Sự biến đổi địa giới hành chính Hà Nội thời kỳ cận hiện đại - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
**************************

NGUYỄN HỮU SƠN
SỰ BIẾN ĐỐI ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH
HÀ NỘI THỜI KÌ CẬN HIỆN ĐẠI LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội - 2009

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*************************

NGUYỄN HỮU SƠN

2.2. Sự biến đổi địa giới hành chính Hà Nội từ năm 1915 - 1942. 27
2.3. Sự biến đổi địa giới hành chính Hà Nội từ năm 1942 - 1945. 28
Chương 3. Sự biến đổi địa giới hành chính Hà Nội thời hiện
đại (1945 đến nay).
3.1. Sự biến đổi địa giới hành chính Hà Nội từ năm 1945 - 1960. 32
3.2. Sự biến đổi địa giới hành chính Hà Nội từ năm 1961 - 1978. 44
3.3. Sự biến đổi địa giới hành chính Hà Nội từ năm 1978 - 1991. 48
3.4. Sự biến đổi địa giới hành chính Hà Nội từ năm 1991- 2007. 55
3.5. Sự biến đổi địa giới hành chính Hà Nội từ năm 2008 đến nay. 60
Kết luận.
1. Sự biến đổi địa giới diễn ra liên tục. 67
2. Sự biến đổi hành chính diễn ra phức tạp. 71
3. Thiếu tầm nhìn chiến lược trong việc quy hoạch địa giới hành chính. 75
Tài liệu tham khảo. 78
Phụ lục 84 2
DANH MỤC BẢN ĐỒ, LƯỢC ĐỒ, BẢN ẢNH.

BẢN ĐỒ
Bản đồ 1. Hà Nội năm 1873
Bản đồ 2. Hà Nội năm 1883
Bản đồ 3. Hà Nội năm 1885
Bản đồ 4. Hà Nội năm 1890
Bản đồ 5. Hà Nội năm 1899
Bản đồ 6. Hà Nội năm 1902
Bản đồ 7. Hà Nội năm 1902
Bản đồ 8. Tỉnh Hà Đông năm 1909
Bản đồ 9. Hà Nội năm 1911


LƯỢC ĐỒ
Lược đồ 1. Đông Kinh năm 1490
Lược đồ 2. Hà Nội đầu thế kỉ XIX
Lược đồ 3. Tỉnh Hà Nội năm 1831
Lược đồ 4. Các đơn vị hành chính Việt Nam thời Minh Mạng

BẢN ẢNH:
Bản ảnh 1. Khu vực Hà Nội, ảnh chụp từ vệ tinh
Bản ảnh 2. Bảng chỉ dẫn Bản đồ Hà Nội năm 1873
Bản ảnh 3. Hà Nội năm 1948
Bản ảnh 4. Ranh giới thủ đô Hà Nội từ năm 1978 - 1991.
4
MỞ ĐẦU

1. Mục đích, ý nghĩa của đề tài.
Nghị quyết 15 - NQ/TW ngày 15/12/2000 của Bộ Chính trị và Pháp lệnh thủ đô
số 29/2000/PL của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khoá X đã khẳng định “thủ đô Hà
Nội là trái tim của cả nước, đầu não chính trị - hành chính quốc gia, thủ đô đa chức
năng, một mô hình thể hiện sự tiếp nối quá trình hình thành và phát triển của Thăng
Long - Hà Nội”. Hà Nội cũng là một trong ít thủ đô lâu đời nhất thế giới với độ tuổi

Nguyễn Hữu Chính, Tòng cửu phẩm Thư lại Nguyễn Hữu Phụng biên Hà Nội địa bạ
ngày 1 tháng 9 năm Tự Đức thứ 19 (1866) kê khai số đinh, điền, tiền thuế, thóc thuế
hàng năm của từng phủ, huyện, tổng, xã thuộc tỉnh Hà Nội thời Tự Đức.
Quốc sử quán triều Nguyễn viết Đại Nam nhất thống chí dưới thời Tự Đức 18
đến 29 (1864 - 1875) là bộ sách địa lí - lịch sử đầy đủ và lớn nhất của nước ta thời
phong kiến ghi chép về 30 tỉnh thành trong cả nước (có Hà Nội) từ thời cổ đến thời
Tự Đức.
Nguyễn Văn Siêu và Bùi Quỹ viết Đại Việt địa dư toàn biên, hay còn gọi là
Phương đình địa dư chí. Sách gồm 5 quyền, được hoàn thành vào năm 1882. Quyển 5
khảo về địa dư 13 tỉnh Bắc Bộ, trong đó có Hà Nội thời Nguyễn.
Hà Nội sơn xuyên phong vực là tài liệu Hán Nôm không có trang, không có tên
sách và tên người biên soạn. Sách được soạn vào khoảng cuối năm 1887 đến nửa đầu
năm 1888 trình bày về địa giới các phủ, huyện; dựng đặt và duyên cách; hình thế; khí
hậu; phong tục; thành trì; cổ tích; từ miếu; thổ sản của Hà Nội.
Kinh lịch Lê Đình Luyện thừa lệnh biên chép một tài liệu không có tên chính
thức năm 1890 kê danh sách phủ, huyện, tổng, xã, thôn của tỉnh Hà Nội. Trung tâm
lưu trữ Quốc gia I Hà Nội dịch và đăng trong tạp chí Lưu trữ Việt Nam, số 3 tháng 6
năm 2000, trang 22 – 26 với tên là Giới thiệu danh mục làng xã tỉnh Hà Nội cuối thế
kỉ 19.
Hoàng Đặng Quỳnh đỗ Hương cống năm 1894, viết Hoàn Long huyện chí cuối
năm 1899, đến năm 1911 được gửi đến trường Viễn Đông Bác cổ.

6
Toà sứ Hà Đông có tài liệu Monogrraphie de la province de Hanoi en 1901
(Chuyên khảo tỉnh Hà Nội năm 1901). Nội dung sách gồm 3 phần: Phần 1 nói về địa
chí tỉnh Hà Nội, viết tay bằng tiếng Pháp. Phần 2 kê tên thôn, làng và các chợ trong
tỉnh năm 1901, viết tay bằng chữ Hán và chữ Việt. Phần 3 viết về địa chí tỉnh Hà Nội,
đánh máy bằng chữ Pháp.
Ngoài ra, còn nhiều công trình nghiên cứu về địa danh, địa giới hành chính các
địa phương, trong đó có Hà Nội như Bắc kì các tỉnh đạo phủ huyện tổng xã thôn

thuộc do Nhà xuất bản Sự thật ấn hành tại Hà Nội năm 1972 và công trình của
Nguyễn Quang Ân: Việt Nam những thay đổi địa danh và địa giới hành chính 1945 –
2002 do Nhà xuất bản Thông tấn ấn hành tại Hà Nội năm 2003 có đề cập tới sự biến
đổi địa giới hành chính Hà Nội trong một thời gian dài nhưng vẫn chưa hết toàn bộ
thời kì cận - hiện đại và khi đề cập tới Hà Nội cũng chỉ giới thiệu đôi nét khái quát.
Rõ ràng, chúng ta đang thiếu một công trình nghiên cứu đầy đủ, hoàn chỉnh và
mang tính hệ thống, phân tích đánh giá về sự biến đổi địa giới hành chính Hà Nội thời
cận - hiện đại. Chính vì vậy, tôi mạnh dạn tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề này góp phần
dựng lại bức tranh tổng thể về sự biến đổi địa giới hành chính Hà Nội thời cận - hiện
đại; đồng thời góp phần nhỏ bé vào việc kỉ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
3.1.Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu là Sự biến đổi địa giới hành chính tỉnh Hà Nội thời kì cận
hiện đại. Cụ thể là sự biến đổi địa giới hành chính tỉnh Hà Nội từ năm 1858 đến năm
1888 và sự biến đổi địa giới hành chính thành phố Hà Nội từ năm 1888 đến năm
2008.
3.2. Phạm vi nghiên cứu.
Về thời gian, tác giả tìm hiểu sự biến đổi địa giới hành chính Hà Nội thời cận -
hiện đại, tức là từ năm 1858 đến nay. Tuy nhiên, giai đoạn trước năm 1858 có được
đề cập đôi chút để tạo ra cái nhìn tương đối hệ thống trong 1000 năm Thăng Long -
Hà Nội.
Về không gian, tác giả tìm hiểu địa giới hành chính tỉnh Hà Nội từ năm 1858 đến
năm 1888 và địa giới hành chính thành phố Hà Nội từ năm 1888 đến nay. Tác giả
không tìm hiểu địa giới hành chính cấp phủ, huyện, tổng, xã, phường, thôn của tỉnh -
thành phố Hà Nội.

8
Cụ thể là tác giả tìm hiểu nguyên nhân, diễn biến, đặc điểm sự biến đổi địa giới
hành chính tỉnh - thành phố Hà Nội thời cận - hiện đại. Các yếu tố khác không được
đề cập vì thời gian, điều kiện và khả năng có hạn.

của luận văn.
Phần nội dung có 3 chương. Chương 1 trình bày về sự biến đổi địa giới hành
chính Thăng Long - Hà Nội thời phong kiến từ năm 1010 đến năm 1888. Chương 2
nói về sự biến đổi địa giới hành chính Hà Nội dưới thời thuộc Pháp (1888 - 1945).
Chương 3 giới thiệu về sự biến đổi địa giới hành chính Hà Nội thời hiện đại (1945
đến nay).
Phần kết luận, tác giả có một số nhận xét rút ra trong quá trình tìm hiểu về sự
biến đổi địa giới hành chính Hà Nội thời cận - hiện đại.
Phần tài liệu tham khảo là hệ thống danh mục các tài liệu được tác giả sử dụng để
hoàn thành luận văn. Những tài liệu này được viết bằng chữ Quốc ngữ và được xếp
thứ tự ABC theo tên tác giả. Những tài liệu không có tác giả, coi tên cơ quan ban
hành như tác giả và xếp theo chữ đầu cơ quan đó. Tất cả các tài liệu tham khảo đều
được đánh số để tiện trích dẫn. Ví dụ [24; tr. 59], tức là tài liệu số thứ tự 24, trang 59.
Phần phụ lục, tác giả giới thiệu một số bản đồ, lược đồ, bản ảnh, bảng niên biểu
những sự kiện quan trọng trong quá trình biến đổi địa giới hành chính Hà Nội,…
Đây là vấn đề mới, rộng và khó, nguồn sử liệu phong phú nhưng còn hạn chế,
thời gian eo hẹp, khả năng có hạn nên luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót.
Chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý của các nhà nghiên cứu để có thể bổ sung,
hoàn thiện luận văn của mình. 10
Chương 1.
SỰ BIẾN ĐỔI ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH
THĂNG LONG - HÀ NỘI THỜI PHONG KIẾN
(Đầu thế kỉ XI đến giữa thế kỉ XIX)

1.1. Vài nét về sự biến đổi địa giới hành chính Thăng Long thời Đại Việt
(đầu thế kỉ XI đến cuối thế kỉ XVIII).
1.1.1. Thời kì tiền Thăng Long.

Long Biên (Bắc Ninh) về Tống Bình. Từ đây đến đầu thế kỉ X, Tống Bình thường là
thủ phủ của chính quyền đô hộ phương Bắc. Đến đầu thế kỉ X, Tống Bình chiếm 11
trong số 55 hương của Giao Châu với 15 vạn dân. Nhiều thành luỹ đồng tâm được
xây dựng, bắt đầu bằng Tử Thành (thành con) của viên tổng quản Khâu Hòa xây năm
621 bên bờ sông Tô Lịch với chu vi 900 bộ (khoảng 1.674 mét) và kết thúc bằng Đại
La Thành của viên Tiết độ sứ Cao Biền đắp năm 865 - 866 với chu vi 3.000 bộ
(khoảng 5.580 mét) [56; tr. 53]. Đại La Thành là khu vực từ Cửa Đông đến gần Bách
Thảo, từ Cửa Nam đến đường Quán Thánh ngày nay [48; tr. 68]. Tuy chỉ là phủ thành
hành chính, chưa có dân ở nhưng thành Đại La đã xác lập địa giới hành chính Hà
Nội thời kì tiền Thăng Long.
1.1.2. Thời kì Thăng Long.
Năm 905, họ Khúc dựng nền tự chủ, đóng đô ở Đại La - Thủ phủ của Tiết độ sứ
nhà Đường. Năm 938, Ngô Quyền khôi phục độc lập hoàn toàn cho dân tộc và lập ra
nhà Ngô, đóng đô tại Cổ Loa. Tiếp đó, nhà Đinh và Tiền Lê đóng đô ở Hoa Lư (Ninh
Bình). Cổ Loa và Hoa Lư phù hợp với thủ hiểm trong thời chiến nhưng không thuận
lợi cho phát triển kinh tế xã hội trong thời bình.
Mùa thu năm 1010, vua Lí Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Đại La và đổi tên Đại La
là Thăng Long. Chiếu dời đô khẳng định nơi đây “ở giữa trời đất, có thế rồng cuộn,
hổ chầu, ở giữa nam, bắc, tây, đông, tiện hình thể núi sông sau trước, đất rộng mà
bằng phẳng, chỗ cao mà sáng sủa, dân cư không khổ vì ngập lụt, muôn vật thịnh đạt,
phồn vinh, xem khắp nước Việt, chỗ ấy là hơn cả. Thực là chỗ hội họp của bốn
phương, nơi thượng đô của kinh sư muôn đời” [27; tr. 259].

12
Nhà Lí xây dựng thành Thăng Long có 2 vòng thành: Vòng thành trong để nhà
nước trung ương làm việc, nay thuộc quận Ba Đình. La Thành là nơi dân ở có tên gọi
là Phủ Ứng Thiên gồm 61 phường [48; tr. 127]. Dấu tích địa giới La Thành thời Lí:
“phía đông là đoạn đê sông Hồng lên Hồ Tây, tiếp là đoạn đường Hoàng Hoa Thám
rồi chạy theo bờ tả ngạn sông Tô Lịch từ Bưởi đến Ô Cầu Giấy lại tiếp qua Giảng Võ
đến Ô Chợ Dừa, Kim Liên rồi thẳng đường Đại Cồ Việt và đường Trần Khát Chân

huyện Thọ Xương, huyện Quảng Đức vẫn thuộc phủ Phụng Thiên do Phủ Doãn đứng
đầu. Thời Tây Sơn, Quang Trung đóng đô ở Phú Xuân (Huế), Thăng Long là thủ phủ
của Bắc Thành (Bắc Bộ ngày nay).
Như vậy, sau năm 1010, Thăng Long là kinh đô của Đại Việt (trừ thời Hồ, Tây
Sơn). Nó nhiều lần đổi tên nhưng vẫn thuộc phủ Ứng Thiên (thời Lí, Trần), phủ
Trung Đô rồi phủ Phụng Thiên (thời Lê, Mạc). Kinh thành Thăng Long cùng với
huyện Thọ Xương và huyện Quảng Đức tạo thành phủ Phụng Thiên do Phủ Doãn
đứng đầu. Kinh thành được coi như nội thành, hai huyện được coi như ngoại thành.
Ngoại thành Thăng Long được chia ra 61 phường, rồi lại 36 phường. Địa giới hành
chính Thăng Long được mở rộng dần do nhu cầu xây dựng kinh đô của quốc gia
phong kiến độc lập đang trên đà phát triển, do yêu cầu chiến tranh Nam - Bắc triều và
do sự phát triển kinh tế hàng hóa thế kỉ XVI - XVIII.
1.2. Sự biến đổi địa giới hành chính Thăng Long - Hà Nội từ năm 1802 - 1858.
1.2.1. Sự biến đổi địa giới hành chính Thăng Long từ năm 1802 - 1830.
Năm 1802, nhà Nguyễn được thành lập và đóng đô ở Phú Xuân (Huế), Thăng
Long vẫn là thủ phủ của Bắc Thành gồm 11 trấn. Năm 1803, Gia Long cho phá bỏ
Hoàng thành Thăng Long và xây lại một tòa thành mới theo kiểu Vôbăng trên nền cũ
nhưng quy mô nhỏ hơn. Thành hình vuông mỗi bề chừng một cây số, tương ứng với
bốn con phố hiện nay là: phố Phan Đình Phùng ở phía bắc, phố Lý Nam Đế ở phía
đông, phố Trần Phú ở phía nam, đường Hùng Vương ở phía tây. Nhiệm sở Tổng trấn
Bắc thành ở phía đông trong thành (nay là phố Lí Nam Đế và phố Cửa Đông) [73;
cập nhật ngày 18 - 10 - 2009].
Năm 1805, vua Gia Long đổi tên phủ Phụng Thiên thành phủ Hoài Đức, huyện
Quảng Đức đổi thành huyện Vĩnh Thuận. Năm Minh Mệnh thứ 11 (1830), huyện Từ
Liêm quản lãnh 13 tổng, 80 xã, thôn, trang, trại, sở từ phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây
được sáp nhập vào phủ Hoài Đức [23; tr. 158].

14
Địa giới phủ Hoài Đức năm 1830, phía đông giáp sông Nhĩ Hà (đoạn sông Hồng
chảy qua Hà Nội uốn cong hình vành tai), bờ đối diện là các xã Bắc Cầu, Gia Thuỵ,

15
Đan Phượng, tỉnh Sơn Tây 24 dặm. Phía nam đến sông Thanh Quyết đối ngạn địa
giới huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình 124 dặm. Phía bắc đến sông Nhị Hà đối ngạn
với địa giới huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh 8 dặm. Phía đông nam đến địa giới huyện
Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình 130 dặm. Phía tây nam đến địa giới huyện Mĩ Lương, tỉnh
Sơn Tây 66 dặm. Phía đông bắc đến sông Nhị Hà đối diện với huyện Đông Ngàn,
tỉnh Bắc Ninh 3 dặm. Phía tây bắc đến sông Nhị Hà đối ngạn với địa giới huyện Yên
Lãng, tỉnh Sơn Tây 14 dặm. Từ tỉnh lị đi về phía nam đến Kinh đô Phú Xuân (Huế)
cách 1.104 dặm [19; tr. 490 - 491].
Khi quan sát lược đồ Các đơn vị hành chính Việt Nam thời Minh Mạng trong Sách
giáo khoa Lịch sử 10 nâng cao của Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, xuất bản năm
2006, trang 202, ta thấy địa giới tỉnh Hà Nội năm 1832: phía đông giáp tỉnh Bắc Ninh
và tỉnh Hưng Yên, phía tây giáp tỉnh Sơn Tây, phía nam giáp tỉnh Ninh Bình và tỉnh
Nam Định, phía bắc giáp tỉnh Bắc Ninh. Địa giới này được duy trì đến năm 1875,
tương đương ba tỉnh thành là Hà Nội, Hà Đông và Hà Nam năm 1960 gộp lại với
diện tích khoảng hơn 2000 km
2
.
Về đơn vị hành chính, tỉnh Hà Nội năm 1831 có 4 phủ: Phủ Hoài Đức gồm thành
Thăng Long, huyện Thọ Xương, huyện Vĩnh Thuận và huyện Từ Liêm. Phủ Ứng Hoà
gồm huyện Hoài An và huyện Sơn Minh; phủ Lí Nhân gồm huyện Duy Tiên, huyện
Kim Bảng và huyện Thanh Liêm; phủ Thường Tín gồm huyện Phú Xuyên, huyện
Thanh Trì và huyện Thượng Phúc. Năm 1832, Hà Nội có thêm phân phủ Ứng Hoà và
Lí Nhân. Phân phủ Ứng Hoà gồm huyện Chương Đức và huyện Thanh Oai. Phân phủ
Lí Nhân gồm huyện Bình Lục và huyện Nam Xương. Tỉnh Hà Nội từ năm 1832 đến
năm 1887 có 15 huyện, 127 tổng, 1104 xã, phường, thôn, trang, trại, châu, sở [23; tr.
10]. Đứng đầu tỉnh là tổng đốc Hà - Ninh, coi cả hai tỉnh Hà Nội và Ninh Bình. Tỉnh
thành Hà Nội đóng ở nhiệm sở của Tổng trấn Bắc Thành trước kia.
Năm 1851 - 1852, nhà Nguyễn tinh giản biên chế vì chi phí tốn kém, công đường
không đảm bảo nên bỏ phân phủ Ứng Hoà, Lí Nhân, để huyện Chương Đức và huyện

với năm 1831 - 1832 vẫn không thay đổi.
1.3. Sự biến đổi địa giới hành chính Hà Nội từ năm 1858 đến năm 1888.
Dựa vào sách Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn
thời Tự Đức 18 đến 29 (1864 - 1875) được Viện Sử học - Nhà xuất bản Thuận Hoá
tái bản đã cung cấp cho chúng ta những tài liệu vô cùng quý giá về địa giới hành
chính Hà Nội thời Tự Đức. Hà Nội vào những năm 60 và đầu những năm 70 của thế
kỉ XIX có địa giới giống năm 1832 và hành chính giống năm 1852, gồm 4 phủ (Hoài
Đức, Thường Tín, Ứng Hoà và Lí Nhân), 15 huyện, 127 tổng. Tổng đốc Hà - Ninh
kiêm nhiệm cả hai tỉnh Hà Nội và Ninh Bình [23; tr. 96].

17
Hà Nội là một tỉnh nằm giữa đồng bằng sông Hồng, giao thông thuận tiện, đất đai
rộng lớn, màu mỡ, đông dân, nhiều của và từng là kinh đô phong kiến nhiều triều đại,
là thủ phủ của Bắc thành nên có vị trí địa lí và vai trò rất quan trọng và ngày càng hấp
dẫn đối với giặc Pháp đang xâm lược nước ta khi đó.
Ngày 20 tháng 11 năm 1873, Pháp đánh chiếm Hà Nội lần thứ nhất. Nhà Nguyễn
bại trận, phải kí Hoà ước Giáp Tuất ngày 15 tháng 3 năm 1874. Theo Hòa ước này,
nhà Nguyễn phải cắt nhượng cho Pháp khu đất ở Đồn Thủy giáp đông nam thành Hà
Nội ra tới bờ sông Hồng, rộng 2,5 ha. Đây vốn là đồn thủy quân của nhà Nguyễn tại
Hà Nội, nay Pháp được quyền đặt Tòa lãnh sự với 100 quân thường trực. Ngoài ra,
theo Hiệp ước Thương mại Pháp - Việt ngày 31 tháng 8 năm 1874, Pháp cũng bắt đầu
đặt thuế thương chính, thuế hải đăng, thuế thả neo với các tàu thuyền buôn bán của
nước ngoài ra vào cảng Hà Nội [74; ngày 27/10/2009].
Trong khi chờ đợi xây dựng lại khu Đồn Thủy làm trụ sở Lãnh sự, Pháp buộc nhà
Nguyễn ký hiệp định ngày 30 tháng 5 năm 1875 cho Pháp sử dụng Trường Thi (nay
là khu vực Tràng Thi) làm Lãnh sự quán tạm thời. Ngày 28 tháng 8 năm 1875, Đờ
Kécgarađếch (De Kergaradec) đến nhận chức Lãnh sự Pháp đầu tiên ở Hà Nội. Trong
khi đó, nhà Nguyễn muốn lấy lại Trường Thi để mở khoa thi hương năm Bính Tí
(1876) nên chấp nhận nhượng bộ Pháp thêm một bước: Ngày 31 tháng 8 năm 1875,
Tổng đốc Hà - Ninh Trần Đình Túc ký hiệp định với Lãnh sự Pháp Đờ Kécgarađếch,

Năm 1886, Đốc lí Hà Nội là Halais (1886 - 1888) kiến thiết Khu nhượng địa, phá
bỏ các công trình cũ, quy hoạch giao thông, lập ra các tuyến phố theo dạng ô bàn cờ,
gồm các phố: Rollandes (Hai Bà Trưng), Carreau (Lí Thường Kiệt), Gambetta (Trần
Hưng Đạo) Phố Tràng Thi - Tràng Tiền được coi như ranh giới giữa khu phố cũ của
“Hà Nội 36 phố phường” với khu phố mới của Pháp.
Ngày 8 tháng 4 năm Đồng Khánh 3 (1888), hai huyện Thọ Xương và Vĩnh Thuận
được chia làm 6 khu (từ số 1 đến số 6), mỗi khu đặt các Chánh, Phó Thiên hộ để quản
lí. Ngày 17 tháng 5 năm 1888, 6 khu được đổi thành 6 hộ. Sự cắt đặt này không theo
lệ Việt chia thành tổng mà theo kiểu Pháp chia thành khu - hộ phố, chuẩn bị cho việc
Pháp mở rộng Khu nhượng địa của mình ở Hà Nội thành thành phố cấp 1.
Để tiện đàn áp phong trào khởi nghĩa chống Pháp của Nguyễn Thiện Thuật, tháng
2 năm 1887, Pháp sáp nhập bộ máy cai trị của tỉnh Hưng Yên vào tỉnh Hà Nội, đặt
dưới quyền kiểm soát của Công sứ Hà Nội. Viên Tổng đốc cai quản hai tỉnh Hà Nội
và Hưng Yên được gọi là Tổng đốc Hà - Yên (Hà - An) [42; tr. 236 - 237]. Tổng đốc

19
Hà Nội không kiêm quản tỉnh Ninh Bình nữa. Tỉnh Ninh Bình được giao cho tổng
đốc tỉnh Nam Định kiêm quản và gọi là tổng đốc Định - Ninh [74; ngày 27/10/2009].
Như vậy, từ khi Pháp xâm lược Việt Nam đến trước khi Pháp lập thành phố Hà
Nội (1858 - 1888), địa giới hành chính Hà Nội so với giai đoạn trước có thay đổi
khác biệt và phức tạp. Nó bị thu hẹp ở phía đông bằng việc cắt cho Pháp Khu nhượng
địa năm 1875, rồi lại mở rộng một phần về phía tây bằng việc sáp nhập huyện Mĩ
Lương từ tỉnh Sơn Tây (1880). Trong khi đó, Khu nhượng địa của Pháp không ngừng
được mở rộng ở phía đông nam thành Hà Nội. Đây là nơi Pháp đóng quân, đặt trụ sở
Lãnh sự rồi trụ sở Hội đồng tư vấn thành phố Hà Nội có viên Đốc lí người Pháp đứng
đầu để cai quản. Khu vực này là tiền thân của thành phố Hà Nội.
* *

21
Chương 2.
SỰ BIẾN ĐỔI ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH HÀ NỘI
DƯỚI THỜI PHÁP THUỘC (1888 - 1945).

2.1. Sự biến đổi địa giới hành chính Hà Nội từ năm 1888 đến năm 1915.
Trong quá trình xâm lược và cai trị Việt Nam, thực dân Pháp đã thành lập các
thành phố cấp 1 để đặt trụ sở hành chính ở mỗi kì. Năm 1887, Pháp thành lập Liên
bang Đông Dương, đồng thời chọn địa điểm đặt trụ sở của Liên bang. Thực dân Pháp
nhận thấy Hà Nội có ưu thế hơn Huế và Sài Gòn - Gia Định. Đây vốn là kinh đô của
nhiều triều đại phong kiến Việt Nam và là trung tâm kinh tế - văn hóa của Bắc Kì. Hà
Nội có đất đai rộng lớn, bằng phẳng, màu mỡ; giao thông thủy bộ thuận tiện; dân
đông, vật thịnh. Vì vậy, Pháp đã chọn Hà Nội làm trung tâm đầu não cai trị Việt Nam
và Đông Dương.
Trước khi được sự đồng ý của triều đình Huế, ngày 19 tháng 7 năm 1888, Tổng

sứ Bắc Kì chuyển nhượng 1214 m
2
đất của huyện Thọ Xương cho thành phố Hà Nội
[7; tr. 96]. Ngày 6 tháng 12 năm 1890, Kinh lược Bắc Kì gửi Tư di tới Tổng đốc Hà -
Yên về việc tất cả các thôn xã nào thuộc huyện Thọ Xương đã niêm yết tại cửa ô đều
sáp nhập vào thành phố Hà Nội [7; tr. 12].
Quyết định ngày 30 tháng 8 năm 1894 của Kinh lược Bắc Kì Hoàng Cao Khải về
việc thiết lập lại huyện Vĩnh Thuận trên phần đất còn lại ngoài thành phố Hà Nội,
gồm 4 tổng: Tổng Thượng, Tổng Trung, Tổng Nội và Yên Hạ. Đến ngày 8 tháng 12
năm 1894, huyện Vĩnh Thuận có thêm 2 tổng là Hoàng Mai, Khương Thượng của
huyện Thanh Trì, chịu sự quản lí của Đốc lí thành phố Hà Nội [7; tr. 7 và 107].
Ngày 12 tháng 2 năm 1895, Kinh lược Bắc Kì có thư gửi Thống sứ Bắc Kì về
Nghị định đồng ý cho sáp nhập các thôn xã của huyện Thọ Xương đã niêm yết tại cửa
ô vào thành phố Hà Nội [7; tr. 16]. Nghị định ngày 20 tháng 2 năm 1895 của Thống
sứ Bắc Kì về việc sáp nhập các vùng bao gồm đường Lò mổ, đê giáp Khu nhượng địa
và đường Mandarine (đường Lê Duẩn) vào đất của thành phố Hà Nội [7; tr. 55 - 56].
Quyết định ngày 11 tháng 3 năm 1895 của Thống sứ Bắc Kì sáp nhập các thôn
trong tổng Vĩnh An, Kim Liên và Thanh Nhàn của huyện Vĩnh Thuận vào thành phố
Hà Nội. Đó là thôn Liên Đường, Thiền Quang, một phần đất của thôn Tiên Mĩ, một
ao có diện tích 6 sào thuộc khu Nam Ngư hay phố Nam Ngư, Vân Hồ, Thịnh Yên,
Yên Nhất, Hoà Mã, Phúc Lâm Tiêu, Đồng Tân, Giáo Phương, Phục Cổ, Phương Yên,
Cảm Hội và Đức Viên [76; tr. 1 - 5] và [7; tr. 55 - 56].

23
Trên cơ sở mở rộng khu vực lân cận cho lệ vào chính quyền thành phố Hà Nội,
ngày 14 tháng 7 năm 1899, Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer (1897 - 1902) ra
Nghị định thành lập Khu vực ngoại thành Hà Nội (Zoone suburbaine autour de laville
de Hanoi) do Đốc lí Hà Nội kiêm quản. Đó là khu vực còn lại của 2 huyện Thọ
Xương, Vĩnh Thuận (phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội) nằm giáp địa giới thành phố Hà
Nội [35; 314]. Vùng ngoại thành Hà Nội năm 1899 gồm 9 tổng, 59 xã, thôn, phường,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status