SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀO
MỌI ĐỐI TƯỢNG HỌC SINH TRONG TIẾT VẬT LÝ 8"
I - Lý do chọn đề tài
Trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học của sự nghiệp giáo dục có rất nhiều
phương pháp mà giáo viên đã áp dụng một trong những phương pháp đó là phương pháp
dạy học nêu cao vấn đề.
Quá trình giảng dạy tôi đã nhận thấy nếu giáo viên không sáng tạo trong việc dạy
học tìm ra những tình huống hấp dẫn học sinh thì gây ra sự nhàm chán cho học sinh đôi
khi giáo viên đem đến cho học sinh cảm thấy xa lạ, học sinh không muốn vượt khó khăn
suy nghĩ, kết quả dạy học sẽ không cao số học sinh yêu thích bộ môn sẽ rất ít, vì vậy tôi
thấy dùng phương pháp nêu tình huống trong các giờ dạy thì kích thích mạnh mẽ tính tìm
tòi, tò mò của học sinh, học sinh nhớ rất lâu khắc sâu kiến thức một cách tự nhiên, giờ
học vui vẻ sôi nổi hơn so với phương pháp cũ. Vì như vậy nên tôi đã mạnh dạn dùng
phương pháp dạy học nêu tình huống này vào một số giờ dạy học hơn nữa phương pháp
dạy học tập là do mục đích giáo dục lại được quyết định bởi nhu cầu của hoạt động thực
tiễn của đời sống xã hội, Đương nhiên đời sống xã hội cần những con người sáng tạo có
khả năng khám phá nhưng vẫn có những công việc, những hoạt động chỉ đòi hỏi con
người biết vận dụng những tri thức trong kho tàng văn hoá nhân loại và không phải do
bản thân mình tìm ra. Bởi vậy trong nhà trường trong khi nhấn mạnh sự cần thiết áp dụng
những phương pháp dạy học mang tính tìm tòi, nghiên cứu, khám phá, chúng ta không
loại trừ phương pháp dạy học ứng dụng những tri thức có sẵn rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo
vậy thì việc dạy học giải quyết vấn đề là rất quan trọng, vì mục đích dạy học là tăng
cường dạy học sinh chiếm lĩnh tri thức trong quá trình hình thành và phát triển. Vì lí do
và cơ sở trên nên tôi đã áp dụng phương pháp này vào một số bài giảng ở những cấp độ
khác nhau được phân biệt tuỳ theo mức độ độc lập của học sinh trong hoạt động học tập
để áp dụng. Vẫn còn quan niệm cho rằng dạy học giải quyết vấn đề chỉ thích hợp với học
sinh khá giỏi, nên tôi đã mạnh dạn áp dụng với cả các học sinh bình thường và rất có hiệu
lực, ngoài ra còn một số lý do song nó chỉ là riêng với bản thân chưa phải là chung nên
trong bản sáng kiến này Tôi không trình bày còn nghiên cứu tiếp.
ra một cách dễ dàng: Các chất không liền một khối.
* Hay khi dạy bài: Mặt phẳng nghiêng ( Vật lí 6).
Giáo viên đưa ra tình huống phán xét.
- Giáo viên: Tại sao khi lên dốc người ta phải làm đường ngoằn ngèo, tại sao ta
không làm đường thẳng từ dưới chân dốc lên đỉnh núi? Tại sao khi làm cầu thang lên gác
lại làm hình chữ chi nhiều bậc mà không làm dốc đứng lên?
- Học sinh trả lời: Làm thế cho đẹp - vì thừa vật liệu.
Để trả lời câu hỏi trên ta phải dùng tri thức mới, đó là quy luật của mặt phẳng
nghiêng sau khi đọc xong bài mặt phẳng nghiêng học sinh sẽ giải quyết cho đỡ mệt và đó
là sự lựa chọn đúng.
Trong khi giảng dạy vật lý vì nó có đặc trưng bộ môn đôi khi một vấn đề chỉ đúng
đối với toán học, về vật lý thì nó không đúng vì thế giáo viên nên đưa ra những tình
huống không phù hợp khi dạy bài: Bức xạ nhiệt ( lý 8).
Trước khi vào bài giáo viên đưa ra tình huống chất khí dẫn nhiệt kém, vậy ngồi gần
bếp lửa ta thấy rất ấm vậy ở đây có phải nhiệt truyền từ bếp đến ta bằng cách dẫn nhiệt
của chất khí không?
- Học sinh trả lời: Do chất khí dẫn nhiệt.
- Giáo viên: Ta học bài hôm nay bức xạ nhiệt các em sẽ trả lời được vấn đề trên.
Giáo viên có thể đưa ra tình thế đối lập trong khi dạy bài: Sự đối lưu (Lý 8)
- Giáo viên: Trong chất rắn có xảy ra hiện tượng đối lưu hay không? tại sao?
- Học sinh: Có xảy ra sự đối lưu theo thuyết cấu tạo phân tử.
- Giáo viên: Các phân tử của chất rắn chuyển động như thế nào? chỉ giao đông xung
quanh vị trí cân bằng vậy trong chất rắn có xảy ra dòng đảo ngược được không?
- Học sinh: Vậy thì chắc chắn sự đối lưu chỉ xảy ra đối với chất lỏng và chất khí.
Sau đây tôi xin trình bày bài soạn giảng cụ thể về phương pháp dạy học nêu tình
huống để áp dụng vào vật lý lớp 8.
Tôi nêu tình huống có vấn đề khi dạy tiết 19 " Sự chuyển hoá và bảo toàn cơ năng".
Tiết 19: sự chuyển hoá và bảo toàn cơ năng
I - Mục tiêu:
Kiến thức: - Phát biểu được định luật bảo toàn cơ năng ở mức biểu đạt như Sách giáo
Lần lượt nêu các câu hỏi C
1
đến C
4.
GV: Yêu cầu HS hoạt động
nhóm trả lời các câu hỏi này.
HS: làm TN thả quả
bóng rơi như đã hướng
dẫn hình 17.1, quan sát
quả bóng rơi kết hợp
hình 17.1 thảo luận trả
lời câu hỏi từ C
1
đến C
4
I - Sự chuyển hoá của các
dạng cơ năng.
*Thí nghiệm 1:
C
1
: (1) giảm; (2) tăng
C
2
: (1) giảm; (2) tăng
C
3
: (1) Tăng; (2) Giảm
- Qua thí nghiệm 1:
?. Khi quả bóng rơi: năng
lượng đã được chuyển hoá từ
C
4
: (1).A; (2).B; (3).B;
(4).A
*Nhận xét: - Khi quả bóng
rơi: thế năng chuyển hoá
thành động năng.
- Khi quả bóng nảy lên:
động năng chuyển hoá thành
thế năng.
* Thí nghiệm 2:
C
5
: a, Vận tốc của con lắc
tăng dần.
b, Vận tốc của con lắc
giảm dần.
C
6
: a, Con lắc đi từ A về B:
thế năng chuyển hoá thành
động năng.
b, Con lắc đi từ B lên C
C
7
: ở vị trí A và C thế năng
GV: Qua thí nghiệm 2, các
em rút ra nhận xét gì về sự
chuyển hoá năng lượng của
con lắc dao động xung quanh
HS: Học sinh ghi nhớ
định luật bảo toàn cơ
năng tạ lớp.
III - Vận dụng.
C
9
: a, Thế năng của cánh
cung chuyển hoá thành động
năng của mũi tên.
GV: Yêu cầu học sinh làm
câu 9
Chú ý: Phần C, yêu cầu HS
phân tích rõ 2 quá trình vật
chuyển động đi lên cao và
quá trình vật rơi xuống.
HS: Lấy ví dụ thực tế
về sự chuyển hoá cơ
năng.
HS: Cá nhân làm câu
hỏi C
9
b, Thế năng chuyển hoá
thành động năng.
c, Khi vật đi lên động
năng chuyển hoá thành thế
năng. Khi vật đi xuống thì
thế năng chuyển hoá thành
động năng.
4. Củng cố.
- Nêu định luật bảo toàn chuyển hoá cơ năng.
- 1 miếng kim loại hoặc 1 đồng tiền bằng kim loại
- 1 cốc nhựa + 2 thìa nhôm.
III - Các bước lên lớp.
1 - ổn định tổ chức
2 - Kiểm tra bài cũ: Hoạt động 1.
HS 1: - Các chất được cấu tạo như thế nào ?.
- Giữa nhiệt độ của vật và chuyển động của các nguyên tử, phân tử
cấu tạo nên vật có quan hệ như thế nào ?.
- Trong quá trình cơ học, cơ năng được bảo toàn như thế nào ?.
HS 2: Chữa bài tập 20.5
* Tổ chức tình huống học tập.
Giáo viên: làm thí nghiệm thả quả bóng rơi, yêu cầu học sinh quan sát mô tả hiện
tượng (học sinh quan sát mô tả )
Giáo viên: Trong hiện tượng này cơ năng của quả bóng giảm dần. Cơ năng của quả
bóng đã biến mất hay chuyển hoá thành dạng năng lượng khác ?. Bài học hôm nay sẽ
giúp chúng ta đi tìm câu trả lời.
3. Bài mới.
Phương pháp
nội dung
Hoạt động của Giáo viên
Hoạt động của học
sinh
Hoạt động 2:
GV: - Yêu cầu học sinh nhắc
lại khái niệm động năng của
HS: Cá nhân nghiên
cứu mục I - Nhiệt năng,
I - Nhiệt năng
một vật.
- Yêu cầu học sinh đọc phần
làm thay đổi nhiệt năng của
vật ?.
Hoạt động 3:
GV: Nêu vấn đề để học sinh
thảo luận:
+ Nếu ta có một đồng xu
bằng đồng, muốn cho nhiệt
năng của nó thay đổi (tăng)
ta có thể làm thế nào ?.
Gọi một số học sinh nêu
phương án làm tăng nhiệt
năng của đồng xu. Giáo viên
ghi bảng phân 2 cột ứng với
2 cách làm thay đổi nhiệt
năng.
GV: Yêu cầu HS làm C
1
?. Hãy nêu kết quả làm thí
nghiệm của nhóm em.
?. Tại sao em biết nhiệt năng
của đồng xu thay đổi
(tăng) ?. Nguyên nhân nào
làm tăng nhiệt năng ?.
HS: Thảo luận theo
nhóm đề xuất phương
án làm tăng nhiệt năng
của đồng xu.
HS: Đại diện 2, 3 học
sinh nêu phương án.
GV: yêu cầu HS nêu phương
án làm giảm nhiệt năng của
đồng xu, nêu rõ đó là cách
thực hiện công hay truyền
nhiệt ?.
GV: Chốt lại 2 cách làm thay
đổi nhiệt năng của một vật.
nên nhiệt năng của
miếng đồng tăng.
HS: Nêu các phương án
làm tăng nhiệt năng của
chiếc thìa nhôm.
HS: Suy nghĩ trả lời câu
hỏi
HS: Nêu cách làm
giảm nhiệt năng của
đồng xu thực hiện bằng
cách truyền nhiệt cho
vật khác có nhiệt độ
thấp hơn so với nhiệt độ
2. Truyền nhiệt:
C
2
: Hơ trên ngọn lửa
Nhúng vào nước nóng
- Thả đồng xu vào nước đá.
* Kết luận: 2 cách làm thay
của đồng xu.
HS: Ghi kết luận vào vở
đổi nhiệt năng của vật đó là:
Đơn vị là Jun (kí hiệu J)
Hoạt động 5
GV: Qua bài học hôm nay HS: Nêu phần ghi nhớ
IV - Vận dụng:
C
3
: Nhiệt năng của miếng
chúng ta cần ghi nhớ những
vấn đề gì ?. Giáo viên yêu
cầu học sinh trả lời câu hỏi
C
3
, C
4
, C
5.
cuối bài.
HS: Trả lời các câu hỏi
C
3
, C
4
, C
5.
đồng giảm, nhiệt năng của
nước tăng. Đồng đã truyền
nhiệt cho nước.
C
4
: Cơ năng chuyển hoá
34 0 6 22 6 0
% 100% 0 18% 64% 18% 0
Với lớp 8A
1
khi dạy đã áp dụng nhiều tình huống nên kết quả nâng lên rõ rệt:
Lớp Tổng số Giỏi Khá TB Yếu Kém
8A
1
27 3 11 12 1 0
% 100% 11% 41% 44% 4% 0
* Kết luận
Ngành giáo dục và đào tạo đã có một cuộc vận động đổi mới phương pháp dạy học,
trong đó học giải quyết vấn đề được đề cập và quan tâm như một biện pháp hữu hiệu để
người học hoạt động tự giác, tích cực, độc lập và sáng tạo trong quá trình học tập. Góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công
nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
Vì vậy tôi cùng các đồng chí trong tổ đã mạnh dạn áp dụng phương pháp dạy học
này vào bộ môn của mình, đặc biệt đối với tất cả các đối tượng giỏi, khá, trung bình, yếu
đều áp dụng được phương pháp này kết quả bước đầu đã có khả quan gây một niềm tin ở
khả năng giáo viên cũng như sự tiếp thu ở học sinh.
Tuy có nhiều khó khăn vì học sinh trong một lớp còn quá đông, chất lượng học sinh
không đồng đều nhưng với sự quan tâm giúp đỡ của chuyên môn, của đồng nghiệp chắc
chắn tôi sẽ vượt qua khó khăn để thực hiện giải pháp làm nâng cao chất lượng học sinh,
đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp giáo dục.