TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN SƯ PHẠM VẬT LÝ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành Sư phạm Vật Lý
BỒI DƯỠNG CHO HỌC SINH NĂNG LỰC TỰ HỌC KHI
GIẢNG DẠY CHƯƠNG 1. ĐỘNG LỰC HỌC VẬT RẮN,
VẬT LÝ 12 NC THEO TINH THẦN ÁP DỤNG PHƯƠNG
PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Giáo viên hướng dẫn:
ThS –GVC Trần Quốc Tuấn
Sinh viên thực hiện:
NGUYỄN THỊ THÚY DIỄM
MSSV: 1100201
Lớp: SP Vật Lý K36
Cần Thơ, 5/2014
Luận văn tốt nghiệp Đại học
GVHD: ThS-GVC Trần Quốc Tuấn
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Diễm
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................................. 1
1.4.5. Tăng cường áp dụng PPDH nhóm, hợp tác .............................................................. 13
1.5. Đổi mới việc thiết kế bài học ....................................................................................... 14
1.5.1. Một số HĐHT phổ biến trong một tiết học .............................................................. 14
1.5.2. Cấu trúc của giáo án soạn theo các hoạt động học tập .............................................. 16
1.6. Đổi mới kiểm tra, đánh giá ........................................................................................... 16
1.6.1. Quan điểm cơ bản về đánh giá ................................................................................. 16
1.6.2. Các hình thức kiểm tra .............................................................................................. 18
1.6.3. Đổi mới kiểm tra, đánh giá ........................................................................................ 19
1.6.4. Xác định các mức độ nhận thức trong đề kiểm tra .................................................... 19
Chương 2. PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM TRONG DẠY HỌC VL Ở THPT ... 23
2.1. Tầm quan trọng của PPTN trong chương trình THPT mới .......................................... 23
2.1.1. Mục tiêu chung của chương trình THPT mới ........................................................... 23
2.1.2. Mục tiêu của chương trình THPT mới ..................................................................... 23
2.1.3. Tầm quan trọng của PPTN trong NCKH và trong DHVL ở THPT .......................... 24
2.2. PPTN trong nghiên cứu khoa học vật lý...................................................................... 25
Trang 2
Luận văn tốt nghiệp Đại học
GVHD: ThS-GVC Trần Quốc Tuấn
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Diễm
2.2.1. Vai trò của PPTN trong quá trình nhận thức sáng tạo của KHVL ............................ 25
2.2.2. Phương pháp thực nghiệm ......................................................................................... 25
2.2.3. Các giai đoạn của PPTN trong KHVL ...................................................................... 26
2.3. PPTN trong dạy học vật lý ........................................................................................... 26
2.3.1. Vai trò của PPTN trong DHVL ................................................................................. 26
2.3.2. Các giai đoạn của PPTN trong DHVL ...................................................................... 26
4.2. Thiết kế bài học Vật lý ................................................................................................. 52
4.2.1. Các bước thiết kế bài học Vật lý .............................................................................. 52
4.2.2. Mục tiêu bài học Vật lý ............................................................................................. 52
4.2.3. Lựa chọn kiến thức cơ bản của bài học Vật lý .......................................................... 53
4.2.4. Tổ chức các hoạt động dạy Vật lý ............................................................................. 53
4.2.5. Tổ chức các hoạt động học Vật lý ............................................................................. 55
4.2.6. Xác định HT củng cố, đánh giá và tập vận dụng các kt mà HS vừa tiếp nhận ......... 55
4.3. Thiết kế giáo án một số bài học trong Chương 9. Hạt nhân nguyên tử, SGK Vật lý
12 NC và các cơ hội bồi dưỡng học sinh phương pháp tự học . ................................. 56
Bài 53 : Phóng xạ................................................................................................................. 57
Bài 54 : Phản ứng hạt nhân ................................................................................................. 66
Bài 56 : Phản ứng phân hạch .............................................................................................. 74
Trang 3
Luận văn tốt nghiệp Đại học
GVHD: ThS-GVC Trần Quốc Tuấn
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Diễm
Bài 57 : Phản ứng nhiệt hạch .............................................................................................. 80
Chương 5. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM......................................................................... 84
5.1. Mục đích ....................................................................................................................... 84
5.2. Nội dung thực ngiệm .................................................................................................... 84
5.3. Đối tượng thực nghiệm ................................................................................................. 84
5.4. Kế hoạch giảng dạy ...................................................................................................... 84
5.5. Tiến trình thực hiện các bài học ................................................................................... 84
5.6. Kết quả thực nghiệm..................................................................................................... 84
5.6.1. Đề kiểm tra ................................................................................................................ 84
ng lai”. Điều đó lại một lần nữa nhấn mạnh Đảng coi
con người vừa là động lực vừa là mục tiêu của sự phát triển. Một trong những mục tiêu của
Đảng đề ra là tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng hiệu quả giáo dục, đào tạo;
đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ tổ quốc và nhu cầu học tập của
nhân dân, giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện. Nhưng vẫn bảo đảm các điều
kiện về chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa; dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế.
Theo nghị quyết T
gi
2 khoá V
đã chỉ rõ và cụ thể: “ Đổi ới
c – à t , khắc ph c lối truyền th
ng ời học. Từng b ớc p
tr nh
y học, ả
sinh iên
bả
ng c c ph
nh ẽ ph
lực tự học của HS thì việc thiết kế bài giảng trong mỗi đơn vị bài học sẽ được thực hiện
như thế nào cho phù hợp, đó thực sự là một nghệ thuật sư phạm, cũng là một nhiệm vụ
quan trọng mang không ít khó khăn của mỗi GV phổ thông, những người trực tiếp thổi làn
gió mới vào giới trẻ HS hiện nay theo chương trình giảng dạy mới bằng những phương
pháp mới nhiều tích cực và hiện đại. Bản thân là một sinh viên sư phạm, tôi nhận thấy đây
là một vấn đề hết sức thiết thực và mang nhiều hấp dẫn đối với người GV, là hành trang
Trang 5
Luận văn tốt nghiệp Đại học
GVHD: ThS-GVC Trần Quốc Tuấn
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Diễm
cần thiết và vô cùng quan trọng để bước vào sự nghiệp giảng dạy sau này, là cơ sở vững
chắc để tôi có thể nghiên cứu sâu hơn những vấn đề xoay quanh việc giảng dạy trong
tương lai. Đây chính là tất cả động lực đã thúc đẩy tôi chọn đề tài: “Bồi dưỡng cho học
sinh năng lực tự học khi giảng dạy Chương 1. Động lực học vật rắn, Vật lí 12 Nâng cao
theo tinh thần áp dụng phương pháp Giải quyết vấn đề”.
Bằng cả tâm huyết và lòng đam mê của mình, tôi đã cố gắng rất nhiều trong khi thực
hiện nghiên cứu đề tài này, tôi tin rằng luận văn tốt nghiệp này sẽ giúp tôi có được nhiều
bài học kinh nghiệm quý giá và có thể ứng dụng khi về trường phổ thông, góp phần hỗ trợ
cho công tác giảng dạy sau này.
2. Mục đích của đề tài
Nghiên cứu việc bồi dưỡng cho học sinh năng lực tự học khi giảng dạy Chương 1. Động
lực học vật rắn, Vật lí 12 Nâng cao theo tinh thần áp dụng PPGQVĐ.
3. Giả thuyết khoa học
Vận dụng lý luận dạy học hiện đại có thể bồi dưỡng cho HS năng lực tự học khi giảng
dạy Chương 1. Động lực học vật rắn, Vật lí 12NC theo tinh thần áp dụng PPGQVĐ.
Thực nghiệm sư phạm: Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường THPT có đối chứng
để kiểm tra tính khả thi của luận văn, cụ thể là làm nổi bật vai trò của phương pháp nhận
thức đặc thù trong việc phát triển năng lực sáng tạo của HS trong giờ học môn Vật lí.
6. Đối tượng nghiên cứu
Các hoạt động dạy học của GV và HS đối với việc bồi dưỡng năng lực tự học khi giảng
dạy Chương 1. Động lực học vật rắn, Vật lí 12 Nâng cao theo tinh thần áp dụng phương
pháp Giải quyết vấn đề.
7. Các giai đoạn thực hiện đề tài
GĐ 1: Tìm hiểu đề tài, trao đổi với GV hướng dẫn, nhận đề tài nghiên cứu.
GĐ 2: Nghiên cứu tài liệu,viết đề cương chi tiết.
GĐ 3: Hoàn thành cơ sở lí luận của đề tài.
GĐ 4: Nghiên cứu ND và PP xây dựng Chương 1. Động lực học vật rắn, VL 12NC.
GĐ 5: Tiến hành TNSP ởTHPT.
GĐ 6: Hoàn thành đề tài và chuẩn bị báo cáo bằng PowerPoint.
GĐ 7: Bảo vệ luận văn tốt nghiệp.
8. Những chữ viết tắt trong đề tài
Phương pháp:
Phương pháp dạy học:
Phương pháp đọc sách:
Phương pháp giải quyết vấn đề:
Phương pháp mô hình:
Phương pháp thực nghiệm:
Phương tiện dạy học
Sách giáo khoa:
Trung học phổ thông:
Thực nghiệm sư phạm:
Trắc nghiệm khách quan:
Trắc nghiệm tự luận:
Trung ương:
Trang 7
PP
PPDH
c là nhằ
Đảng Cộng sản Việt Nam, khóa V
đã chỉ rõ: “Nhiệ
xây ựng c n ng ời à th hệ thi t tha gắn bó ới lí t
ân tộc à chủ nghĩa xã hội, có
ệ Tổ quốc công nghiệp hóa, hiện
c bản
ng ộc lập
ức tr ng s ng, có ý chí kiên c ờng xây ựng à bả
i hóa; giữ g n à ph t huy c c gi trị ăn hóa ân tộc,
có năng lực ti p thu ăn hóa tinh h a nhân l
i, ph t huy tiề
năng của ân tộc à c n
ng ời Việt Na , có ý thức cộng ồng à ph t huy tính tích cực của c nhân, là
thức kh a học à công nghệ hiện
i, có t
uy s ng t
học chính sách đối với người dạy, người học…; ở tầm vi mô là phương pháp dạy học, hoạt
động của GV và HS trong quá trình dạy học…Những vấn đề ở tầm vĩ mô và vi mô tác
động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau. Tuy nhiên, chất lượng giáo dục thể hiện ở sản phẩm cuối
cùng là phẩm chất, nhân cách của HS. Điều quan trọng trước hết và cũng là cuối cùng của
người GV, nhân vật chủ chốt trong công tác giáo dục và dạy học là làm thế nào cho HS của
mình trong thời gian qui định của chương trình đào tạo đạt được những yêu cầu mà xã hội
mới đặt ra cho nhà trường.
1.1.2. Mục tiêu của chương trình THPT mới
M c tiêu ki n thức
Hoàn thiện cho HS hệ thống kiến thức phổ thông, cơ bản ở trình độ tú tài về vật lí, cần
thiết để đi vào các ngành khoa học, kỹ thuật và để sống trong một xã hội công nghiệp hiện
đại. Đó là:
- Những khái niệm tương đối chính xác về các sự vật, hiện tượng và quá trình vật lí
thường gặp trong đời sống và sản xuất.
- Những định luật và nguyên lý vật lí cơ bản được trình bày phù hợp với năng lực toán
học và năng lực suy luận logic của HS.
- Những nội dung chính của các thuyết vật lí quan trọng nhất.
- Những nguyên tắc cơ bản của những ứng dụng quan trọng của vật lí trong đời sống
và sản xuất.
- Những hiểu biết cần thiết về phương pháp thực nghiệm và phương pháp mô hình
trong đời sống và sản xuất.
M c tiêu kỹ năng
Trong dạy học vật lí phải chú ý rèn luyện cho HS các kỹ năng sau:
- Quan sát các hiện tượng và các quá trình vật lí trong tự nhiên, trong đời sống hằng
ngày hoặc trong các thí nghiệm; điều tra, sưu tầm, tra cứu tài liệu từ các nguồn khác nhau
để thu thập thông tin cần thiết cho việc học tập vật lí.
- Sử dụng các dụng cụ đo phổ biến của vật lí, kỹ năng lắp ráp và tiến hành các thí
nghiệm vật lí đơn giản.
- Phân tích, tổng hợp và xử lí các thông tin thu được để rút ra kết luận, đề ra các dự
Phương pháp dạy học truyền thống trong một thời gian dài đã đạt được những thành tựu
quan trọng. Tuy nhiên phương pháp đó nặng về truyền thụ một chiều, thầy giảng giải, minh
họa, trò lắng nghe, ghi nhớ và bắt chước làm theo, thì không thể đào tạo những con người
có tính tích cực cá nhân, có tư duy sáng tạo, có kĩ năng thực hành giỏi. Bên cạnh đó, GV
không quan tâm đến việc tạo động cơ, gây hứng thú, để kích thích và phát huy tính tích
cực, chủ động trong học tập của HS. Cùng với xu thế phát triển chung của thế giới, nền
giáo dục của nước ta chuyển dần từ trang bị cho HS kiến thức sang bồi dưỡng cho họ năng
lực mà trước hết là năng lực sáng tạo. Cần phải xây dựng một hệ thống PPDH mới có khả
năng thực hiện mục tiêu mới trên.
Theo quan điểm giáo dục hiện đại, dạy học là một quá trình tương tác (GV – HS, HS –
HS, HS - GV, HS với những người hiểu biết hơn…), trong đó, “học” là một hoạt động
trung tâm. Và, người học – đối tượng của hoạt động “dạy”, đồng thời là chủ thể của hoạt
động “học” – được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo,
thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ, chưa có chứ không phải thụ động
tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt. Để đạt được điều ấy, trong quá trình dạy
học, người thầy cần phải thức tỉnh trong tâm hồn các em học sinh tính ham hiểu biết, dạy
các em biết suy nghĩ và hành động tích cực. Vì thế, việc đổi mới phương pháp dạy học để
Trang 10
Luận văn tốt nghiệp Đại học
GVHD: ThS-GVC Trần Quốc Tuấn
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Diễm
HS chủ động, tích cực, sáng tạo trong học tập là một vấn đề cần thiết và không thể thiếu
được. Bởi chỉ có đổi mới PPDH, chúng ta mới góp phần khắc phục những biểu hiện trì trệ
nghiêm trọng trong giáo dục hiện nay; chỉ có đổi mới PPDH chúng ta mới góp phần quan
uy s ng t
c à
của
ng ời học,...”. [13 tr. 50].
Trong việc đổi mới PPDH, ta không thể phủ nhận vai trò của các PPDH truyền thống,
tuy nhiên ta sẽ sử dụng các PP đó theo tinh thần mới. Giáo viên phải lựa chọn PPDH theo
một chiến lược nhằm phát huy được ở mức độ tốt nhất mang tính tích cực, chủ động, sáng
tạo của HS trong những tình huống cụ thể.
Truyền thụ một chiều là kiểu dạy mà đặc trưng của nó là GV độc thoại, giảng giải, họ là
nhân vật trung tâm của quá trình dạy học, quyết định tất cả, từ xác định mục đích học, nội
dung học, cách thức học, con đường đi đến kiến thức kỹ năng, đánh giá kết quả học, còn
HS thì học một cách thụ động, cố ghi nhớ, nhắc lại kiến thức, làm theo mẫu. Chiến lược
DH này xuất phát từ quan niệm về nhiệm vụ của giáo dục chỉ là một sự truyền đạt đơn giản
những kiến thức, kinh nghiệm xã hội như những sản phẩm hoàn chỉnh đã được thử thách.
Đối với PPDH này có những ưu điểm đáng ghi nhận khi GV trình bày, giảng giải các
kiến thức cần truyền thụ cho HS một cách rõ ràng, chính xác, đầy đủ, dễ hiểu, biểu diễn
các thí nghiệm một cách thành công, đúng giữa lý thuyết và thực nghiệm hay đúng như
Trang 11
Luận văn tốt nghiệp Đại học
GVHD: ThS-GVC Trần Quốc Tuấn
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Diễm
những mong muốn cần đạt được. Tuy nhiên, theo cách dạy này HS sẽ hoàn toàn thụ động,
ới h ớng à
t ộng nhận thức tích cực, tự lực của HS th ng ài ai trò h ớng ẫn, tổ
chức của V, cần phải có ph
ng tiện là
iệc phù hợp ới HS. Đối ới ật lí học th
Trang 12
ặc
Luận văn tốt nghiệp Đại học
GVHD: ThS-GVC Trần Quốc Tuấn
biệt quan trọng là tài liệu gi
kh a à thi t bị thí nghiệ , S K à thi t bị thí nghiệ phải
ổi ới
t
iều kiện ch
độ chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau, ý thức trách nhiệm trong công việc chung.
Theo lý thuyết về vùng phát triển gần của Vưgốt-xki, các tương tác thầy- trò và trò- trò
trong lớp học có thể giúp cho HS vượt qua được những trở ngại để đạt đến những hiểu biết
mới. Qua những thảo luận, tranh luận, ý kiến của mỗi cá nhân được bộc lộ, được khẳng
định hay bị bác bỏ, qua đó những hiểu biết của họ sẽ được hình thành hoặc được chính xác
hóa. Mặt khác, trong việc học tập theo nhóm, tất cả mọi HS, từ người kém đến người khá,
đều có thể trình bày ý kiến của mình, tức là có điều kiện để tự thể hiện mình. Điều đó có
tác dụng kích thích rất mạnh hứng thú học tập của HS.
Trang 13
Luận văn tốt nghiệp Đại học
GVHD: ThS-GVC Trần Quốc Tuấn
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Diễm
Bên cạnh đó việc rèn luyện cho HS khả năng tự học còn là một biện pháp giúp ta giải
quyết một khó khăn rất lớn là: mâu thuẫn giữa một bên là những yêu cầu cao về việc bồi
dưỡng kiến thức và kỹ năng và một bên là sự hạn hẹp về thời gian dành cho mỗi môn học.
GV phải tính toán cân đối giữa nội dung dạy học trên lớp và nội dung dành cho HS tự tìm
hiểu ở nhà. Có lẽ không cần chuyển tải từ A đến Z của nội dung bài học trên lớp, mà nên
dành một phần nội dung nào đó cho HS tự tìm hiểu ở nhà rồi sau đó sẽ kiểm tra sự tự học
của các em. Làm cho “Học” là một quá trình kiến tạo; HS tìm tòi, khám phá, phát hiện,
luyện tập, khai thác và xử lý thông tin,…tự hình thành hiểu biết, năng lực , phẩm chất. Tổ
chức các hoạt động nhận thức cho HS, dạy HS cách tìm ra chân lí. Chú trọng hình thành
năng lực tự học, sáng tạo,… dạy phương pháp và kỹ thuật lao động khoa học, dạy cách
học. Học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai. Những điều đã
học cần thiết và bổ ích cho bản thân HS và cho sự phát triển của xã hội.
à ph t tri n năng lực s ng t . HS học bằng c ch t
tòi, tự là , là
ột c ch chủ ộng
say ê, hứng thú chứ không phải bị ép buộc.” [13, tr. 51].
PPDH theo cách lấy trò làm trung tâm, GV chỉ là người hướng dẫn, tạo điều kiện cho
HS hoạt động, thực hiện thành công các hoạt động học đa dạng mà kết quả là giành được
kiến thức và phát triển năng lực. PPDH tích cực này còn mới mẻ ở nước ta. Có rất nhiều
điều còn phải nghiên cứu, bàn bạc, thử nghiệm thực tế. Nhưng đây là một cách dạy học
đem lại cho HS niềm vui, hứng thú, nó phù hợp với đặc tính ham học hỏi, thích tìm tòi,
sáng tạo của HS, tạo điều kiện cho HS hoạt động, thực hiện thành công các hoạt động học
đa dạng mà kết quả là giành được kiến thức và phát triển được năng lực. Việc học đối với
các em trở thành niềm đam mê, giúp các em tự khẳng định được mình và nuôi dưỡng lòng
Trang 14
Luận văn tốt nghiệp Đại học
GVHD: ThS-GVC Trần Quốc Tuấn
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Diễm
khát khao sáng tạo. Bởi thế việc dạy học tích cực này được đa số HS hưởng ứng nhiệt liệt.
Muốn vậy GV cần:
- Tổ chức, hướng dẫn HS tham gia giải quyết các vấn đề, tình huống học tập…
- Tổ chức cho HS tham gia vào quá trình tái tạo kiến thức.
- Áp dụng rộng rãi PP phát hiện giải quyết vấn đề và các phương pháp nhận thức đặc
năng lực tự học à chuẩn bị tâ th h c tập suốt ời.” [1, tr.10].
Theo quan điểm thông tin, học là một quá trình thu nhận thông tin có định hướng, có sự
tái tạo và phát triển thông tin và giúp người học thực hiện quá trình trên một cách có hiệu
quả. Đổi mới PPDH người ta tìm những phương pháp làm tăng giá trị lượng tin, trao đổi
thông tin nhanh hơn, nhiều hơn và có hiệu quả hơn.
Nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật, quá trình dạy học đã sử dụng phương tiện :
- Phim chiếu để giảng bài với đèn chiếu Overhead.
- Phần mềm hỗ trợ giảng bài, minh họa trên lớp với Projetor.
- Công nghệ thông tin, đánh giá bằng trắc nghiệm trên máy tính.
- Sử dụng mạng nternet, thiết bị đa phương tiện (multimedia), networking để dạy học.
Tăng cường sử dụng phương tiện DH, thiết bị DH, coi đó là phương tiện để nhận thức;
việc sử dụng phương tiện DH tạo điều kiện cho quá trình nhận thức của HS trên tất cả các
bình diện khác nhau, đặc biệt là trên bình diện trực quan trực tiếp và bình diện trực quan
gián tiếp.
Trang 15
Luận văn tốt nghiệp Đại học
GVHD: ThS-GVC Trần Quốc Tuấn
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Diễm
Các bình diện của hoạt động
Các ví dụ về việc các phương tiện dạy học tạo điều
nhận thức
hoạt động tư duy, đặc biệt là hai quá trình gắn bó mật thiết với nhau là khái quát hóa và
trừu tượng hóa. Khái quát hóa là thao tác trí tuệ vạch ra cái chung trong hàng loạt sự vật,
hiện tượng cụ thể mà mới quan sát, ta thấy khác nhau. Trừu tượng hóa là thoát ly ra khỏi
những dấu hiệu cụ thể làm phân biệt những hiện tượng và sự vật đó với nhau.
Một khái niệm mới thường được hình thành trong quá trình tìm hiểu một khía cạnh mới
của hiện tượng, sự vật mà ta không hiểu được, không mô tả, không lý giải được bằng
những khái niệm cũ. Nói cách khác, khái niệm mới xuất hiện do nhu cầu giải quyết một
mâu thuẫn giữa sự hiểu biết đã có và sự chưa hiểu biết và cũng là kết quả của sự giải quyết
mâu thuẫn đó.
Các khái niệm phản ánh các tính chất của các sự vật cũng như mối quan hệ giữa các tính
chất đó. Nhưng sự phản ánh đó có đúng đến đâu, đầy đủ đến mức nào còn tùy thuộc vào
trình độ nhận thức thế giới khách quan của con người.
Trang 16
Luận văn tốt nghiệp Đại học
GVHD: ThS-GVC Trần Quốc Tuấn
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Diễm
Mỗi khái niệm được biểu hiện ra bằng một từ. Một từ là một ký hiệu, một cái tên gắn chi
khái niệm. Tuy nhiên để hiểu được tên của khái niệm ta cần phải biết nội dung gì chứa
đựng trong từ đó, dưới cái tên đó, nghĩa là phải hiểu được nội hàm của khái niệm được
biểu thị dưới cái tên đó.
C c
i l ợng, c c ịnh luật à nguyên lí ật lí c bản
Luận văn tốt nghiệp Đại học
GVHD: ThS-GVC Trần Quốc Tuấn
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Diễm
các phép suy luận toán logic và những suy luận toán học. Nhờ những suy luận toán học này
mà các thuyết vật lí không những tiên đoán được mặt định tính mà cả mặt định lượng của
hiện tượng. Những hệ quả của thuyết làm cho nhận thức của ta rộng hơn, sâu hơn, bản chất
hơn, bao hàm một lớp hiện tượng lớn hơn nhiều so với những cơ sở của thuyết.
Những ứng
ng phổ bi n của Vật lí tr ng ời sống à sản xuất
Kiến thức vật lí là cơ sở để chế tạo các thiết bị, máy móc kỹ thuật, nhưng không phải
một phát mới về vật lí có thể áp dụng được ngay vào kỹ thuật một cách có hiệu quả, đủ để
tạo ra một hiện tượng cần thiết trong kỹ thuật. Áp dụng các định luật vật lí, ta có thể tạo ra
một hiện tượng nhất định, nhưng việc làm thế nào để hiện tượng này có thế giải quyết được
một nhiệm vụ cụ thể nào đó trong kỹ thuật thì còn phải nghiên cứu mới có thể đưa ra được
một thiết bị thích hợp.
Như vậy, việc ứng dụng một kiến thức vật lí vào kỹ thuật để chế tạo một thiết bị, máy
móc không phải đơn thuần chỉ là việc vận dụng một định luật vật lí, mà thực sự là một hoạt
động sáng tạo. Sự sáng này nhiều khi đòi hỏi sự vận dụng, tổng hợp nhiều kiến thức, nhiều
kinh nghiệm. Bởi vậy, đã xuất hiện những ngành kỹ thuật riêng chuyên nghiên cứu chế tạo
thiết bị máy móc này, để đạt được hiệu quả cao.
Nghiên cứu các ứng dụng kỹ thuật của vật lí là thiết lập mối quan hệ giữa lý thuyết và
thực tiễn, giữa cái trừu tượng (các khái niệm, định luật vật lí) và cái cụ thể (các hiện tượng
xảy ra trong máy móc, thiết bị). Nhờ đó mà làm cho việc nhận thức các kiến thức vật lí
trừu tượng trở thành sâu sắc hơn, mềm dẻo hơn.
kế, lắp ráp một thiết bị thật, cho thiết bị vận hành đê quan sát hiệu quả thu được, kiểm tra
tính đúng đắn, khả thi của thiết kế; giai đoạn 6 là hoàn chỉnh thiết kế, bổ sung điều chỉnh
trên thiết bị thật để tăng thêm tính hiệu quả, khi dạy học GV nên đưa ra một thiết bị cùng
loại đang được sử dụng trong kỹ thuật và nói cho HS rõ một số chi tiết khác với mẫu đã
thiết kế nhưng điều có cùng một chức năng.
C c ph
ng ph p chung của nhận thức kh a học à những ph
ật lí, tr ớc h t là ph
ng ph p thực nghiệ
à ph
ng ph p ặc thù của
ng ph p ô h nh
Dạy HS tự lực hoạt động để chiếm lĩnh kiến thức vật lí thì tốt nhất là dạy cho họ biết sử
dụng chính phương pháp mà các nhà khoa học đã dùng để nghiên cứu vật lí, để tìm chân lý
(phương pháp nhận thức vật lí). Phương pháp là sự vận động của nội dung. GV cần phải
thông qua việc hướng dẫn HS nghiên cứu một nội dung cụ thể mà khái quát hóa lên thành
phương pháp nhận thức, sau đó lại tiếp tục vận dụng phương pháp này cho nghiên cứu các
nội dung khác. Nhờ thế, mà HS nắm vững cả nội dung và phương pháp đã sử dụng để đạt
được nội dung đó.
Có hai phương pháp nhận thức được dùng phổ biến ở trường phổ thông là phương pháp
thực nghiệm và phương pháp mô hình.
Nội dung của PPTN không phải là làm thí nghiệm đơn thuần, không phải là sự quy nạp
giản đơn mà là sự phân tích sâu sắc các sự kiện thực nghiệm, tổng quát hóa nâng lên mức
vào sự giống nhau một phần về các tính chất hay về các mối quan hệ, ta có thể chuyển
những thông tin thu thập được từ một đối tượng này sang một đối tượng khác. Trong lịch
sử khoa học, phương pháp tương tự đã dẫn đến nhiều phát minh vĩ đại. Đa số những giả
thuyết khoa học ngày nay đều được đề xuất dựa trên sự tương tự với những nguyên lý,
những tiên đề hoặc những kết quả đã có từ trước trong khoa học và đã được thực nghiệm
xác nhận là đúng đắn.
Trong vật lý PPMH nói chung gồm các giai đoạn sau: thu thập các thông tin về đối
tượng gốc, xây dựng mô hình, thao tác trên mô hình suy ra hệ quả lý thuyết, thực nghiệm
kiểm tra.
1.3.2. Rèn luyện và phát triển các kỹ năng
Quan sát các hiện tượng và các quá trình vật lí trong tự nhiên, trong đời sống hằng
ngày hoặc trong các thí nghiệm; điều tra, sưu tầm, tra cứu tài liệu từ các nguồn khác nhau
để thu thập các thông tin cần thiết cho việc học tập môn vật lí.
Sử dụng các dụng cụ đo phổ biến của vật lí, kỹ năng lắp ráp và tiến hành thí nghiệm
vật lí đơn giản.
Trang 20
Luận văn tốt nghiệp Đại học
GVHD: ThS-GVC Trần Quốc Tuấn
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Diễm
Phân tích, tổng hợp và xử lý các thông tin thu được để rút ra kết luận, đề ra các dự
đoán đơn giản về mối quan hệ hay về bản chất của các hiện tượng hoặc quá trình vật lí,
cũng như đề xuất phương án thí nghiệm để kiểm tra dự đoán đã đề ra.
Vận dụng các kiến thức để mô tả và giải thích các hiện tượng và quá trình vật lí, giải
các bài tập vật lí và giải quyết các vấn đề đơn giản trong đời sống và sản xuất ở mức độ
Luận văn tốt nghiệp Đại học
GVHD: ThS-GVC Trần Quốc Tuấn
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Diễm
cũng có thể hiểu được nhưng GV vẫn giảng. Cách giảng đó thể hiện sự thiếu tin tưởng ở
HS và nguy hại hơn là không có HS có cơ hội để suy nghĩ, và hơn thế là càng không có
điều kiện để HS đề xuất những ý kiến khác với SGK, hay khác với ý kiến của GV. Thực ra
nhiều khi sách viết có dài, nhưng viết dài là để HS có thể tự đọc, tự nghiên cứu mà cũng có
thể hiểu được, nhưng GV lại không có HS tự đọc ở lớp hay tự tìm hiểu ở nhà mà phải
giảng giải trình bày tất cả.
Lúc đầu HS chưa quen với PPDH mới nên vẫn theo cách cũ, chờ GV giảng giải, tóm tắt,
đọc cho chép. Nhưng sau một thời gian tự lực làm việc họ tự tin hơn, đọc nhanh hơn, hiểu
nhanh hơn và điều quan trọng nhất là họ sẽ hiểu kỹ và nhớ lâu hơn. Kết quả là nếu tính
tổng cộng thời gian mà HS phải bỏ ra để học một bài lại ít hơn là chờ đợi GV giảng giải rồi
cố mà ghi nhớ. Điều quan trọng hơn là khi quen với cách học mới HS sẽ tự tin và hào
hứng. Càng thành công, càng phấn chấn, tích cực hơn và đạt được thành công lớn hơn. GV
cần biết chờ đợi, kiên quyết yêu cầu HS tự học ở lớp và ở nhà. GV chỉ giảng giải khi HS tự
đọc mà không hiểu được, kiên quyết không làm thay HS điều gì mà học có thể tự làm được
trên lớp hay ở nhà.
Muốn cho HS hoạt động tự lực thành công thì GV cần thiết phân chia một vấn đề học
tập phức tạp thành những bộ phận đơn giản, vừa sức, nếu HS cố gắng một chút là có thể
hoàn thành được.
Trong quá trình giải quyết vấn đề học tập, có rất nhiều việc phải làm việc phải như phát
hiện vấn đề, thu thập thông tin, xử lý thông tin, phát biểu kết luận khái quát, vận dụng vào
thực tế,... GV cần tính toán xem với trình độ HS cụ thể thì việc gì có thể giao cho họ tự
làm, việc gì cần có sự trợ giúp, hướng dẫn của GV, việc gì GV cũng phải giảng giải để
- Phát hiện, xác định vấn đề, nêu câu hỏi.
- Nêu câu trả lời dự đoán (mô hình, giả thuyết) có tính chất lý thuyết, tổng quát.
- Từ dự đoán suy ra hệ quả logic có thể kiểm tra trong thực tế.
- Tổ chức thí nghiệm kiểm tra xem hệ quả đó có phù hợp với thực tế không. Nếu phù
hợp thì điều dự đoán là đúng, ngược lại thì dự đoán là sai, phải xây dựng dự đoán mới.
- Phát biểu kết luận.
Đối với vật lí học thì quan sát thấy mới chỉ là một nửa, chỉ mới là nhận biết những dấu
hiệu bên ngoài và điều này không qua khó khăn. Điều khó khăn và quan trọng hơn là thực
hiện các phép suy luận để rút ra kết quả khái quát, phổ biến chung cho mọi hiện tượng.
Điều này GV rất khó nắm bắt. Vì thế cần phải tập cho HS phát biểu ý kiến của họ thành lời
mới biết họ hiểu hay không và cần kiên trì, tạo nhiều điều kiện cho HS phát biểu và tham
gia tranh luận.
Tóm lại, muốn thực hiện được các bước của phương pháp này, HS phải thực hiện việc
thu thập thông tin, xử lý thông tin, khái quát kết quả tìm tòi nghiên cứu. Trong quá trình
này hiện tượng thực tế cụ thể quan sát được luôn luôn kết hợp với những kết luận trừu
tượng phản ánh thực tế đó. Và sự kết hợp này được thực hiện thông qua các suy luận logic
như: phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, cụ thể hóa…
1.4.3. Rèn luyện cho HS các phương pháp nhận thức vật lí
Một trong những nét đặc trưng của tư duy khoa học là phải biết phương pháp hành động
rồi mới hành động, chứ không hành động mò mẫm ngẫu nhiên. Đến lớp 12, HS đã có nhiều
kinh nghiệm hoạt động nhận thức và có nhiều cơ hội để làm quen với các phương pháp
Trang 23
Luận văn tốt nghiệp Đại học
GVHD: ThS-GVC Trần Quốc Tuấn
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Diễm
chứng minh bằng quy nạp.
Sử dụng đồ dùng dạy học, thiết bị thực hành giúp HS tự tiến hành các bài thực hành, thí
nghiệm. Những thiết bị dạy học có thể được GV, HS tự làm góp phần làm phong phú thêm
thiết bị dạy học của nhà trường.
Đảm bảo tính đồng bộ, hệ thống và có chất lượng cao của phương tiện dạy học, thiết bị
dạy học tạo điều kiện đẩy mạnh hoạt động của HS trên cơ sở tự giác, tự khám phá kiến
thức thông qua hoạt động thực hành, làm thí nghiệm.
Trang 24
Luận văn tốt nghiệp Đại học
GVHD: ThS-GVC Trần Quốc Tuấn
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Diễm
Trong quá trình biên soạn chương trình, SGK, sách giáo viên, các tác giả đã chú ý lựa
chọn danh mục thiết bị dạy học và chuẩn bị phương tiện dạy học, thiết bị dạy học theo một
số yêu cầu để có thể phát huy vai trò của thiết bị dạy học.
Yêu cầu s
ng ph
ng tiện, thi t bị
y học
Cần sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học khi sự vật hiện tượng không thể mô tả được:
quá lớn, quá nhỏ, khó tìm trên thực tế, không thể biểu diễn được quá trình biến đổi (phản
hiệu quả hơn mà còn có tác dụng rèn luyện cho HS tinh thần hợp tác trong lao động, thái
độ chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau. Điều đó có tác dụng kích thích rất mạnh hứng
thú học tập của HS.
Trang 25