con đường đi lên cho cuộc sống “độc lập, tự do, ấm
no, hạnh phúc” làm nên truyền thống bất khuất “chìm trong máu lửa lại vùng
đứng lên”. Nông Cống là một vùng của Tổ quốc Việt Nam cũng hòa trong
truyền thống anh hùng bất khuất đó, xứng đáng là “đất thủ hiểm”, là “hậu
phương vững vàng” cho cả tỉnh, cả nước. Và khi đối mặt với kẻ thù phong
kiến đế quốc, Nông Cống cùng hòa tiếng súng chiến đấu của mình trong
phong trào yêu nước chống pháp một cách thật xứng đáng, thật vẻ vang.
Năm 1858, thực dân Pháp bắn đại bác vào bán đảo Sơn Trà (Đà
Nẵng) mở đầu cho cuộc chiến tranh xâm lược nước ta. Nhà Nguyễn đã
từng bước đầu hàng và cuối cùng ký với Pháp hiệp ước Patơnốt (6/6/1884),
đưa nước ta từ một nước phong kiến độc lập, có chủ quyền chính thức là
thuộc địa của Pháp.
Phong trào Cần Vương nổ ra (1858 - 1895). Hưởng ứng chiếu Cần
Vương của vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết (ngày 13 tháng 7 năm 1885),
các sỹ phu yêu nước đã tập hợp nhân dân các vùng ở Thanh Hóa xây dựng
căn cứ địa chống Pháp. Ở Nông Cống phong trào Cần Vương chống Pháp
phát triển sớm, sâu rộng, quyết liệt. Từ năm 1885 - 1886, tri huyện ở Nông
Cống là Tôn Thất Hàm, Bang Tá, Đỗ Tuấn Dẫy, huấn đạo Nguyễn Văn Quỳ
đã bỏ huyện đường tổ chức phong trào Cần Vương chống Pháp. Cũng trong
thời gian này Tú Phương (Nguyễn Ngọc Phương) quê ở Hương Trì - tổng Văn
Trường - phủ Tĩnh Gia (nay là xã Trường Sơn huyện Nông Cống) cùng với
Tôn Thất Hàm vào căn cứ Sơn Phòng - Quãng Trị gặp vua Hàm Nghi và Tôn
Thất Thuyết để nhận chiếu Cần Vương. Sau khi trở về hai ông đã nhanh
chóng phát động phong trào Cần Vương. Với cương vị là tham biện phủ Tĩnh
Gia, Tú Phương đã chỉ đạo xây dựng căn cứ Ôn Lâm - Kỳ Thượng để hợp lực



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status