ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Khoa Sư phạm
Ngô Trường Đức
Những biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở trường trung học phổ thông
ngoài công lập Hà Nội trong giai đoạn phát triển hiện nay
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Mã số:
60 14 05
HÀ NỘI – 2008
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghị quyết lần 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) đánh
giá: “Giáo dục đào tạo nước ta còn yếu kém bất cập cả về quy mô, cơ cấu và
nhất là về chất lượng và hiệu quả”. Thực tế nhiều năm qua cho thấy, giáo dục
nước ta tuy đã đạt được nhiều tiến bộ nhất định, song vẫn còn nhiều bất cập
và yếu kém. Một trong những vấn đề bức xúc nhất của giáo dục nước ta hiện
nay là vấn đề chất lượng và quản lý chất lượng giáo dục.
Nguyên nhân chủ yếu của tình hình trên là do công tác QLGD chưa đáp
ứng được những yêu cầu của sự phát triển giáo dục trong giai đoạn mới. Việc
QL nhằm đảm bảo chất lượng các hoạt động dạy học trong các nhà trường
phổ thông còn nhiều yếu kém. Tìm kiếm giải pháp để khắc phục những yếu
kém cho QL giáo dục đang trở nên cấp thiết cho công tác nghiên cứu và áp
dụng khoa học vào thực tiễn giáo dục nước ta.
Hiện nay, theo định hướng của Đảng, giáo dục nước ta đang được đổi
trường NCL cũng gặp khó khăn vì cơ sở vật chất thiếu thốn, đội ngũ giáo viên
thường xuyên không ổn định và chất lượng đầu vào của học sinh thường yếu
kém về trình độ văn hóa và đạo đức. Chính vì vậy đã ảnh hưởng không nhỏ
tới việc quản lý hoạt động dạy học trong các trường THPT NCL.
Trong thực tế, các nhà quản lý giáo dục chưa quan tâm đúng mức tới việc
quản lý hoạt động dạy học tại các trường THPT NCL. Nhiều nơi, nhiều
trường THPT NCL, việc quản lý hoạt động dạy học hầu như bị thả nổi, không
được quan tâm đúng mức. Vì vậy, việc quản lý hoạt động dạy học tại các
trường THPT NCL nhằm đáp ứng tốt các nhiệm vụ giáo dục theo mục tiêu
phát triển nhà trường là việc làm rất quan trọng, đây là vấn đề cấp thiết không
chỉ đối với cán bộ quản lý nhà trường THPT NCL, các nhà quản lý giáo dục ở
các cấp, mà còn đối với các tổ chức xã hội quan tâm đến loại hình nhà trường
này.
Trường THPT NCL có những thế mạnh riêng của mình trong việc lựa
chọn giáo viên có trình độ chuyên môn cao, tâm huyết với nghề, nhiệt tình với
2
việc giáo dục học sinh. Học sinh có điều kiện được tự do chọn trường phù
hợp với hoàn cảnh học tập của mình. Trường THPT NCL có những trường
chất lượng cao khi tuyển học sinh đầu vào và cũng có những trường tiếp nhận
tất cả học sinh không đủ tiêu chuẩn vào học trường quốc lập. Chính vì vậy, xã
hội chúng ta ngày nay thừa nhận sự đóng góp to lớn của các trường THPT
NCL trong sự nghiệp giáo dục của cả nước.
Trong thực tế, chất lượng giáo dục của các trường THPT NCL không
đồng đều vì công tác quản lý hoạt động dạy học ở các trường THPT NCL
chưa được quan tâm và coi trọng. Do đó, nghiên cứu công tác quản lý hoạt
động dạy học ở các trường THPT NCL là việc làm xuất phát từ nhu cầu thực
tiễn để tìm một cách làm hợp lý và áp dụng được những tiến bộ khoa học
thích ứng với mô hình phát triển của từng trường NCL thì sẽ nâng cao chất
lượng dạy học ở trường THPT NCL.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu
5.2. Khảo sát thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học ở trường
THPT NCL tại địa bàn thành phố Hà Nội
5.3. Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học của các trường
THPT NCL tại địa bàn thành phố Hà Nội có hiệu quả, nhằm nâng cao chất
lượng dạy và học của nhà trường
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phương pháp phân tích, tổng
hợp tài liệu, phân loại tài liệu nhằm mục đích xác định cơ sở lý luận cho vấn
đề nghiên cứu.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
a) Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi;
b) Phương pháp tổng kết kinh nghiệm;
c) Phương pháp đàm thoại phỏng vấn;
d) Phương pháp so sánh.
6.3. Phương pháp thống kê để xử lý số liệu thu được
7. Phạm vi nghiên cứu
4
7.1. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học ở các trường
THPT NCL sau đây:
- Trường THPT Dân lập Đinh Tiên Hoàng;
- Trường THPT Dân lập Hà Nội;
- Trường THPT Dân lập Lômônôxôp.
7.2. Giới hạn của đề tài
Lâm, ... Ý kiến của các nhà nghiên cứu có thể khác nhau nhưng điểm chung
trong các công trình nghiên cứu của họ đều khẳng định vai trò quan trọng của
công tác QL trong việc nâng cao chất lượng dạy học ở các cấp học, bậc học.
Đây cũng chính là tư tưởng mang tính chiến lược về phát triển QLGD của
Đảng: ''Đổi mới và nâng cao năng lực quản lý nhà nước trong giáo dục và
đào tạo, đẩy mạnh đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục
theo hướng hiện đại, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và đổi mới cơ chế
QLGD " [4, tr 18].
Trong bối cảnh đổi mới GD bậc THPT, quản lý hoạt động dạy học thực
sự là vấn đề bức xúc cần được nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng và hiệu
quả giảng dạy trong nhà trường. Đề tài về quản lý hoạt động dạy học ở trường
THPT đã được một số tác giả quan tâm nghiên cứu trong nhiều luận văn thạc
sĩ, tiến sỹ giáo dục học và Tạp chí nghiên cứu giáo dục, trong nhiều năm qua
đã công bố nhiều đề tài của nhiều tác giả như: Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng
Quốc Bảo, Trần Kiểm, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Tùng Lâm, ...
6
Từ những vấn đề cụ thể nêu trên, chúng ta có thể thấy thực trạng quản
lý hoạt động dạy học của các trường THPT ngoài công lập và việc cần thiết
phải xác lập các biện pháp QLGD phù hợp nhằm nâng cao chất lượng dạy học
tại các trường THPT, đã được đề cập, nghiên cứu trong nhiều năm nay ở Việt
Nam. Tuy vậy, chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu về sự phối hợp các
phương pháp quản lý hoạt động dạy học của các trường THPT ngoài công lập
cho phù hợp với thực tiễn phát triển của các trường THPT ngoài công lập,
chuẩn bị tích cực cho việc đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội Việt Nam thế kỷ
XXI. Việc phối hợp các phương pháp quản lý hoạt động dạy học của các
trường THPT ngoài công lập đang là những vấn đề thời sự cấp bách cần có đề
tài nghiên cứu khoa học để giải quyết về cơ sở lý luận lẫn cơ sở thực tiễn.
có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm
làm cho tổ chức vận hành đạt mục tiêu mong muốn bằng kế hoạch hoá, tổ
chức, chỉ đạo, kiểm tra.
1.2.2. Khái niệm quản lý giáo dục và quản lý nhà trường
Giáo dục là một hiện tượng xã hội, là một chức năng của xã hội nên giáo
dục phải được quản lý. Có thể khẳng định GD và QLGD tồn tại song hành.
Nghị quyết lần 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá 8 có nêu:
"QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý
nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong
muốn bằng cách hiệu quả nhất" [2, tr 19].
Các nhà nghiên cứu khoa học GD Việt Nam quan niệm về QLGD như sau:
"QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng
xã hội nhằm thúc đẩy mạnh mẽ công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát
triển xã hội" [3, tr 31].
“QLGD là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của
chủ thể QL, nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối giáo dục của Đảng,
thực hiện các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa mà tiêu điểm hội tụ là
quá trình dạy học giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến
lên trạng thái mới về chất" [24, tr 35].
8
Theo TS. Nguyễn Tùng Lâm thì: “Chính yếu tố quản lý giáo dục sẽ
giúp cho việc điều chỉnh, cân đối, cải tiến quá trình giáo dục, thúc đẩy quá
trình giáo dục đạt mục tiêu, với một trình độ chất lượng cao, phí tốn ít. Và kết
quả giáo dục cũng không đứng ngoài quá trình giáo dục, mà đó là yếu tố quan
trọng của quá trình giáo dục. Kết quả giáo dục đã qua sẽ là tiêu đề để tổ chức
các hoạt động giáo dục sắp tới; là sự khích lệ những nỗ lực và sáng tạo của
người được giáo dục (học sinh) và người giáo dục (nhà sư phạm)” [20, tr 33].
học, mà kết quả là học sinh lĩnh hội được nội dung giáo dưỡng và giáo dục”
[14, tr 192].
Khái niệm dạy học cũng còn được xem xét dưới góc độ điều khiển học
chính là quá trình cộng tác giữa thầy với trò nhằm điều khiển – truyền đạt và
tự điều khiển – lĩnh hội tri thức nhân loại nhằm thực hiện mục đích giáo dục.
Lý luận dạy học đã khẳng định hoạt động dạy học là hình thái vận
động theo quy luật của các hoạt động dạy và hoạt động học trong mối quan hệ
tương tác với nhau và với môi trường. Hoạt động dạy học là một quá trình,
theo đó, mỗi hoạt động là những giai đoạn cấu thành. Như vậy, hoạt động dạy
và hoạt động học có cấu trúc hệ thống chặt chẽ (bao gồm động cơ mục đích
– phương tiện – kết quả), với quan hệ tương tác giữa chủ thể và đối tượng của
từng loại hoạt động, với sự kế tiếp nhau theo lôgic của nội dung học vấn và
lôgic của chủ thể nhận thức nhằm thực hiện chức năng của hoạt động dạy học.
1.3.2. Bản chất của hoạt động dạy học
Bản chất của hoạt động dạy học thể hiện ở các thành tố cơ bản tạo
thành hoạt động dạy học. Đó là: khái niệm khoa học + hoạt động dạy + hoạt
động học. Hoạt động dạy học về bản chất là quá trình nhận thức của học sinh.
Theo tác giả Đặng Thành Hưng: “Bản chất của dạy học là gây ảnh hưởng có
chủ đích đến hành vi học tập và quá trình học tập của người khác, tạo ra môi
trường và những điều kiện để người học duy trì việc học tập, cải thiện hiệu
quả, chất lượng học tập, kiểm soát quá trình và kết quả học tập của mình. Dạy
học chính là cơ cấu và quy trình tác động đến người học và quá trình học”
[16, tr 20]. Như vậy, bản chất của hoạt động dạy học chính là tổ chức và điều
10
khiển hoạt động nhận thức của học sinh cho phù hợp lôgic của khái niệm
khoa học và quy luật nhận thức, nhằm phát triển người học. Để người học lĩnh
hội tri thức ở mức độ cao đòi hỏi người dạy phải có những phương pháp dạy
Cấu trúc về quá trình: Hoạt động dạy học bao gồm các bước diễn biến cơ bản
sau đây:
- Bước khởi động: kích thích động cơ thái độ học tập của học sinh;
- Bước thực hiện nội dung: tổ chức điều khiển cho học sinh thực hiện
hoạt động học để nắm tri thức mới, củng cố tri thức, rèn luyện kỹ năng;
- Bước kết thúc: kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động học của học sinh.
Các bước trên có mối quan hệ tương tác và hợp thành một chỉnh thể hệ thống
và làm nên các khâu của hoạt động dạy học.
Cấu trúc về thời gian, không gian: hoạt động dạy học diễn ra trong một tiết
học, trong một buổi học trong quá trình của một học kỳ, một năm học hoặc
một cấp học. Hoạt động dạy học diễn ra ở những địa điểm khác nhau với
những hình thức khác nhau: giờ lên lớp, giờ ngoại khóa, giờ tự học ở nhà …
Hoạt động dạy học diễn ra trong nhà trường THPT thường được thực hiện ở
hai cấp độ:
Cấp độ vĩ mô là quá trình tổng thể (hệ thống lớn) bao gồm nhiều quá
trình vi mô tương ứng với hoạt động dạy học của từng bài học, môn học, lớp
học, cấp học diễn ra trong thời gian quy định. Hoạt động dạy học cấp độ vĩ
mô do các nhà quản lý nhà trường chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện.
Cấp độ vi mô là các hoạt động dạy của thầy và các hoạt động học của
trò, theo nhiều bộ môn, trên cơ sở phối hợp sử dụng các nguồn lực (tài liệu
học tập, thiết bị dạy học, cơ sở vật chất lớp học …) nhằm dẫn dắt học sinh từ
chỗ chưa biết đến chỗ hình thành tri thức, kỹ năng thái độ, hành vi, … tương
ứng với từng đơn vị tiết học, bài học. Các hoạt động dạy của thầy và các hoạt
động học của trò là cấp độ vi mô, là hệ thống con, mang tính hạt nhân do
người giáo viên tổ chức.
1.3.4. Định hướng đổi mới hoạt động dạy học trong nhà trường THPT
12
Các phẩm chất năng lực nêu trong mục tiêu phải được cụ thể hóa thành hệ
thống các giá trị, bao gồm các giá trị truyền thống cần kế thừa và phát huy để
giữ gìn bản sắc dân tộc, các giá trị mới được hình thành trong giai đoạn công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
1.3.4.3. Đổi mới hoạt động dạy học trong nhà trường THPT phải đảm bảo
tính khoa học và sư phạm
Chương trình và sách giáo khoa của giáo dục phổ thông phải là công
trình khoa học sư phạm, trong đó phải lựa chọn được các nội dung cơ bản,
phổ thông, cập nhật với những tiến bộ của khoa học, công nghệ, của kinh tế
xã hội, gần gũi với đời sống và phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh
trong từng giai đoạn học tập, gắn bó với thực tế phát triển của đất nước, tích
hợp được nhiều mặt giáo dục trong từng đơn vị nội dung, nâng cao chất lượng
thực hành vận dụng theo năng lực của từng đối tượng học sinh.
1.3.4.4. Đổi mới hoạt động dạy học trong nhà trường THPT phải thể hiện tinh
thần đổi mới phương pháp dạy học
Đổi mới chương trình và sách giáo khoa của giáo dục phổ thông phải
tập trung vào đổi mới phương pháp dạy học, thực hiện dạy học dựa vào hoạt
động tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh với sự tổ chức hướng dẫn đúng
mức của giáo viên, góp phần hình thành phương pháp và nhu cầu tự học, nâng
cao hứng thú học tập, tạo niềm tin và niềm vui cho học sinh trong học tập.
1.3.4.5. Đổi mới hoạt động dạy học trong nhà trường THPT phải đảm bảo
tính thống nhất
Chương trình giáo dục phổ thông phải đảm bảo tính chỉnh thể qua việc
xác định mục tiêu, nội dung, định hướng phương pháp, … từ bậc tiểu học qua
trung học cơ sở đến trung học phổ thông. Chương trình và sách giáo khoa
phải áp dụng thống nhất trong cả nước, đảm bảo sự bình đẳng trung thực
trong giáo dục, đặc biệt ở giai đoạn học tập cơ bản của các cấp, bậc học phổ
cập giáo dục. Tính thống nhất của chương trình và sách giáo khoa thể hiện ở:
2
3
7
15
4
5
6
1. Mục tiêu đào tạo, yêu cầu người học, xã hội;
2. Người dạy, người tham gia vào hoạt động dạy học;
3. Người học, người hưởng lợi và đánh giá kết quả của hoạt động dạy
học;
4. Các nội dung của hoạt động dạy học;
5. Các phương pháp thực hiện hoạt động dạy học;
6. Các điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ hoạt động dạy học;
7. Hệ thống quản lý và điều khiển hoạt động dạy học (toàn bộ mối liên
kết các hoạt động dạy học).
Từ sơ đồ giản lược trên đây, chúng ta có thể thấy quá trình của hoạt động
dạy học là có thể kiểm soát, đánh giá được ở những mặt cơ bản. Vì vậy, tìm
các biện pháp để nâng cao hiệu quả của công tác quản lý HĐDH trong trường
trung học phổ thông chính là tìm các biện pháp nâng cao hiệu quả của hệ
thống quản lý và điều khiển hoạt động dạy học nói trên.
Quá trình công tác quản lý HĐDH trong nhà trường, các nhà QL và giáo
vậy miền giao của vòng tròn 1, 2, 3 ở trạng thái phối hợp càng lớn lên bao
nhiêu, hoạt động dạy học càng dễ thành công và hiệu quả bấy nhiêu.
1.5. Các phương pháp quản lý hoạt động dạy học đang được vận dụng ở
trường trung học phổ thông ngoài công lập hiện nay
Trong thực tế, hoạt động dạy học là một trong những hoạt động trọng
tâm, cơ bản của mỗi trường trung học phổ thông, nhất là các trường trung học
phổ thông NCL luôn lấy hoạt động dạy học là hoạt động chủ đạo của mình.
Các nhà quản lý giáo dục đã vận dụng nhiều phương pháp quản lý để quản lý
hoạt động dạy học này một cách đa dạng, phong phú nhằm nâng cao chất
lượng dạy học của mỗi nhà trường.
Đề tài của chúng tôi chỉ nêu lên những phương pháp quản lý chủ yếu đã
được các các nhà trường vận dụng thường xuyên lâu nay thành truyền thống
và những phương pháp mới được vận dụng trong quá ttrình đổi mới phương
pháp quản lý trong các trường trung học phổ thông NCL.
1.5.1. Quản lý theo chức năng, nhiệm vụ của hoạt động dạy học
17
Quản lý theo chức năng, nhiệm vụ của hoạt động dạy học ở trường
THPT theo quy chế trường THPT NCL; Điều lệ nhà trường THPT do Bộ
GD&ĐT đã quy định và nhiệm vụ năm học đã được Bộ GD&ĐT và Sở
GD&ĐT xác định.
Đây là phương pháp quản lý mang tính chất hành chính đã được các
trường THPT NCL thực hiện nhiều năm nay. Nhưng làm thế nào để phát huy
được hết mặt mạnh và hạn chế các mặt yếu kém của phương pháp quản lý
này, mà các mặt yếu kém là nguyên nhân cản trở đến chất lượng giáo dục của
mỗi nhà trường THPT NCL lại là một vấn đề mà đề tài có hướng nghiên cứu
những giải pháp đổi mới sẽ được đề cập ở chương 3.
1.5.2. Quản lý theo mục tiêu của hoạt động dạy học
Trường trung học phổ thông NCL là loại hình nhà trường phải tiếp cận
NCL.
Đi tìm những biện pháp quản lý cho hoạt động dạy học của các trường
phổ thông NCL sao cho vừa phát huy thế mạnh truyền thống của các nhà
trường THPT, vừa phù hợp mục tiêu “thương hiệu” của mỗi nhà trường lại
vừa đáp ứng được những yêu cầu đổi mới của hệ thống giáo dục nước ta nói
chung, hệ thống giáo dục ngoài công lập nói riêng trong nền kinh tế thị trường
thời kỳ hội nhập đang là một thách thức lớn mà đề tài đã đề cập đến.
Tiểu kết chương 1
Chương 1 đã tổng hợp kết quả nghiên cứu của một số tác giả về quản lý
hoạt động dạy học ở các trường ngoài công lập trong giai đoạn hiện nay để
khẳng định sự cần thiết của đề tài lựa chọn. Đề tài đã làm sáng tỏ cơ sở lý
luận của việc xác lập các biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở các trường
THPT ngoài công lập đối với các trường THPT ngoài công lập ở khu vực Hà
Nội khi vận dụng vào quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường.
Để vận dụng thành công các biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở các
trường THPT ngoài công lập, chương 1 của luận văn đã cố gắng làm sáng tỏ
các khái niệm cơ bản của đề tài: quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà
trường, quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT và các cơ sở lý luận về
quản lý hoạt động dạy học ở trường trung học phổ thông, nêu ra những đặc
19
điểm chủ yếu của hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học cũng như
các nội dung công tác quản lý hoạt động dạy học của trường trung học phổ
thông. Luận văn cũng nêu ra tầm quan trọng trong việc thực hiện đồng bộ các
biện pháp quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên, các biện pháp quản lý
hoạt động học tập của học sinh và biện pháp quản lý các điều kiện phục vụ
hoạt động dạy học. Chương 1 của luận văn cũng là cơ sở lý luận để xây dựng
những nhiệm vụ cơ bản trong chương Hai và chương Ba của đề tài.
27.508
27,36
03 04
60
596
26.199
26,14
04 05
58
639
26.309
26,15
05 06
55
686
28.148
27,5
06 07
56
752
33.847
31,19
(nguồn: Sở GD&ĐT Hà Nội – 2007)
Phân bổ mạng lưới và quy mô của hệ thống các trường THPT NCL trên địa
bàn Thành phố Hà Nội chưa đồng đều. Trong 3 năm gần đây số trường giảm
HĐ QUẢN TRỊ
HIỆU TRƯỞNG
TRỢ
LÝ HT
GVCN
LỚP
TỔ
CM
TT
Hướng
nghiệp
VĂN
PHÒNG
HỘI
CHA MẸ
HS
ĐOÀN
TNCSHCM
(Nguồn: văn phòng THPT DL Hà Nội)
22
S
lp
16
S gv
S hs
50
659
2.2.1.1. Công tác quản lý hồ sơ, quy chế giảng dạy
Trường THPT DL Hà Nội là một trong số ít các trường DL ở Hà Nội duy
trì chế độ quản lý nhà trường với 01 hiệu trưởng, trường không bố trí phó hiệu
trưởng mà chỉ cử các giáo viên khác làm trợ lý cho hiệu trưởng cùng với các tổ
trưởng chuyên môn, ban chấp hành Đoàn trường, điều hành quản lý các hoạt
động dạy học của nhà trường. Theo đánh giá chung, trường THPT DL Hà Nội
là một trong số các trường DL với quy mô trung bình về số lượng học sinh
cũng như về chất lượng đào tạo. Công tác quản lý hồ sơ, quy chế giảng dạy
được thực hiện theo quy định của Bộ GD&ĐT và Sở GD&ĐT.
Trường tổ chức câu lạc bộ, trung tâm tư vấn hướng nghiệp cho học
sinh. GVCN là những GV bộ môn dạy những môn nhiều giờ, có uy tín.
23
GVCN quản lý lớp theo hình thức khoán công việc, có hiệu quả. GVCN
phải có mặt ở trường 4 buổi tuần, lương GVCN là 450.000 đến 600.000
đồng/tháng. Đội ngũ GVBM gồm GV cơ hữu và thỉnh giảng. Cách tính
Gii
Xp loi hc lc %
Khỏ TB Yu Kộm
9
1,4
181
27,5
T l
%
Thpt dl h
01 ni
659
274
41,9
269
40,8
87
13,2
29