TÍCH HỢP LIÊN MÔN
Tiết 19 -Bài 11: LỰC HẤP DẪN
ĐỊNH LUẬT VẠN VẬT HẤP DẪN
I.MỤC TIÊU BÀI HỌC:
1.Về kiến thức:
- Nêu được khái niệm về lực hấp dẫn và các đặc điểm của lực hấp dẫn.
- Phát biểu được định luật vạn vật hấp dẫn.
- Viết được công thức của lực hấp dẫn và giới hạn áp dụng công thức đó.
2. Về kỹ năng:
- Dùng kiến thức về lực hấp dẫn để giải thích một số hiện tượng liên quan. Ví dụ: sự
rơi tự do, chuyển động của các hành tinh, vệ tinh, …
- Phân biệt lực hấp dẫn với các loại lực khác như: lực điện, lực từ, lực ma sát, lực đàn
hồi, lực đẩy Acsimet, …
- Vận dụng công thức của lực hấp dẫn để giải các bài tập đơn giản
II.CHUẨN BỊ:
Giáo viên: Mô hình chuyển động của Mặt Trăng, Trái Đất xung quanh Mặt Trời.
Học sinh: Ôn lại kiến thức về sự rơi tự do và trọng lực.
III.TIẾN TRÌNH DẠY HỌC:
1. Ổn định:
2. Kiểm tra: Trọng lực của vật là gì ? Viết công thức tính trọng lực
Nêu và viết hệ thức định luật III Niu Tơn
3. Hoạt động dạy – học:
GV: Yêu cầu học sinh chuẩn bị bài bằng kiến thức đã học trong môn lịch sử. “Chiến
thắng Bạch Đằng” diễn ra như nào, nguyên nhân, bài học kinh nghiệm.
Đặt vấn đề cho bài mới
Giáo viên Trần Thị Hằng
1
hút khác, Newton gọi lực này là
lực hấp dẫn.
HS: Ghi bài
- Mọi vật trong vũ trụ
GV: Chốt nội dung
đều hút nhau với một
.Nhờ có lực hấp dẫn nó giữ
lực, gọi là lực hấp dẫn.
cho Trái Đất quay xung quanh
- Khác với lực đàn hồi
Mặt Trời, Mặt Trăng quay xung
và lực ma sát là lực tiếp
quanh Trái Đất.
xúc, lực hấp dẫn là lực
tác dụng từ xa, qua
khoảng
không
các vật như thế nào ?
lượng của chúng và tỉ
lệ
với
bình
phương khoảng cách
GV: Hướng dẫn gọi HS lên
bảng vẽ.
nghịch
giữa chúng.
HS vẽ hình
F21
F12
m1
m2
2. Hệ thức:
?Trọng lực là lực hút của - Trọng lực của một
Theo Newton thì trọng lực TĐ tác dụng lên vật:
Giáo viên Trần Thị Hằng
vật là lực hấp dẫn giữa
3
mà TĐ tác dụng lên một vật là
P = mg
Trái Đất và vật đó.
lực hấp dẫn giữa TĐ và vật đó.
- Điểm đặt của trọng
Nếu vật ở độ cao h so với mặt
lực gọi là trọng tâm
đất thì công thức tính lực hấp
của vật.
dẫn giữa TĐ và vật được viết
m: khối lượng vật.
h: độ cao của vật
so với mặt đất.
M và R: là khối
so với giá trị R. Có nhận xét gì
về gia tốc rơi tự do của các vật
trọng
(trọng lượng):
Công thức tính g cho thấy gia
tốc rơi tự do phụ thuộc độ cao h
lớn
lượng và bán kính của
Trái Đất.
Mặt khác ta lại có: P =
mg
Suy ra: g = G
M
( R + h) 2
Nếu vật ở gần mặt đất
(h
PHIẾU HỌC TẬP
Học sinh làm bài trong khi củng cố cuối giờ cô thu để chấm
Họ tên: ………………………………………………...…………Lớp:……………………………
Câu 1. Câu nào sau đây là đúng khi nói về lực hấp dẫn do Trái Đất tác dụng lên Mặt
Trăng và do Mặt Trăng tác dụng lên Trái Đất ? Khoanh tròn vào chữ cái trước đáp án em chọn.
A. Hai lực này cùng phương, cùng chiều.
B. Hai lực này cùng phương, ngược chiều.
C. Hai lực này cùng chiều, cùng độ lớn.
D. Phương của hai lực luôn thay đổi và không trùng nhau.
Câu 2. Trái đất và Mặt trăng hút nhau với một lực bằng bao nhiêu? Cho biết bán kính
quỹ đạo của Mặt trăng là r = 3,84.108m, khối lượng Mặt trăng là: m = 7,35.1022kg và
khối lượng Trái đất là M = 6.1024kg.
……………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………
……..……....…………………………….…………………………………………………………………
Câu 3. Tính lực hấp dẫn giữa hai tàu thủy : mỗi tàu có khối lợng 100 000 tấn khi chúng
ở cách nhau 50m. Lực đó có làm cho chúng tiến lại gần nhau không?
……………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………..
……..……....…………………………….
…………………………………………………………………….…………….
…………………………….………………………………………………………………
Câu 4. Muốn lực hút giữa hai vật giảm đi một nửa thì khoảng cách giữa hai vật tăng lên
bao nhiêu lần? Khoanh tròn vào chữ cái trước đáp án em chọn.
A. 4 lần
là Tiêu Ích. Ích nói:
"Nay mưa dầm đã mấy tuần, đường biển thì xa xôi nguy hiểm, Ngô
Quyền lại là người kiệt hiệt, không thể khinh suất được. Đại quân phải
nên thận trọng chắc chắn, dùng nhiều người hướng đạo rồi sau mới
nên tiến".
Vua Hán đang muốn hành quân nhanh để đánh chiếm lại Tĩnh Hải
quân, nên không nghe theo kế của Tiêu Ích, sai Hoằng Tháo đem
chiến thuyền theo sông Bạch Đằng mà vào. Lưu Nghiễm tự mình làm
tướng, đóng ở Hải Môn để làm thanh viện.
Trong khi vua Hán đang điều quân thì Ngô Quyền đã tiến ra thành Đại
La, giết chết Kiều Công Tiễn. Công Tiễn bị cô thế không đủ sức chống
lại nên thành nhanh chóng bị hạ. Lúc đó quân Nam Hán vẫn chưa tiến
vào tới biên giới.
Mượn cọc nhọn và thuỷ triều
Ngô Quyền nghe tin Hoằng Tháo sắp đến, Ngô Quyền bảo các tướng
tá rằng:
"Hoằng Tháo là đứa trẻ khờ dại, đem quân từ xa đến, quân lính còn
mỏi mệt, lại nghe Công Tiễn đã chết, không có người làm nội ứng, đã
mất vía trước rồi. Quân ta lấy sức còn khỏe địch với quân mỏi mệt, tất
phá được. Nhưng bọn chúng có lợi ở chiến thuyền, ta không phòng bị
trước thì thế được thua chưa biết ra sao. Nếu sai người đem cọc lớn
Giáo viên Trần Thị Hằng
8
vạt nhọn đầu bịt sắt đóng ngầm ở trước cửa biển, thuyền của bọn
chúng theo nước triều lên vào trong hàng cọc thì sau đó ta dễ bề chế
ngự, không cho chiếc nào ra thoát".
10
ngập triều). Các cánh quân thủy và bộ được bố trí mai phục ở nhiều khu vực, trong các thung lũng nhỏ
vùng Tràng Kênh, khu vực Phả Lễ, Do Lễ, vùng đất cao Yên Giang (Phan Đại Doãn…1988, đã dẫn). Các
cánh quân thủy chủ lực chịu trách nhiệm chặn ở vị trí ngang hoặc phía trên với các ghềnh đá, nơi có các
dòng chảy sâu và rộng
.
Giai đoạn tấn công trên mặt nước
Vào thời điểm triều bắt đầu rút mạnh vào rạng sáng ngày mùng 8 tháng 3, cũng là lúc quân Nguyên tập
hợp lực lượng cố gắng rút nhanh ra biển, Hưng Đạo Vương cho ghìm bước tiến của đoàn thuyền quân
Nguyên bằng cách cho quân khiêu chiến rồi giả cách thua chạy (Đại Việt sử ký toàn thư- ĐVSKTT). Với
chiến trường đã chuẩn bị (các bãi cọc và các cánh quân mai phục), có thể thấy việc Nguyễn Khoái khiêu
chiến và giả cách thua chạy là để nghi binh và kéo tản quân địch ra các hướng. Với số lượng lớn thuyền
quân Nguyên và thuyền chiến Đại Việt, có thể đồng ý với giả thiết của PGS. Nguyễn Duy Hinh (1988) rằng,
Trần Hưng Đạo đã cố tình đưa chiến thuyền Nguyên vào thủy vực rộng lớn từ cuối sông Đá Bạc đến cửa
sông Chanh ngày nay. Với vị trí các bãi cọc và chướng ngại vật tự nhiên đã biết, có thể đoán rằng khu vực
quân Thánh Dực Nghĩa Dũng của Nguyễn Khoái "đánh quật lại”, sau đó là chiến thuyền hai vua "tung quân
đánh lớn” là ngay phía trước các ghềnh đá trên sông Chanh và sông Bạch Đằng. Thủy quân chủ lực hẳn
đã được tính toán để được hỗ trợ bởi các cánh quân trên bờ (phía Phục Lễ, Phả Lễ - Hải Phòng và đảo Hà
Nam) nhằm chặn không cho chúng vượt qua các ghềnh đá – cửa tử, để thoát ra biển. "Tờ mờ sáng ngày 8
tháng 3 quân Nguyên đến cảng Bạch Đằng, người Giao chắn ngang chiến hạm ở sông để chống cự quân
ta…” (Bia Lý Thiên Hữu, dẫn theo Nguyễn Duy Hinh 1988). Hưng Đạo Vương đã tạo ra một thế trận để cho
quân đội của mình chủ yếu là thủy quân dễ dàng cơ động để tiêu diệt địch, "Thuyền địch (Trần) xúm cả lại,
tên bay xuống như mưa… (Nguyên sử, dẫn theo Trần Hà 1963: 62), khiến cho "Quân Nguyên chết đuối
nhiều không kể xiết, nước sông do vậy đỏ ngầu cả” (ĐVSKTT, Q5).
Sự xuất lộ khá nhiều mẩu than và một lớp than cháy từ độ sâu khoảng 2-2,3m tại bãi cọc Đồng Má Ngựa,
khác với nhận xét của PGS. Nguyễn Duy Hinh cho rằng không thể dùng hỏa công trong trận này (1988, đã
dẫn) cho thấy khả năng dùng hỏa công là rất lớn, chứng thực cho câu ca của nhân dân vùng Tràng Kênh,
12
của nó, cũng như là Mặt Trăng không hoàn toàn quay quanh Trái đất, mà là: H ệ Qu ả Đất-Mặt Tr ăng quay xung
quanh điểm trọng tâm của hệ này. Do khối lượng của Trái đất lớn hơn của Mặt Trăng rất nhiều nên Tr ọng đi ểm
của hệ Trái đất-Mặt Trăng nằm trong lòng Trái đất, trên đường nối tâm của chúng. Tóm l ại: Trái Đất v ừa quay,
vừa lắc.
Thủy triều cực đại đạt được khi mà cả Mặt Trăng và Mặt Trời cùng nằm về một phía với Trái Đất - l ực hấp dẫn
đạt cực đại, còn khi Mặt Trăng và Mặt Trời nằm đối diện nhau so với Trái Đất thì mức tri ều lên đạt c ực tiểu.
Khái niệm thủy triều được mở rộng trong vật lý học dành cho chênh lệch lực tác động lên các vật th ể n ằm trong
trường hấp dẫn không đều.
Một số nơi trên thế giới cư dân vùng ven biển nhận biết có hai loại thủy tri ều: nh ật tri ều và bán nh ật tri ều. Nh ật
triều là con nước thủy triều lên và xuống một lần trong mỗi ngày (24 gi ờ). Bán nhật triều là con n ước lên xu ống 2
lần trong một ngày, những vùng chịu ảnh hưởng của loại triều này thường nằm ở vĩ tuyến gần xích đạo.
Source:
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì thủy triều là hiện tượng nước biển, nước sông... lên xuống
trong một chu kỳ. Sự thay đổi lực hấp dẫn từ Mặt trăng (phần chủ yếu) và từ các thiên thể khác như Mặt
trời (phần nhỏ) tại một điểm bất kỳ trên bề mặt Trái đất trong khi Trái đất quay đã tạo nên hiện tượng nước
lên (triều lên) và nước rút (triều xuống) vào những khoảng thời gian nhất định trong một ngày.
Trái đất vừa quay, vừa lắc. Thủy triều đạt cực đại khi mà cả Mặt trăng và Mặt trời cùng nằm về một phía so
với Trái đất, và mức triều phía đối diện lúc đó sẽ xuống điểm cực tiểu. Thủy triều có nhiều loại, phổ biến
nhất là bán nhật triều. Bán nhật triều là hiện tượng trong một ngày trăng (24 giờ 50 phút) có 2 lần nước lớn
và 2 lần nước ròng. Biên độ của 2 lần nước lớn và 2 lần nước ròng gần như nhau. Khoảng thời gian giữa 2
lần nước lớn liên tiếp và nước ròng liên tiếp là bằng nhau.
Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 là bài học kinh nghiệm để Trần Hưng Đạo vận dụng lại vào năm 1288
Xem lại trận địa cọc ở các bãi lầy được khai quật từ di tích thuộc phạm vi trận Bạch Đằng 1288 của
Trần Hưng Đạo có nhiều kích cỡ khác nhau, tận dụng từ nhiều nguồn, được cắm thành cụm dích dắc,
Cảnh tượng chiến trường vô cùng tráng liệt: “ Tinh thần phấp phới - Tỳ hổ ba quân - Giáo gươm sáng chói”. Các
dũng sĩ nhà Trần với quyết tâm “ Sát Thát, với dũng khí mạnh như hổ báo xung trận. Chiến sự dữ dội ác liệt,
giằng co: “ Trận đánh thư hùng chửa phân - Chiến luỹ Bắc Nam chống đối”. Khói lửa mù trời. Tiếng gươm giáo,
tiếng quân reo , tiếng sóng vỗ. Ngựa hý, voi gầm. Thuyền giặc bị đốt cháy, bị va vào cọc gỗ bịt sắt nhọn vỡ đắm
tan tành. Máu giặc nhuộm đỏ dòng sông. Trận đánh kinh thiên động địa được tái hiện bằng những nét vẽ,
những chi tiết phóng bút, khoa trương rất thần tình. Âm thanh và màu sắc, trực cảm và tưởng tượng được tác
giả phối hợp vận dụng, góp phần tô đậm trang sử vàng chói lọi:
“Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ
Bầu trời đất chừ sắp đổi”.
“Đại Việt sử ký” ghi rõ: Các tướng như Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ… đều bị bắt sống, hàng vạn giặc bị tiêu
diệt. Quân ta thu hơn 400 chiến thuyền. Giặc đã lần lượt nếm mùi thất bại, nhục nhã. Dòng sông Bạch Đằng như
một chứng nhận lịch sử:
“Đến nay sông nước tuy chảy hoài
Mà nhục quân thù khôn rửa nổi”.
Trận thủy chiến sông Bạch Đằng của tổ tiên mang tầm vóc và quy mô hoành tráng, kỳ vĩ.
Giáo viên Trần Thị Hằng
14