Đánh giá chất lượng sản phẩm thủy sản và đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng sản phẩm thủy sản - Pdf 31

LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, Việt Nam đã chủ động và tích cực
hội nhập kinh tế quốc tế, tham gia vào nhiều tổ chức thương mại, kinh tế thế
giới và đặc biệt là WTO- tổ chức thương mại thế giới- một sân chơi mới mà
Việt Nam vừa trở thành thành viên thứ 150. Tham gia vào các sân chơi
chung, đặc biệt là WTO, chúng ta không những có cơ hội mở rộng thị trường
tiêu thụ sản phẩm mà còn được tiếp cận với những công nghệ tiên tiến, tiếp
thu và ứng dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh, học hỏi những kinh
nghiệm quản lý của các tập đoàn kinh tế lớn nhằm rút ngắn khoảng cách giữa
nước ta với các nước phát triển trong khu vực. Đồng thời người tiêu dùng sẽ
được hưởng một thị trường đa dạng về sản phẩm, phong phú về chủng loại.
Mặt khác các doanh nghiệp Việt Nam không những phải đọ sức với các
doanh nghiệp trong nước mà còn phải cạnh tranh với các doanh nghiệp nước
ngoài nhằm thu hút khách hàng, mở rộng thị trường, sản phẩm không chỉ
được tiêu thụ trương nước mà còn có xu hướng xuất khẩu sang các nước khác
trên thế giới. Để tồn tại và phát triển trong môi trường kinh doanh hiện nay,
các doanh nghiệp cần phải cung cấp những sản phẩm có chất lượng, đảm bảo
an toàn và tiết kiệm chi phí, chấp nhận cạnh tranh tạo thêm giá trị cho sản
phẩm, mở rộng thị phần nhằm nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, khẳng
định vị thế của doanh nghiệp trong khu vực và trên thế giới.
Là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của quốc gia, có tốc độ
tăng trưởng cao, có tỷ trọng trong GDP ngày càng lớn, ngành thủy sản ngày
càng chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Mở rộng quan
hệ thương mại quốc tế với hơn 80 nước và vùng lãnh thổ, ngành thủy sản đã
góp phần mở ra những con đường mới và mang lại nhiều bài học kinh nghiệm
để Việt nam tham gia hội nhập vào khu vực và thế giới.
Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập hóa hiện nay, để tồn tại và phát
triển, ngành thủy sản cần khẳng định hơn nữa vị trí của ngành trong nền kinh
tế. Với đặc điểm chính của ngành là cung cấp những sản phẩm thực phẩm cho
người tiêu dùng do vậy sản phẩm của ngành phải có chất lượng và đảm bảo
vệ sinh an toàn thực phẩm. Đây cũng là điều kiện thiết yếu nhất để sản phẩm

cận đều dựa trên những cơ sở khoa học và nhằm giải quyết những mục tiêu,
nhiệm vụ nhất định trong thực tế và hình thành nên một cách hiểu về chất
lượng sản phẩm.
Theo cách tiếp cận tuyệt đối của các nhà triết học thì giá trị sử dụng tạo
nên thuộc tính hữu ích của nó và đó chính là chất lượng sản phẩm. Theo quan
niệm này thì chất lượng sản phẩm là một phạm trù rất hoàn hảo, tuyệt đối và
khó có thể áp dụng trong quản trị kinh doanh.
Theo cách tiếp cận sản phẩm: chất lượng sản phẩm được coi là đại
lượng mô tả những đặc tính kinh tế - kỹ thuật nội tại phản ánh giá trị sử dụng
và chức năng của sản phẩm, đáp ứng nhu cầu định trước cho sản phẩm. Theo
quan niệm này chất lượng sản phẩm đồng nghĩa với số lượng các thuộc tính
kinh tế, kỹ thuật của sản phẩm - kỹ thuật nào thì có chất lượng ấy- không
quan tâm tới thị hiếu của người tiêu dùng nên thường dẫn đến sản xuất sản
phẩm với chất lượng cứng nhắc, được dùng nhiều trong nền kinh tế kế hoạch.
Do vậy không được người tiêu dùng đánh giá cao.
Theo quan điểm của các nhà sản xuất: chất lượng sản phẩm là sự hoàn
hảo và phù hợp của một sản phẩm với một tập hợp các yêu cầu - tiêu chuẩn,
quy cách đã được xác định trước. Định nghĩa này mang tính thực tế cao, đảm
bảo sản phẩm khi sản xuất ra đạt yêu cầu tiêu chuẩn đã đề ra từ trước, tạo cơ
sở thực tiễn cho hoạt động điều chỉnh các chỉ tiêu chất lượng. Tuy nhiên,
quan điểm này mới phản ánh mối quan tâm của người sản xuất tới những chỉ
tiêu chất lượng của sản phẩm mà lãng quên nhu cầu thực của người tiêu dùng
nên không được dùng nhiều trong sản xuất hiện nay.
Trong thời đại ngày nay, có rất nhiều người bán và cũng có rất nhiều
người mua. Để tồn tại và phát triển trên thị trường các nhà sản xuất phải quan
tâm tới nhu cầu của khách hàng nhiều hơn nhằm cung cấp những sản phẩm
phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, lại có lợi thế hơn so với các đối thủ trên


thị trường và vẫn đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển. Do vậy quan niệm về

1.2. Đặc điểm của chất lượng sản phẩm thủy sản:
Chất lượng với tư cách là đối tượng của quản trị thì chất lượng có các
đặc điểm:
Là một phạm trù kinh tế kỹ thuật nói lên tính hữu ích của sản phẩm.
Sản phẩm sản xuất ra nhằm phục vụ mục đích sử dụng của người tiêu dùng.
Do vậy, chất lượng sản phẩm được thay đổi tùy vào từng thời kỳ, thị hiếu tiêu
dùng cũng như sự thay đổi của trình độ khoa học công nghệ. Chất lượng
không phải là môt phạm trù bất biến, nó mang tính toàn cầu hóa và biến đổi
nhằm đem lại lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Như vậy chất lượng sản
phẩm là một phạm trù kinh tế - kỹ thuật – xã hội vận động và phát triển theo
sự phát triển của thời gian, không gian, mang cả hai sắc thái khách quan và
chủ quan.
Tính chất khách quan của chất lượng sản phẩm biểu hiện ở khẳng định
tính chất, đặc điểm nội tại thể hiện trong quá trình hình thành và sử dụng sản
phẩm, thoả mãn nhu cầu người tiêu dùng trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ
thể. Chất lượng sản phẩm là sản phẩm của trình độ kỹ thuật với sự thay đổi về
kỹ thuật sản xuất cũng như cầu về sản phẩm, tất yếu chất lượng sản phẩm sẽ
thay đổi theo. Do vậy nâng cao chất lượng sẽ giúp doanh nghiệp giảm được
chi phí.
Tính chất chủ quan của chất lượng sản phẩm được thể hiện thông qua
chất lượng trong sự phù hợp hay còn gọi là chất lượng thiết kế. Đó là mức độ
phù hợp của sản phẩm thiết kế đối với nhu cầu của khách hàng. Nó phản ánh
nhận thức của khách hàng về chất lượng sản phẩm. Nâng cao chất lượng chủ
quan có ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
Hơn nữa chất lượng sản phẩm chỉ thể hiện đúng trong những điều kiện
tiêu dùng xác định phù hợp với mục đích sử dụng cụ thể của người tiêu dùng.
Không thể có chất lượng phù hợp cho tất cả mọi người trong mọi điều kiện
tiêu dùng.





Các thuộc tính kỹ thuật phản ánh công dụng, chức năng của sản phẩm.
Nhóm này đặc trưng cho các thuộc tính xác định chức năng tác dụng chủ yếu
của sản phẩm được quy định bởi các chỉ tiêu kết cấu vật chất, thành phần cầu
tạo và đặc tính về cơ – lý - hóa của sản phẩm. Các yếu tố này được thiết kế
theo những tổ hợp khác nhau tạo ra chức năng đặc trưng cho hoạt động của
sản phẩm và hiệu quả của quá trình sử dụng sản phẩm đó.
Các yếu tố thẩm mỹ đặc trưng cho sự truyền cảm, sự hợp lý về hình
thức, dáng vẻ, kết cấu, kích thước, sự hoàn thiện, tính cân đối, màu sắc trang
trí, tính thời trang….
Tuổi thọ của sản phẩm. Đây là yếu tố đặc trưng cho tính chất của sản
phẩm giữ được khả năng làm việc bình thường theo đúng tiêu chuẩn thiết kế
trong một thời gian nhất định trên cơ sở đảm bảo đúng các yêu cầu về mục
đích, điều kiện sử dụng và chế độ bảo dưỡng quy định. Tuổi thọ là một yếu tố
quan trọng trong quyết định lựa chọn mua hàng của người tiêu dùng.
Độ tin cậy được coi là một trong những yếu tố quan trọng nhất phản
ánh chất lượng của sản phẩm và đảm bảo cho doanh nghiệp có khả năng duy
trì và phát triển trên thị trường.
Độ an toàn của sản phẩm. Những chỉ tiêu an toàn trong sử dụng sản
phẩm, an toàn đối với sức khỏe người tiêu dùng và môi trường là yếu tố tất
yếu, bắt buộc đối với mỗi sản phẩm trong điều kiện tiêu dùng hiện nay. Thuộc
tính này đặc biệt quan trọng đối với những sản phẩm trực tiếp ảnh hưởng đến
sức khỏe người tiêu dùng như: thực phẩm ăn uống, thuốc chữa bệnh…Khi
thiết kế, chế tạo hay sản xuất sản phẩm thì nhà sản xuất phải đặc biệt quan
tâm tới yếu tổ này bởi đặc tính này quyết định sản phẩm đó có được chấp
nhận- tiêu dùng trên thị trường hay không.
Tính tiện dụng phản ánh những đòi hỏi về tính sẵn có, tính dễ vận
chuyển, bảo quản, dễ sử dụng của sản phẩm và khả năng thay thế khi có
những bộ phận nào bị hư hỏng.

Chất lượng sản phẩm tạo ra sức hấp hẫn thu hút khách hàng. Mỗi sản
phẩm đều có những thuộc tính chất lượng khác nhau và vai trò của chúng
trong con mắt người tiêu dùng cũng khác nhau, nó tạo nên sự khác biệt sản
phẩm của doanh nghiệp. Tùy thuộc vào sở thích và điều kiện tiêu dùng mà
khách hàng quyết định lựa chọn cho mình một sản phẩm thích hợp về đặc tính
kỹ thuật, màu sắc, mùi vị hay tính tiện lợi khi sử dụng sản phẩm. Nâng cao
chất lượng các thuộc tính sản phẩm sẽ tạo niềm tin, ấn tượng tốt cho khách


hàng về sản phẩm. Nhờ đó uy tín, danh tiếng của doanh nghiệp sẽ được nâng
cao, tạo ra sức hấp dẫn thu hút người tiêu dùng.
Trên thị trường có rất nhiều người bán, mỗi doanh nghiệp chỉ cho một
thị phần nhỏ, do vậy mong muốn nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm mở
rộng thị phần là nhu cầu tất yếu của mỗi doanh nghiệp. Để làm được điều đó
mỗi doanh nghiệp cần tạo cho mình một chỗ đứng trên thị trường. Một sản
phẩm có chất lượng ổn định, đáp ứng nhu cầu của khách hàng sẽ tạo ra một
biểu tượng tốt trong tâm lý người tiêu dùng. Hơn nữa, khi đã tạo được ấn
tượng tốt cho một khách hàng thì đó không phải là một mà là mười lăm khách
hàng biết đến sản phẩm của doanh nghiệp. Chất lượng tốt tạo nên niềm tin,
nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.

PHẦN II. THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM
NGÀNH THỦY SẢN VIỆT NAM HIỆN NAY
I. VAI TRÒ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÀNH THỦY SẢN Ở VIỆT NAM.
1. Thủy sản là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của quốc
gia:
Từ một lĩnh vực sản xuất nhỏ bé, nghèo nàn và lạc hậu, ngành thủy sản
đã trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, có tốc độ
tăng trưởng cao, có tỷ trọng trong GDP ngày càng lớn và chiếm một vị trí
quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.

3.142,5
3.408,0
3720.5
4149.0

Chia ra
Nuôi trồng
709,9
844,8
1.003,1
1.155,6
1.403,0
1693.9
2085.2

Khai thác
1.742,8
1.802,6
1.856,1
1.992,9
2.005,0
2026.6
2063.8

Nguồn: Niên giám Thống kê Nông- Lâm- Thuỷ sản.
Theo số liệu trên, sản lượng thủy sản khai thác có tăng nhưng tốc độ
tăng không đều và thấp hơn sản lượng thủy sản nuôi trồng. Năm 2001, tăng
3,8%, năm 2002 tăng 4,5%, năm 2003 tăng 3% , năm 2004 tăng 3,6%. Nét
nổi bật trong hoạt động khai thác thủy sản thời kì 2001-2007 là sự chuyển
biến mạnh từ phương thức khai thác nhỏ lẻ, cá thể trong các vùng biển gần bờ

Các kết quả nghiên cứu của các chuyên gia về dinh dưỡng đã khẳng
định hầu hết các loại thủy sản đều là loại thực phẩm giàu đạm, dễ tiêu hóa,
phù hợp với sinh lý dinh dưỡng ở mọi lứa tuổi. Càng ngày thủy sản càng được
tin tưởng như một loại thực phẩm ít gây bệnh tật (tim mạch, béo phì, ung
thư…) và ít chịu ảnh hưởng của ô nhiễm hơn. Trong thịt bò, tỷ lệ tính theo
phần trăm của đạm là 16,2 – 19,2%. của mỡ là 11- 28%, khoáng chất là 0,8 –
1%, cũng tương tự như trên trong cá thu tỷ lệ thứ tự là 18,6% - 0,4% - 1,2%;
ở cá muối là 16,4%- 1,6% - 2,3%; ở cá hồng là 17,8% -5,9% - 1,4%. Sản
phẩm của thủy sản rất đa dạng như tôm, cá, ốc, nghêu, rong, trong đó tôm lại
có rất nhiều loại như: tôm sứ, tôm chân trắng, tôm càng xanh; cá thì có cá
basa, ca tra, cá rô phi… và có thể chế biến thành rất nhiều món ăn phù hợp
với từng lứa tuổi đảm bảo cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho người tiêu dùng.
Thủy sản cung cấp một phần cho chăn nuôi, đặc biệt là cho chế biến
thức ăn chăn nuôi công nghiệp. Bột cá và các phế phẩm, phụ phẩm thủy sản
chế biến la nguồn thức ăn giàu đạm được sử dụng làm thức ăn hoặc để chế
biến thức ăn phục vụ chăn nuôi gia súc, gia cầm.
Ngành thủy sản cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và một
số ngành công nghiệp khác. Nguồn nguyên liệu cung cấp cho công nghiệp chế
biến thực phẩm gồm: tôm, cá, nhuyễn thể, rong biển… Các nguyên liệu thủy
sản còn được sử dụng là mguyên liệu cho ngành công nghiệp dược phẩm, mỹ
nghệ…
3. Tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo:
Ngành thủy sản với sự phát triển nhanh chóng của mình đã tạo ra hàng
loạt việc làm và thu hút một lực lượng lao động đông đảo tham gia vào tất cả
các công đoạn sản xuất, làm giảm sức ép của nạn thiếu việc làm trên phạm vi
cả nước.
Số lao động của ngành thủy sản tăng liên tục từ 3,12 triệu người năm
1996 lên khoảng 3,8 triệu người năm 2001, như vậy mỗi năm tăng thêm 100



USD và có quan hệ với 75 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Năm 2005


kim ngạch xuất khẩu đạt 2,5 tỷ USD và dự kiến đến năm 2006 sẽ là 2,8 tỷ
USD.
Như vậy có thể khẳng định, ngành thủy sản đã tạo dựng được uy tín lớn
trên trường quốc tế, ngay cả những nước công nghiệp phát triển như Mỹ,
Nhật Bản, Trung Quốc, hay các nước trong khối liên minh EU cũng đã làm
bạn hàng lớn và thường xuyên của ngành thủy sản. Hơn nữa, giá trị xuất khẩu
thủy sản trên các thị trường này chiếm tới 75% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản
của Việt Nam. Trên các thị trường lớn này, nhiều doanh nghiệp Việt đã chứng
tỏ được bản lĩnh trên trường quốc tế và vững vàng vượt qua các thử thách bởi
đây là những thị trường khó tính nhất về tiêu chuẩn chất lượng và vệ sinh an
toàn thủy sản.
Sự mở rộng quan hệ thương mại quốc tế của ngành thủy sản đã góp
phần mở ra những con đường mới và mang lại nhiều bài học kinh nghiệm để
nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập hơn và khu vực và thế giới.
II. TÌNH HÌNH CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM THỦY SẢN Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
1. Những quy định chung về chất lượng thủy sản:
Thủy sản là một ngành kinh tế cung cấp các sản phẩm thực phẩm cho
người tiêu dùng nên điều kiện quan trọng về sản phẩm khi cung ứng ra thị
trường là sản phẩm phải đảm bảo chất lượng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực
phẩm, bảo vệ sức khỏe cho người tiêu dùng.
Theo điều 2 quyết định số 07/2005/QĐ-BTS của Bộ trưởng Bộ thuỷ
sản về việc ban hành danh mục hoá chất, kháng sinh cấm và hạn chế sử dụng
trong sản xuất, kinh doanh thuỷ sản quy định: “Không được phép trộn lẫn quá
02 loại hoạt chất kháng sinh trong 01 sản phẩm thuốc, hóa chất; không cho
phép trộn lẫn các hoạt chất cùng nhóm Fluoquinolone với nhau. Trong trường
hợp một sản phẩm có chứa 02 loại hoạt chất kháng sinh, cơ sở sản xuất phải

phía các thị trường nhập khẩu, họ có những yêu cầu rất cao về chất lượng
thuỷ sản nhập khẩu. Với Mỹ, luật pháp Mỹ quy định: thực phẩm sạch và tươi,
an toàn khi sử dụng, được sản xuất trong các điều kiện về sinh tốt, được ghi
nhãn và đóng gói đúng, đầy đủ thông tin và không gây nhằm lẫn cho người
tiêu dùng. Các nhà sản xuất phải có và đăng ký thực hiện kế hoạch HACCP,
phải đăng ký với Cục Quản lý thực phẩm và dược phẩm Mỹ… Còn để được


vào thị trường EU, các nhà sản xuất, chế biến phải tuân thủ các quy định bắt
buộc và tự nguyện của EU, và của từng thành viên EU. Để đảm bảo an toàn
cho người tiêu dung EU quy định “cấm” dử dụng 16 loại hoá chất trong đó có
chloramphenicol và nitrofuran trong thực phẩm tức là “dư lượng kháng sinh
bằng 0”, thực tế EU cho phép dư lượng đó dưới 0,3 là đạt yêu cầu….
2. Thực trạng chất lượng sản phẩm thủy sản Việt Nam hiện nay:
Trong những năm qua, ngành thủy sản đã có những bước chuyển biến
hết sức căn bản về công tác quản lý an toàn vệ sinh trong khu vực chế biến để
đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao về chất lượng sản phẩm thủy sản của các
thị trường. Số lượng nhà máy chế biến thuỷ sản được cấp chứng nhận cũng
như số doanh nghiệp được phép xuất khẩu thuỷ sản sang các thị trường tăng
lên. Số lượng các lô hàng bị nhiễm hoá chất, dư lượng kháng sinh đã giảm đi
rất nhiều so với các năm trước đây. Có lẽ các doanh nghiệp đã dần ý thức
được rằng “chừng nào các doanh nghiệp còn muốn bán hàng ở thị trường
Châu Âu, Mỹ… thì không thể có sự nhân nhượng nào đối với vấn đề dư
lượng kháng sinh, dù chỉ là lượng nhỏ nhất”.
Các văn bản cảnh báo từ Nhật Bản cùng quyết định áp dụng kiểm tra
100% đối với các lô hàng tôm và cá mực đông lạnh của VN đã làm kim ngạch
xuất khẩu thủy sản sang thị trường này bị suy giảm, nặng nề nhất là tôm đông
lạnh (sản phẩm chiếm 50% giá trị xuất khẩu các mặt hàng thủy sản của VN).
Trong khi đó, Nga cũng thông báo sẽ cử 2 đoàn sang nước ta để kiểm tra
100% DN Việt Nam có nguồn hàng xuất sang thị trường này, Canađa thì đã

Lĩnh vực an toàn vệ sinh thủy sản được cải thiện nhiều qua các hoạt
động hỗ trợ quốc tế với nhiều nước mà trước tiên là Chương trình quản lý
chất lượng thủy sản HACCP được giới thiệu và áp dụng thành công ở Việt
Nam từ những năm đầu của thấp kỉ 90. Nhiều phòng thí nghiệm ở địa
phương, trong đó có 6 trung tâm vùng thuộc NAFIQAVED- Cục Quản lý chất
lượng an toàn vệ sinh và thú y thủy sản Việt Nam- cũng được hỗ trợ trang
thiết bị tiên tiến để kiểm tra chất lượng theo HACCP, đồng thời tạo điều kiện
để áp dụng Quy trình phân tích dư lượng kháng sinh và hóa chất. Các thỏa
thuận về công nhận hệ thống kiểm tra chất lượng song phương với Hàn Quốc,
Trung Quốc đã chứng tỏ uy tín của hệ thống kiểm tra chất lượng hàng thủy
sản của Việt Nam. Đặc biệt, nhiều cán bộ của Việt Nam đã được đào tạo về
các phương pháp kiểm tra chất lượng, phân tích dư lượng kháng sinh….
Đến nay cả nước có 439 nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu, trong đó
có 171 doanh nghiệp được xếp vào danh sách 1 xuất khẩu vào EU, 300 doanh


nghiệp áp dụng quy trình quản lý chất lượng sản phẩm theo HACCP đủ tiêu
chuẩn xuất khẩu vào thị trường Mỹ, 222 doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn xuất
khẩu thuỷ sản vào thị trường Hàn Quốc, 295 doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn xuất
khẩu sang Trung Quốc…
Trong những mặt hàng xuất khẩu của VN thì thủy sản luôn đứng ở vị
trí cao. Trong số các nước có kim ngạch xuất khẩu thủy sản lớn thì VN là
nước có tốc độ tăng nhanh nhất. Tỷ lệ tăng trưởng trung bình thời kỳ 19922003 là 20,4%, mức tăng bình quân năm đạt 9,97%. Đến năm 2003, VN đứng
thứ 7 trong số các nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới. Năm 1992 xuất
khẩu thủy sản đạt 308 triệu USD, nhưng tới năm 2003 là 2,2 tỷ USD; năm
2005 vượt mức 2,5 tỷ USD và dự tính đến năm 2006 kim ngạch xuất khẩu
thủy sản đạt 2,8 tỷ USD.
Biểu 2: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản VN qua các thời kỳ
(đơn vị: triệu USD)
Năm

Nguồn: Trung tâm tin học- Bộ Thuỷ sản.
Biểu 3: Xuất khẩu thủy sản của VN vào thị trường EU
Năm
Kim
ngạch
(triệu
USD)
Khối
lượng(ng
hìn tấn)

2000

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

71,8

90,7

Nguồn: Trung tâm tin học- Bộ Thuỷ sản.
Trong 3 tháng đầu năm 2006, thuỷ sản xuất khẩu qua kiểm tra chất
lượng đạt 84.800 tấn, tăng 15% so với cùng kì năm trước trong đó khối lượng
hàng kiểm tra chứng nhận chất lượng các chỉ tiêu dư lượng kháng sinh, hoá
chất là 54.400 tấn, chiếm 62,27%. Hàng xuất khẩu qua kiểm tra chiếm tỷ


trọng lớn vẫn là thị trường EU (30%), Nhật Bản (17%), Mỹ (12%). Các trung
tâm vùng cũng đã cấp 25 giấy chứng nhận xuất khẩu cho 337,35 tấn tôm xuất
khẩu vào Mỹ, 17 giấy chứng nhận tôm không thu hoạch cho xuất khẩu tôm
vào thị trường Oxtraylia. Chất lượng hàng thuỷ sản qua kiểm tra chất lượng
chứng nhận ổn định.
Trong 6 tháng đầu năm 2006, tổng sản lượng đạt 1.697.300 tấn bằng
49,34% kế hoạch năm nay và 108,1% so với cùng kì năm trước, xuất khẩu đạt
1,409 tỷ USD, bằng 50,32% so với kế hoạch, và tăng 29,03% so với cùng kì
năm trước trong đó thị trường Nhật Bản chiếm 23,31%; EU: 23,26%; Mỹ:
18,21%, hai sản phẩm chính là tôm và cá trong đó tôm chiếm 38,3% và cá
chiếm 37,4% tỷ trọng xuất khẩu thuỷ sản.
EU đang là khu vực nhập khẩu thuỷ sản lớn nhất của thế giới, năm
2006 EU (25 quốc gia) nhập khẩu khoảng 38,9 tỉ USD, tăng 10,7% so với
năm 2005. Ba nhà cung cấp thuỷ sản lớn nhất của thị trường EU hiện nay là
Nauy chiếm 9,57%, Trung Quốc chiếm 3,9%, Aixơlen chiếm gần 3,9%…,
Việt Nam chiếm 2,05%. Ngoài Mỹ, Marốc, Achentina là những đối thủ cạnh
tranh khá lớn của Việt Nam tại thị trường này hiện nay

Nhờ các biện pháp tăng cường kiểm soát của Bộ thuỷ sản, tình trạng
nhiễm dư lượng kháng sinh cấm đã giảm mạnh (từ 42 lô hàng trong 9 tháng
đầu năm 2005 xuống còn 3 lô trong 3 tháng cuối năm 2005 và 6 lô trong 3
tháng đầu năm 2006). Đến tháng 6 năm nay, Cục quản lý chất lượng, an toàn
vệ sinh và thú y thuỷ sản Việt Nam- NAVIQAVED- thông báo, Mỹ và

cơ quan kiểm tra chống bơm chích tạp chất, kẻ gian hiện đang sử dụng "nước
lã" để bơm vào thịt tôm trước khi đem cân cho cơ sở chế biến hay những đầu
mối thu mua lớn nhằm tăng trọng lượng. Điều nguy hiểm là loại "nước lã"
này không hoàn toàn vô hại như họ tưởng mà ngược lại, vì hai lý do : Thứ
nhất, nó tiềm ẩn nguy cơ nhiễm vi sinh, kháng sinh, lẫn nhiều thứ hóa chất
"trong bảng cấm" vô cùng lớn, do nguồn nước họ bơm vào thịt tôm được lấy
ngay tại bất kỳ chỗ nào thuận tiện nhất, mà môi trường nước trong tỉnh ta có
loại nước nào thật sự sạch ? Thứ hai, với các loại "nước lã" này đã hình thành
phong trào "người người, nhà nhà cùng tiêm", tôm lớn, tôm bé đều tiêm tất!
Trước đây chỉ có các đầu nậu tiêm thì nay khá nhiều nông dân cũng "có ý
thức tiêm". Thật là tình trạng nguy hiểm!
Để khắc phục tình trạng này, điều quan trọng trước tiên là các nhà
máy, đại lý thu mua cần phải vươn tới ký kết hợp đồng thu mua nguyên liệu


thủy sản trực tiếp với tổ chức nông dân nhằm giảm bớt qua trung gian để hạn
chế nguy cơ mua nhầm sản phẩm từ kẻ làm ăn gian dối. Rồi phải tổ chức lại
việc sản xuất kinh doanh trong tất cả các khâu có liên quan đến sản phẩm thủy
sản như: Tập hợp người nuôi, người đánh bắt thành tổ chức phù hợp cho dễ
giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức về an toàn vệ sinh sản phẩm, về
trình độ kỹ thuật nuôi, sơ chế, bảo quản và ý thức trách nhiệm liên đới để họ
kiểm soát, nhắc nhở nhau, nhằm đảm bảo chất lượng nguyên liệu đầu vào cho
các nhà máy chế biến. Người mua gom, sơ chế cũng phải tổ chức thành những
nghiệp đoàn cung ứng cho từng nhà máy riêng, cũng phải có trách nhiệm liên
đới và không chỉ giám sát nhau mà còn phải có trách nhiệm quản lý về chất
lượng nguồn nguyên liệu, sản phẩm mà mình đã mua gom và cung cấp cho
nhà máy. Còn các nhà máy phải biết đoàn kết bảo vệ uy tín chất lượng sản
phẩm của địa phương, của đất nước mình, phải đồng lòng và kiên quyết
không mua nguyên liệu vi phạm tiêu chuẩn, tẩy chay, hủy hợp đồng đối với
những cá nhân, đại lý, những địa phương có nông dân làm ăn gian đối, tham

kiểm soát rất chặt chẽ. Nhưng chỉ được một thời gian thì tình trạng trên lại
tiếp tục và ngày càng phát triển tinh vi hơn, có tổ chức riêng và sử dụng
những chất khó phát hiện hơn. Trên thực tế, cũng đã nảy sinh hiện tượng các
tổ liên ngành của địa phương lợi dụng quyền hành làm sai hoặc thông đồng
kiềm lợi nên đã gây phiền hà và thiệt hại kinh tế cho các đại lý nguyên liệu,
mặt khác do công tác đấu tranh chống tệ nạn này đạt hiệu quả không cao,
không kiểm soát liên tục nên vấn nạn trên chưa được khắc phục.
Về việc sử dụng hoá chất, kháng sinh cấm và hạn chế sử dụng trong
nguyên liệu thuỷ sản. Việc sử dụng hoá chất kháng sinh để phòng bệnh cho
vật nuôi là yêu cầu của nghề nuôi thuỷ sản. Cùng với sự phát triển của khoa
học và sự gia tăng mối quan tâm về bảo vệ sức khoẻ người tiêu dùng thực
phẩm, ngày càng có nhiều loại hoá chất kháng sinh được các nước phát triển
đưa vào danh sách cấm và hạn chế sử dụng, điển hình là chính sách “dư lượng
bằng không” của EU. Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường, Bộ
thuỷ sản đã ban hành nhiều văn bản quy định các hoá chất kháng sinh cấm và
hạn chế sử dụng, xuất Thủ tướng Chính phủ họp để thống nhất giải pháp quản
lý việc nhập khẩu, buôn bán và sử dụng hoá chất kháng sinh. Tháng 3 năm
2005, Bộ thuỷ sản đã ký chỉ thị số 03/2005/CT-BTS về việc tăng cường kiểm
soát dư lượng hoá chất, kháng sinh có hại cho hoạt động thuỷ sản. Đồng thời,
Bộ cũng đã ban hành Quyết định số 07/2005/ QĐ- BTS về danh mục 17 hoá
chất kháng sinh cấm sử dụng và 34 hoá chất, kháng sinh hạn chế sử dụng
trong hoạt động sản xuất kinh doanh thuỷ sản. Mặc dầu vậy, tình trạng sử


dụng hoá chất, kháng sinh bị cấm và hạn chế sử dụng vẫn còn dai dẳng, gây
nhiều bức xúc trong dư luận và đã tác động xấu đến hoạt động xuất khẩu thuỷ
sản.
Đầu năm 2005, thị trường EU đã phát hiện 30 lô hàng bị nhiễm
malachite green và leucomalachite green, 2 lô hàng nhiễm fluoroquinolone;
thị trường Canada phát hiện 48 lô hàng nhiễm malachite green và

ăn, cơ sở kinh doanh thuốc, hoá chất còn nhiều bất cập. Tình trạng người nuôi
trồng thuỷ sản tuỳ tiện sử dụng thuốc, hóa chất bị cấm vẫn xảy ra gây ảnh
hưởng không tốt đến chất lượng sản phẩm thuỷ sản. Đó là một trong những
nguyên nhân quan trọng dẫn tới sản phẩm thuỷ sản bị nhiễm hoá chất, kháng
sinh.
2.3. Đánh giá chất lượng sản phẩm thuỷ sản Việt Nam
Là một mặt hàng tiêu thụ trên thị trường, sản phẩm thuỷ sản chủ yếu
được dùng làm thực phẩm, chất lượng của sản phẩm thuỷ sản được đáng giá
trên cả hai phương diện người tiêu dùng và cả nhà sản xuất.
Người tiêu dùng đánh giá chất lượng thuỷ sản thông qua việc tiêu dùng
sản phẩm thuỷ sản trong đó chất lượng “tin tưởng” thường được dùng làm chỉ
tiêu đánh giá. Thực tế người tiêu dùng cũng không am hiểu nhiều về các
thành phần có trong thực phẩm tiêu dùng, họ không biết nhiều về các chất có
hại cho sức khoẻ có thể lẫn trong thực phẩm do vậy khi tiêu dùng khách hàng
chủ yếu dựa vào danh tiếng, uy tín của doanh nghiệp cung cấp sản phẩm trên
thị trường. Còn việc cung cấp sản phẩm sạch như thế nào hoàn toàn phụ
thuộc vào “cái tâm của nhà sản xuất”. Sản phẩm thuỷ sản sạch, đảm bảo an
toàn cho sức khoẻ người tiêu dùng sẽ đem lại lòng tin, độ tin cậy cho người
tiêu dùng. Đó là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá chất lượng thuỷ sản.
Đứng trên góc độ của nhà sản xuất, chất lượng thuỷ sản được đáng giá
qua các chỉ tiêu: độ tin cậy, độ an toàn khi tiêu dùng sản phẩm thuỷ sản và
mức độ gây ô nhiễm môi trường.
Qua thực trạng về chất lượng thuỷ sản nói trên có thể thấy chất lượng
thuỷ sản Việt Nam nhìn chung chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn về chất
lượng của các thị trường tiêu thụ, thuỷ sản cung cấp chưa đem lại lòng tin với
các nhà nhập khẩu. Đó là còn tồn tại nhiều lô hàng còn dư lượng kháng sinh,
hoá chất… những chất được coi là ảnh hưởng tới sức khoẻ người tiêu dùng.
Tuy thực trạng trên đã giảm nhưng các nhà nhập khẩu vẫn chưa hoàn toàn tin
tưởng vào chất lượng thuỷ sản Việt Nam nên vẫn kiểm tra các lô hàng nhập


chất lượng thuỷ sản nhìn chung chưa được tốt, còn nhiêu bắt cập. Một số
nước còn quy định: họ sẽ không chấp nhận tiêu thụ sản phẩm khi họ biết được
sản phẩm đó làm từ những nguyên liệu không sạch hay đã làm gây ô nhiễm
môi trường.


Trích đoạn Giải pháp với ngành thuỷ sản Việt Nam hiện nay:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status