BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA QUẢN TRỊ NHÂN LỰC
.............O............
2014
BÀI THẢO LUẬN
MÔN KINH TẾ HỌC LAO ĐỘNG
NHÓM 8
GVHD: CÔ PHAN THU GIANG
Mục lục.
I. Lời mở đầu..............................................................................................................4
II.Tình hình kinh tế Việt Nam những năm gần đây....................................................4
1.Tăng trưởng kinh tế dưới mức tiềm năng..............................................................4
2. Lạm phát được kiềm chế, chỉ số tăng giá thấp.....................................................6
3. Thị trường tiền tệ và thị trường ngoại hối có chuyển biến tích cực ....................6
III. Thực trạng thất nghiệp và việc làm đối với lao động trí thức ở việt nam............7
1.Nhu cầu tuyển dụng lao động trí thức ở Việt Nam hiện nay.................................8
Nhà tuyển dụng đòi hỏi nhiều kỹ năng ..............................................................10
Kĩ năng giao tiếp ...............................................................................................10
Kĩ năng thích ứng và linh hoạt .........................................................................10
Kĩ năng làm việc nhóm .....................................................................................10
Kĩ năng giải quyết vấn đề .................................................................................11
Kĩ năng hòa đồng ..............................................................................................11
Kĩ năng tạo động lực cho bản thân ...................................................................11
Kĩ năng thuyết phục ..........................................................................................11
kĩ năng quản lý thời gian ..................................................................................12
2.Tỉ lệ thất nghiệp của lao động trẻ tại Việt Nam....................................................12
nghệ hiện đại phục vụ cho kinh doanh sản xuất thì một trong những yếu tố quyết
định sự phát triển của đất nước là lượng lao động, lực lượng lao động là những sinh
viên được đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng… là lực lượng trẻ của đất nước
rất năng động và có năng lực trong công việc. Chính vì vậy sinh viên là nguồn nhân
lực rất quan trọng chúng ta cần biết cách sử dụng một cách hợp lý và hiệu quả nhất.
Nhưng tình trạng thất nghiệp của sinh viên sau khi ra trường hiện nay ảnh hưởng rất
nhiều đến sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.. Vấn đề này không phải do có ít
số lượng sinh viên theo học bậc đại học và sau đại học, không có trình độ làm việc
dẫn đến bị sa thải và thất nghiệp xảy ra. Để chứng minh cho điều đó , dưới đây là
những suy nghĩ của chúng em về vấn đề trên . do kiến thức xã hội còn hạn chế nên
không tránh khỏi những sai sót , mong cô chỉ bảo thêm về bài thảo luận của chúng
em . em xin chân thành cảm ơn !!!
II.Tình hình kinh tế Việt Nam những năm gần đây.
1.Tăng trưởng kinh tế dưới mức tiềm năng .
Báo cáo về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội 10 tháng đầu năm 2013 của Chính
phủ cho biết, trong quý III, GDP của Việt Nam tăng trưởng 5,54% so với quý II, góp
phần đưa GDP 9 tháng đầu năm 2013 tăng 5,14%, và con số này cao hơn cùng kì
năm ngoái (5,1%) (tính theo giá so sánh năm 2010). Nhận định về tình hình tăng
trưởng kinh tế đến cuối năm, ngày 22/10, ông Glenn Maguire, chuyên gia, Kinh tế
trưởng khu vực châu Á Thái Bình Dương của Ngân hàng ANZ dự báo tăng trưởng
kinh tế năm 2013 của Việt Nam vẫn ở dưới mức tiềm năng, chỉ đạt khoảng 5,1%
năm 2013. Mức dự báo này là kém lạc quan nhất so với các dự báo từ phía Việt Nam
với mức 5,3%. Tuy nhiên, thực tế thời gian qua cho thấy, GDP 9 tháng đầu năm
2013 đã tăng 5,14%, điều này có thể khẳng định, dù rằng mục tiêu tăng trưởng GDP
năm 2013 là 5,5% khó đạt được bởi những khó khăn trong các yếu tố nền tảng tạo
nên tăng trưởng, nhưng triển vọng mức tăng trưởng 5,3% là hoàn toàn có cơ sở.
Tổng cung của nền kinh tế những tháng đầu năm bước đầu đã có những dấu hiệu
hiện qua mức độ phân tán của tốc độ tăng CPI so với giá trị trung bình đạt mức khá
ổn định trong 9 tháng/2013, thấp hơn nhiều so với năm 2012 và năm 2011.
Lạm phát những tháng đầu năm tăng tương đối cao so với những tháng trước đó
(tháng 1 và tháng 2 tăng lần lượt là 1,25% và 1,32%) được nhận định chủ yếu là do
xu hướng mùa vụ mà không chịu nhiều tác động từ các yếu tố cơ bản như CSTK hay
CSTT. Điều này cũng diễn ra tương tự trong tháng 8 và tháng 9, chỉ số giá tăng cao
(0,83% và 1,06%) là do sự thay đổi trong việc điều chỉnh giá hàng hóa cơ bản và
dịch vụ công (y tế, giáo dục). Những tháng cuối năm, các yếu tố này đã trở nên thiếu
hiệu quả, vì vậy theo dự báo của UBGSTCQG, mức lạm phát những tháng cuối năm
2013 sẽ ở mức thấp, và mục tiêu lạm phát đầu năm là có thể đạt được.
3.Thị trường tiền tệ và thị trường ngoại hối có chuyển biến tích cực
Thị trường tiền tệ, ngoại hối những tháng đầu năm 2013 có những cải thiện tích
cực, biểu hiện qua một số chỉ tiêu cơ bản: Thứ nhất, thanh khoản của hệ thống tiếp
tục được củng cố và hiện khá dồi dào với sự gia tăng mạnh của tốc độ huy động vốn.
Điều này khiến cho mặt bằng lãi suấthuy động, cho vay và cả liên ngân hàng giảm
mạnh xuống mức thấp ngang với thời điểm năm 2006.
Tính đến tháng 10, lãi suất huy động đã giảm từ 2-3%/năm, lãi suất cho vay giảm
3-5%/năm so với những tháng đầu năm; lãi suất liên ngân hàng mặc dù có thời điểm
tăng cao, tuy nhiên, về mặt bằng chung, mức lãi suất vẫn giữ ở mức tương đối ổn
định với các kì hạn ngắn (3-4%/năm).
Thứ hai, tín dụng đang tăng trưởng thuận lợi. Đầu năm, hoạt động tín dụng tương
đối ảm đạm khi cả hai tháng đầu năm, tăng trưởng tín dụng đều là con số âm với lần
lượt -1,2% và -0,28%; những con số này báo hiệu một sự giảm sút trong nhu cầu đầu
tư và tiêu dùng của nền kinh tế. Tuy nhiên, những tháng sau đó, tăng trưởng tín dụng
lại diễn biến theo chiều ngược lại. Tính đến hết quý III, tăng trưởng tín dụng của
toàn hệ thống đạt 7,89%. Nếu dựa trên tình hình của năm trước đó, tỷ lệ tăng trưởng
tín dụng 10 tháng đầu năm 2012 chỉ đạt 2%, nhưng đến cuối năm vẫn đạt xấp xỉ 9%
thì mục tiêu 12% đến cuối năm là một mục tiêu khả quan.
nam.
1.Nhu cầu tuyển dụng lao động trí thức ở Việt Nam hiện nay
“Đội ngũ trí thức Việt Nam hiện nay khá hùng hậu, kế thừa những giá trị truyền
thống tốt đẹp của dân tộc, kết hợp với tinh thần của thời đại mới”. Đó là đánh giá
của TS Nguyễn Khắc Thuần, Trưởng Khoa Du lịch và Việt Nam học (Trường Đại
học Nguyễn Tất Thành). TS Nguyễn Khắc Thuần cho rằng thời đại nào cũng vậy,
đội ngũ trí thức Việt Nam với trí tuệ, ý chí và sức mạnh, góp sức rất lớn cho sự
nghiệp dựng nước, giữ nước và phát triển đất nước.
Theo Giáo sư Ngô Bảo Châu, để xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức, phải
chăm lo sự nghiệp giáo dục. Nền giáo dục của Việt Nam đã phát triển nhanh, đạt
nhiều thành tựu to lớn nhưng đang còn nhiều bất cập trước cơ hội hội nhập quốc tế
và yêu cầu đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển kinh tế tri thức. Giáo
sư Ngô Bảo Châu cho rằng cần tạo điều kiện làm việc và có chế độ đãi ngộ hợp lý để
trí thức có thể tập trung hết tâm sức cho nghiên cứu tìm tòi sáng tạo và cống hiến.
“Để cho những người làm khoa học được ưu tiên hơn, được ưa đãi hơn những người
khác, mà họ không bị ganh ghét, đố kỵ. Đó là cách để cho khoa học trong các trường
ĐH phát triển. Bản thân Viện Nghiên cứu về Toán là một mô hình như vậy. Ở đó
những người đến làm việc không phải là vĩnh viễn như bao cấp, trong vòng 2-3
tháng, trong thời gian đó họ không được hưởng mức lương lớn mà họ được hưởng
mức lương xứng đáng có thể đảm bảo cuộc sống, không phải lo toan những việc
khác mà chỉ tập trung hoàn toàn cho nghiên cứu khoa học”, Giáo sư Ngô Bảo Châu
cho biết.
Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử, số lượng những người có trình độ cao, trình độ
đại học chỉ vào khoảng 4 triệu người so với dân số là chiếm hơn 11%. Trong khi các
nước phát triển vừa phải tỷ lệ người dân được đào tạo trình độ ĐH, CĐ là trên dưới
30% và những nước phát triển cao là trên dưới 50%. Một trong những nguyên nhân
khiến chúng ta còn hạn chế về những đóng góp của đội ngũ trí thức đó là tỷ lệ lực
lượng này chưa cao so với các nước.
Được biết, tính đến hết Quý 1 năm 2014, cả nước có hơn một triệu người trong
độ tuổi lao động bị thất nghiệp, tăng 145,8 nghìn người so với Quý 4 năm 2013. Tỷ
Nhà tuyển dụng đòi hỏi nhiều kỹ năng:
Những nhà tuyển dụng tin rằng những người họ thuê luôn luôn có một kĩ năng và
tiêu chuẩn nhất định để phù hợp với công việc. Thông thường, những yêu cầu kĩ
năng đó được đăng trên mô tả công việc, tuy nhiên, có trường hợp, họ sẽ không nhắc
đến. Nếu bạn biết được họ muốn những yếu tố nào, bạn sẽ tạo cơ hội cho bản thân
mình vượt trội hơn các thí sinh khác.
Với từng vị trí khác nhau thì nhà tuyển dụng sẽ có các yêu cầu về kĩ năng khác nhau.
Chẳng hạn như công việc bán hàng thì nhà tuyển dụng sẽ cần đến giao tiếp và thuyết
phục người khác… Bởi vậy, đối với lao động Việt nam, bên cạnh tấm bằng xuất sắc,
nhà tuyển dụng còn yêu cầu rất cao những kỹ năng cần thiết thích hợp với nghề
Kĩ năng giao tiếp:
Giao tiếp luôn là một yếu tố quan trọng trong cuộc sống con người nói chung. Kĩ
năng giao tiếp mà các nhà tuyển dụng cần có thể qua các hình thức như:
· Gặp mặt trực tiếp với người khác, chia sẻ ý kiến, thông tin.
· Nói chuyện qua điện thoại- biết cách xử sự, hiểu rõ vấn đề và giải quyết tình
huống.
· Trao đổi qua thư từ, e-mail hay các tài liệu khác.
Kĩ năng thích ứng và linh hoạt:
Hay nói cách khác, nhà tuyển dụng muốn nhìn thấy ở một nhân viên tiềm năng sự
cống hiến qua việc đảm đương nhiều việc khác nhau. Họ không muốn thuê một
người cứng nhắc và thụ động trong môi trường làm việc thay đổi liên tục. Thích ứng
và linh hoạt có nghĩa là bạn phải:
· Sẵn sàng ở lại công ty trễ hay đi làm ngay cả những ngày nghỉ khi có quá nhiều
công việc để làm.
· Giúp đỡ người khác lúc công việc họ bị quá tải mặc dù đó không phải là trách
nhiệm của bạn.
Kĩ năng tạo động lực cho bản thân:
Khi công việc trở nên khó khăn hơn, người ta có thể bị chán nản. Do đó, nhà tuyển
dụng muốn thuê một người biết tự tạo động lực cho chính mình và nỗ lực nhiều hơn
để hoàn thành công việc. Kĩ năng này bao gồm:
· Thể hiện thái độ “mình luôn làm được” trong mọi trường hợp. Thay vì đùn đẩy
trách nhiệm, chấp nhận thiếu sót trong công việc thì luôn tìm cách tốt hơn.
· Cố gắng, nỗ lực sau khi thất bại, hoặc bị phê bình.
· Nhìn ở nhiều khía cạnh khác nhau, biết đào sâu, tìm hiểu vấn đề hơn là chỉ nhìn ở
bề mặt.
Kĩ năng thuyết phục:
Trong thời đại mới, người chủ không muốn họ là người duy nhất đưa ra lời nói và
những người khác phải làm theo. Do đó, họ cũng đánh giá cao kĩ năng thuyết phục
và tạo sự ảnh hưởng. Thông thường, kĩ năng này liên quan nhiều đến công việc bán
hàng, tuy nhiên, trong công sở, nó có thể được thể hiện qua:
· Làm mọi người thay đổi hướng suy nghĩ của họ thiên về hướng tích cực và có lợi
hơn.
· Trình bày quan điểm cá nhân và sự đề nghị của mình theo cách logic và thuyết
phục mọi người nghe theo.
Kĩ năng quản lí thời gian
Đôi lúc bạn thấy mình cực kì rảnh rỗi, cũng có lúc, bạn cực kì bận rộn. Đó là khi bạn
nhận ra kĩ năng quản lí thời gian của bạn có vấn đề. Do đó, nó là một trong những kĩ
năng rất quan trọng mà nhà tuyển dụng muốn nhìn thấy ở một ứng cử viên tiềm năng
biết quản lí thời gian, sắp xếp công việc hợp lí. Cụ thể là:
· Sắp xếp, lên lịch việc làm hợp lí- qua việc phân chia thứ tự việc nào nên làm trước,
việc nào nên làm sau.
· Tách từng phần, hợp tác với nhiều người khi khối lượng công việc quá đồ sộ.
· Đưa ra hạn chót hoàn thành công việc.
2.Tỉ lệ thất nghiệp của lao động trẻ tại Việt Nam
tiêu biểu cho những người mới ra trường). Theo đó tỉ lệ thất nghiệp không nhỏ. Như
tỉ lệ thất nghiệp thanh niên thành thị thời điểm 1-1-2014 lên tới 11,17%. Tính đến
thời điểm 1-7-2014 là 10,65%.
Trong năm 2014 này ,việt nam vừa mới công bố tỉ lệ thất nghiệp chỉ là
1,84%.Nhìn vào con số thống kê này đã có rất nhiều những thắc mắc và những câu
hỏi đặt ra:liệu rằng con số này có hoàn toàn xác thực hay không hay là có nhầm lẫn
gì trong lúc thực hiên những thống kê,và câu trả lời đó là cách tính tỉ lệ thất nghiệp
tại Việt Nam có điểm khác biệt như sau:Những người đang trong tình trạnh thất
nghiệp nhưng họ lại kiếm được 1 công việc khác để làm thêm như bán hàng,quét
rác,bán xổ số,...cũng được tính là những người có việc làm, nhiều người được hưởng
hưu,lương trợ cấp thất nghiệp thì cũng được coi là có việc là do có thu nhập .Còn đối
với 1 bộ phận sinh viên sau khi ra trường chưa có việc làm ,đi tìm và làm những
công việc không cần đến tấm bằng cử nhân thì cũng được coi là có việc làm .Và con
số này đang gây ra những thắc mắc xôn xao
3.Xét từ năm 2008 , mức độ đáp ứng công việc của các cử nhân bằng cấp đại học
,sau đại học đối với nhà tuyển dụng ra sao ?
Kết quả khảo sát cho thấy, trong số 217 doanh nghiệp được hỏi về sự hài lòng của
họ đối với nhân viên là cử nhân khối ngành khoa học xã hội và nhân văn thì tỷ lệ
nhân sự mà họ sử dụng trung bình chiếm 27% tổng nhân sự của doanh nghiệp, trong
đó tỷ lệ nam/nữ là 43%. Tỉ lệ này cho thấy đóng góp quan trọng của khối ngành này
vào lực lượng lao động chung của xã hội.
Theo thông tin tại hội thảo công bố bản tin cập nhật thị trường lao động Việt Nam
mới đây do bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, tổng cục Thống kê cho thấy,
trong quý I năm 2014, có 21,2% thanh niên trong độ tuổi 20-24, có trình độ cử nhân
trở lên bị thất nghiệp. Riêng đầu tháng 7/2014 có hơn 162.000 cử nhân thất nghiệp.
Theo các chuyên gia thì con số thực tế lao động chất lượng cao thất nghiệp còn cao
hơn rất nhiều.
Hằng năm, các công ty tại khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất trên cả nước
số này, theo khảo sát hơn 500 doanh nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh có đến 94%
nhân viên mới phải đào tạo lại (nguồn từ công ty Nhân Việt Management Group).
Còn khảo sát 150 doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội, mức độ đáp ứng công việc của
sinh viên tốt nghiệp đại học chỉ ở mức trung bình, dưới chuẩn.
Chính ông Trần Anh Tuấn - phó Giám đốc Trung tâm dự báo nguồn nhân lực và thị
trường lao động TP Hồ Chí Minh cũng khẳng định: "70% sinh viên tốt nghiệp chưa
trang bị tốt về chuyên môn cũng như kỹ năng mềm, trình độ ngoại ngữ để tiếp cận
công việc. Bằng cấp cao không quyết định việc xin việc khó hay dễ mà nhân lực có
đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng hay không". Đó là những vấn đề đáng báo
động cho tình trạng chất lượng sinh viên của Việt Nam. Đó cũng là một nguyên
nhân căn bản lý giải cho tình trạng thất nghiệp hiện nay. Câu chuyện "biết rồi, khổ
lắm, nói mãi" này, vẫn loay hoay chưa tìm được lối ra.
Theo đại diện của Ngân hàng cổ phần Quân đội, trong những năm gần đây, kinh
tế khó khăn, mỗi năm ngân hàng này tuyển dụng chừng 300 đến 400 nhân sự. Việc
tuyển chọn được lựa từ hàng ngàn hồ sơ, thậm chí nhiều nhân sự được tuyển dụng
qua nhiều vòng thi khắt khe, vẫn không đáp ứng được yêu cầu công việc. Nên trong
khoảng 300 đến 400 đó, vẫn có những người bị đào thải trong quá trình làm việc. Có
một thực tế cho thấy trong quá trình tuyển dụng là việc đào tạo không gắn với thực
tiễn. Nhiều cử nhân, thạc sĩ bằng giỏi mà ra trường vẫn không đáp ứng được yêu
cầu. Cũng chính đại diện của ngân hàng này nhấn mạnh: đi làm cần những kỹ năng
mềm như kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp, sự nhanh nhạy, chủ động trong
công việc. Mà hầu hết cử nhân, thạc sĩ ra trường đều thiếu trầm trọng.
IV. Thực trạng hệ thống đào tạo đại học ,sau đại học của Việt Nam
Giáo dục Đại học Việt Nam đã được nhà nước quan tâm đặc biệt trong những
năm gần đây, ngân hàng thế giới đã đầu tư cho giáo dục Việt Nam qua nhiều dự án
lên đến hàng trăm triệu đô la nhưng tình hình Giáo dục Đại học Việt Nam hiện nay
còn nhiều bất cập, 3 trong số những bất cập đó liên quan đến: Mục tiêu, chương
Hiện nay, chương trình giáo dục đại học tại Việt Nam vẫn còn kém hiệu quả.
Nguyên nhân do Bộ khống chế quá chặt về chương trình khung và yêu cầu các
trường phải tuân thủ một cách cứng nhắc.
Trao đổi về vấn đề này, Thầy Ngô Đăng Thành, giảng viên Trường ĐH Kinh tế
TP. HCM đã có ý kiến: "Kiến thức chuyên ngành sinh viên được học quá ít. Ví dụ,
một chương trình cử nhân, bao gồm 125-130 tín chỉ tất cả các môn, trong đó có
khoảng 80-90 tín chỉ là môn chung. Các môn chung của ngành cũng khoảng 20 tín
chỉ. Cho nên những kiến thức sẽ học để sau này sinh viên đi làm thực tế chỉ còn
khoảng 20 tín chỉ nữa, tương đương với 4-5 môn." (Nguyễn Hoàng Hạnh, 2008)
GS-TSKH Đỗ Trần Cát, Tổng Thư ký Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước cho
rằng Bộ phải xem xét và phân bổ lại chương trình học. Ví dụ đối với môn chung như
triết học, kinh tế chính trị trong các trường đại học nên phân bố số tiết ít hơn, để
dành thời gian giảng dạy các môn chuyên ngành sẽ thiết thực hơn. (H.L.Anh - D.
Hằng, 2005)
Còn ths. Đào Đức Tuyên, Phó Trưởng khoa Ngoại ngữ (Trường ĐH Nông Lâm
Tp.HCM) phát biểu: môn Giáo dục thể chất được quy định trong chương trình khung
của Bộ, nên chăng đổi lại thành môn tự chọn vì như vây sinh viên có thể chọn những
môn thể thao phù hợp với điều kiện sức khỏe và thể lực của mình. Môn Giáo dục
quốc phòng cũng vậy, nên chuyển sang thành môn tự chọn vì một tháng học ròng rã
cả lý thuyết lẫn thực hành như hiện nay thực sự không cần thiết đối với sinh viên,
đặc biệt là sinh viên nữ (H.L.Anh - D. Hằng, 2005).
Thiết nghĩ, Bộ Giáo dục và Đào tạo không nên quy định các trường đại học phải
tuân theo chương trình khung một cách cứng nhắc mà hãy để các trường đại học chủ
động biên soạn chương trình. Chương trình khung của Bộ là chương trình chuẩn để
các trường dựa vào đó tự thiết kế chương trình cho mình, như thế mỗi trường đại học
sẽ có chương trình đặc thù mang thế mạnh riêng. Đối với những môn chuyên ngành,
trường sẽ giao cho khoa chủ động xây dựng chương trình. Như vậy chương trình
giảng dạy sẽ hữu dụng hơn vì dựa vào nhu cầu thực tế của xã hội và trình độ của
sinh viên, khoa sẽ điều chỉnh và cải tiến chương trình học một cách khoa học và kịp
- Gần 70% cho rằng mình không có năng lực tự nghiên cứu;
- Gần 55% sinh viên được hỏi cho rằng mình không thực sự hứng thú học tập.
(Theo một nghiên cứu mới đây về phong cách học của sinh viên của PGS.TS
Nguyễn Công Khanh (2008, được trích trong Mai Minh, 2008)
Tóm lại, các trường đại học ở Việt Nam muốn nâng cao chất lượng thì phải chú
trọng thay đổi 3 vấn đề chính được đề cập ở trên. Những thay đổi này cần sự nỗ lực
từ nhiều phía: Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhà trường, giảng viên và sinh viên. Biết
rằng việc thực hiện rất khó khăn và phải mất một khoảng thời gian dài nhưng phải
làm ngay vì nhà nước đã mở cửa cho nước ngoài đầu tư vào giáo dục và khuyến
khích các cơ sở giáo dục đào tạo theo nhu cầu xã hội. Điều này tạo ra sự cạnh tranh
trong Giáo dục-Đào tạo, các trường đại học phải tự đổi mới nâng cao chất lượng để
tạo uy tín và thương hiệu cho mình.
V. Đặc điểm hệ thống đào tạo cử nhân tại một số nước trong khu vực láng
giềng, các nước Âu- Mỹ và kinh nghiệm của họ.
1. Đặc điểm hệ thống đào tạo cử nhân tại một số nước
· Tại Trung Quốc
Trong thời đại này, Trung Quốc đã sớm xác định: “ Khoa giáo hưng quốc” –
Nghĩa là lấy giáo dục để chấn hưng đất nước dựa trên nền tảng giáo dục hướng ra
thế giới, hướng tới hiện đại hóa và hướng tới tương lai.
Trung Quốc đã tiến hành mạnh mẽ cải cách giáo dục quốc dân theo hướng ngày
càng hiện đại hóa thuận theo xu hướng quốc tế hóa. Về cơ cấu hành chính, lựa chọn
và thống nhất với cơ chế 6-3-3-4, nâng cải cách giáo dục từ 5 năm lên 9 năm; Chú
trọng và làm tốt phân luồng học sinh sau THCS; Thực hiện mạnh và thành công cải
cách giáo dục ở phổ thông, thể hiện ở phân cấp quản lý chương trình; Cải cách
chương trình, sách giáo khoa; Thực hiện dạy học tựu chọn; Thay đổi cách đánh giá
trong thi cử; Thay đổi cách thức quản lý dạy học; Tăng cường bồi dưỡng, đào tạo
đội ngũ giáo viên; Giảm định mức học sinh trên dầu giáo viên; Hiện đại hóa cơ sở
vật chất nhà trường.
Mục tiêu giáo dục: phát triển tài năng của từng cá nhân, sao cho mỗi người đều có
thể đóng góp vào sự nghiệp kinh tế và vào cuộc đấu tranh liên tục nhằm biến
Singapore thành một thị trường quốc tế giàu năng suất và mạnh tính cạnh tranh.
Đây chính là sự kết hợp giữa truyền thống GD phương Đông với văn minh phương
Tây. Truyền thống GD phương Đông thường chú ý tới GD đạo đức tính tập thể
(chống chủ nghĩa cá nhân), coi trọng các giá trị lý thuyết ( lý tưởng) và tiêu chuẩn
đánh giá cũng như khát vọng vươn tới là bằng cấp. Các giá trị của nền GD phương
Tây lại chú ý đến từng cá nhân, đề cao vai trò của cá nhân và coi trọng hiệu quả,
thực dụng. Các tính cách này dựa trên bản sắc văn hóa và những di sản lịch sử.
Trong xã hội hiện đại, tòan cầu hóa với 1 đất nước đa sắc tộc, Singapore đã kết hợp
hài hòa các giá trị này. Tại mỗi cấp học Singapore vẫn thi tốt nghiệp và giữ bằng cấp
thống nhất: bằng tiểu học (PSLE), bằng THCS bình thường (N level), bằng THCS
bậc cao (O level), bằng dự bị ĐH ( A level) và các bằng cấp CĐ-ĐH khác. Đồng
thời họ cũng nêu cao vai trò cá nhân trong mục tiêu, nội dung cũng như phương
pháp GD.
Chính sách giáo viên: GV phải là những người giỏi nhất và yêu nghề
Singapore chọn lọc kỹ các sinh viên thi vào ngành sư phạm trước khi đào tạo họ và
chỉ tiêu tuyển sinh tương đương với lượng giáo viên thiếu trong ngành. Ngay khi
được tuyển chọn, sinh viên sẽ được Bộ giáo dục thuê và gần như chắc chắn được
bảo đảm có việc làm.
Singapore dành cho các giáo viên 100 giờ đào tạo mỗi năm và bổ nhiệm các giáo
viên có thâm niên giám sát trình độ giáo viên tại mỗi trường. Nghiên cứu, lập ra
những trường đại học chất lượng cao để thu hút sinh viên giỏi, đồng thời đưa người
giỏi ra nước ngoài học.
Tính thị trường còn thể hiện trong việc chọn tiếng Anh làm ngôn ngữ chung trong
GD nên Singapore dễ dàng tiếp cận với các nền GD và khoa học tiên tiến trên thế
giới
· Giáo dục tại Mỹ
một số kinh nghiệm của các nước này trong việc phát triển giáo dục ở một số khía
cạnh sau:
Thứ nhất, nền giáo dục của ba nước này tuy có những đặc điểm khác nhau
nhưng nhìn chung, cả ba nước này đều tổ chức được một nền giáo dục khá quy củ,
khoa học, có sự quản lý của nhà nước. Nhà nước hang năm không chỉ đầu tư rất lớn
cho giáo dục mà còn có sự quản lý chặt chẽ. Điều đó giúp cho các nước này có
những chính sách phát triển hợp lý đối với từng thời kỳ phát triển của đất nước.
Thứ hai, dứng trước nhu cầu phát triển không ngừng của thực tiễn, cả ba
nước này đều tiến hành cải cách giáo dục, coi nhu cầu cải cách giáo dục là một nhu
cầu tất yếu cùng với quá trình cải cách nền kinh tế - xã hội của đất nước nói chung.
Những cải cách giáo dục mà các nước này đưa ra không chỉ khắc phục những hạn
chế, yếu kém của nền giáo dục trước đó mà còn tạo điều kiện cho nền giáo dục của
cả ba nước không ngừng phát triển, góp phần đáng kể vào sự phát triển kinh tế - xã
hội nói chung và từng bước tạo được vị thế vững chắc về phát triển giáo dục so với
các nước trên thế giới.
Thứ ba, cả ba nước đều tiến hành cải cách một cách toàn diện, cả về mục
đích, nội dung và phương pháp giáo dục. Chính sự thay đổi toàn diện đó đã làm cho
nền giáo dục các nước này có sự đổi mới toàn diện và không ngừng phát triển.
Thú tư, cả ba nước đều tiến hành chính sách mở cửa trong chính sách phát
triển giáo dục. Điều đó không chỉ ra tăng uy tín của các nước này trong phát triển
giáo dục mà còn góp phần đáng kể trong việc phát triển kinh tế - xã hội của Trung
Quốc, Nhật Bản, Singapore.
Thứ năm, mặc dù đều là các quốc gia phát triển nhưng nội dung giáo dục của
các nước này không vì thế mà quên đi những giá trị truyền thống. Điều dễ nhận thấy
là ảnh hưởng của Nho giáo đối với phát triển giáo dục của các nước này là khá rõ.
Nói chung lại, Việt Nam cần học hỏi giáo dục đại học của các nước ở những
điểm sau:
1. Đào tạo khả năng tạo tổ chức ở cấp phổ thong
2. Về phía sinh viên.
• Thậm chí nên giảm số lượng sinh viên hệ đại học, sau đại học để sinh viên có
thái độ học tập tốt hơn khi cơ hội học đại học là ít. Số lượng sinh viên/ giảng
viên thấp sẽ làm tăng sự trao đổi giữa sinh viên và giảng viên trong quá trình
học tập. Số lượng người có bằng đại học thấp sẽ làm tăng khả năng có việc
làm sau khi tốt nghiệp của sinh viên.
• Ngoài ra sinh viên ngay từ khi ngồi trên ghế giảng đường phải đặt ra định
hướng nghề nghiệp cho bản thân mình, tìm hiểu kĩ các yêu cầu, kĩ năng cần
thiết đối với công việc mình định hướng trong tương lai, tìm cơ hội tiếp cận,
thực tập để trau dồi kĩ năng phục vụ cho công việc sau này bằng cách xin
thực tập ở các công ty, làm thêm sau giờ học… Với kinh nghiệm thu được
các bạn sẽ tự tin khi đi xin việc ở bất cứ công ty nào. Đó là điều cốt yếu để
các bạn xin việc và chắc chắn một điều rằng việc sẽ tìm bạn chứ không phải
bạn lặn lội tìm việc. “Tôi khẳng định với các bạn rằng khi học xong đại học,
các bạn có khẳ năng làm việc được bằng tiếng anh, hoặc một ngoại ngữ nào
•
đó. Tin học các bạn sử dụng tốt. Cộng với chuyên môn của bạn thật vững
chắc. Tôi tin rằng bạn không bao giờ thất nghiệp. Nếu các bạn học xong đại
học không có ngoại ngữ, các bạn sẽ ít có cơ hội được làm việc trong một môi
trường cạnh tranh, mà đặc biệt trong thời buổi hội nhập kinh tế quốc tế. Rất
nhiều doanh nghiệp thiếu nguồn lao động có chất lượng cao mà các bạn lại
không đáp ứng được, thật đáng buồn”- đó là lời khuyên từ một nhà tuyển
dụng.
Tổ chức nhiều hoạt động thực tiễn, mang lại trải nhiệm thực sự về việc làm
cho sinh viên ngay từ khi mới bước chân vào đại học. Nhà trường cần liên kết
với các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho sinh viên có cơ hội thực tập ở các
doanh nghiệp để có kinh nghiệm làm việc thực tiễn.
10.
Nội dung cuộc họp:
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………....
Hà Nội, Ngày…….tháng…..năm 2014.
Thư kí
nhóm trưởng
Biên bản họp nhóm lần 2
Thời gian họp:
Từ………… đến …………… Ngày…………………..............................................
Địa điểm: sân thư viện Đại học Thương Mại.
Thành phần tham gia
Ký tên
1.
2.