Đề cương cao học quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại việt nam - Pdf 31

HỌC VIỆN NGOẠI GIAO
Trung tâm Đào tạo Bồi dƣỡng Cán bộ Đối ngoại
------o0o------

Foreign Service Training Center

TÀI LIỆU HỌC TẬP
Khoá Cập nhật kiến thức đối ngoại 2011

HÀ NỘI – 2011


TẬP 2: TÌNH HÌNH THẾ GIỚI, KHU VỰC
MỤC LỤC

PHẦN I: ĐỀ CƢƠNG BÀI GIẢNG .............................................................................................. 2
Bài 4: Đặc điểm tình hình thế giới và quan hệ quốc tế từ sau chiến tranh lạnh đến naynhững xu thế lớn trên thế giới ..................................................................................................... 2
Đề cương bài giảng ................................................................................................................... 2
Tài liệu tham khảo ..................................................................................................................... 34
Bài 5: Quan hệ quốc tế ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương từ sau Chiến tranh lạnh
đến nay .......................................................................................................................................... 35
Đề cương bài giảng ................................................................................................................... 35
Tài liệu tham khảo ..................................................................................................................... 36
Bài 6: Những vấn đề an ninh nổi bật của khu vực châu Á- Thái Bình Dương........................ 37
Đề cương bài giảng ................................................................................................................... 37
Tài liệu tham khảo ..................................................................................................................... 52
Bài 7: ASEAN và vai trò đối với các vấn đề khu vực ................................................................. 54
Đề cương bài giảng ................................................................................................................... 54
Tài liệu tham khảo ..................................................................................................................... 87
Bài 10: Quan hệ giữa các nước lớn sau chiến tranh lạnh ......................................................... 90
Đề cương bài giảng ................................................................................................................... 90

Cộng hòa lãnh đạo cuộc xung đột với các Nước Cộng hòa lân cận. Mâu thuẫn dân tộc cực kỳ lớn
trong lòng Liên Xô trước đây vẫn bị dấu kín nay đã bộc lộ và tiến triển không thể kiểm soát
được. Một khi tình hình hỗn loạn thì các mối liên hệ kinh tế giữa các vùng miền và các nước
Cộng hòa cũng bị gián đoạn làm tình hình kinh tế trở nên nguy ngập, tình hình xã hội trở nên
hỗn loạn. Các Đảng viên Cộng sản phân ly và mất hoàn toàn sự kiểm soát và kỷ luật của Đảng và
trở thành các lực lượng quốc gia dân tộc chủ nghĩa. Ngay Xô viết Tối cao Nga, nước cộng hòa
trụ cột của Liên Xô, cũng ra nghị quyết đặt luật pháp nước Cộng hòa cao hơn Hiến pháp Liên
Xô, quyền lực của nhà nước Liên Xô dần trở thành hình thức.
2


Ngày 19 tháng 8 năm 1991 một số nhà lãnh đạo theo đường lối cứng rắn (Chủ tịch Quốc
hội Lukyanov, Chủ nhiệm KGB Kryuchkov, Phó Tổng thống Yanaev, Thủ tướng Pavlov) với lý
do khôi phục sự thống nhất của Liên bang Xô viết tiến hành đảo chính, lập Uỷ ban nhà nước về
tình trạng khẩn cấp, tước bỏ quyền lực của Tổng thống Liên Xô Gorbachov và đưa quân đội vào
thủ đô. Nhưng lực lượng đảo chính không đạt được sự ủng hộ của dân chúng và quân đội, đảo
chính càng làm tăng thêm mâu thuẫn giữa các nước cộng hòa và các thế lực chính trị lãnh đạo
các khu vực. Chỉ qua 2 ngày (21 tháng 8) Bộ trưởng Quốc phòng, Nguyên soái Yazov ra lệnh rút
quân khỏi Moskva, đảo chính thất bại. Trong việc đánh bại đảo chính có vai trò nổi bật của Tổng
thống Liên bang Nga Boris Yeltsin, người đã hiệu triệu dân chúng bảo vệ Nhà Trắng, trụ sở
chính phủ Nga. Thực ra chính CIA đã thông báo trước cho Boris Yeltsin biết trước về những kế
hoạch quan trọng của phe đối lập, giúp ông ta giành thắng lợi trong cuộc đối đầu với Uỷ ban nhà
nước về tình trạng khẩn cấp do CIA đã đãt máy nghe trộm ngay dưới chân điện Kremli. Đích
thân tổng thống Mỹ là Bush (cha) và thủ tướng Anh là John Major đã gọi điện báo trước về âm
mưu đảo chính và thúc giục Yeltsin phải có hành động nhằm tranh thủ sự đồng tình và nắm chắc
quân đội.
Sau đảo chính, tình hình biến chuyển nhanh chóng. Ngày 8 tháng 12 tại Minsk, thủ đô của
Belarus, các nhà lãnh đạo ba nước cộng hòa Nga, Belarus và Ukraina ra tuyên bố ký thỏa thuận
thành lập Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG– Содружество Независимых Государств),
chấm dứt sự tồn tại của Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết. Ngày 21 tháng 12 tại

Đây là đặc điểm nổi bật trong quan hệ giữa các nước lớn từ sau Chiến tranh lạnh. Các nước
lớn vừa tăng cường hợp tác vừa kiềm chế lẫn nhau, trong đó hợp tác ngày càng được chú trọng.
Lĩnh vực hợp tác cũng được tăng cường cả chiều rộng lẫn chiều sâu trên nhiều lĩnh vực khác
nhau như kinh tế, chính trị, văn hóa, an ninh, quân sự (các cuộc tập trận chung giữa Nga và
Trung Quốc)..., trong đó chú trọng hợp tác kinh tế, thương mại. Năm 1994, tổng kim ngạch buôn
bán giữa Mỹ và Trung Quốc là 48 tỷ USD; năm 2000 là 116,4 tỷ USD; đến năm 2004 con số này
đã là 169,6 tỷ USD1; Trong năm 1995, quan hệ trao đổi giữa Trung Quốc và Nhật Bản lên tới 55
tỷ USD so với 46,2 tỷ USD năm 1994; năm 2004 kim ngạch buôn bán hai bên là 167,88 triệu
USD.
Tuy có sự hợp tác ngày càng chặt chẽ như vậy nhưng khác với giai đoạn chiến tranh lạnh,
các nước lớn tránh việc đi tới một liên minh nào với nhau. Điều này xuất phát từ việc các nước
không muốn phải hy sinh một phần chủ quyền của mình khi hình thành nên liên minh. Hơn nữa
các nữa các nước lớn cũng không muốn gắn bó chặt chẽ với nhau dưới cơ chế hợp tác liên minh,
không muốn tự ràng buộc mình trong những hành động chung. Điều này có thể thấy được qua
mối quan hệ giữa Nga và Trung Quốc. Mặc dù hai nước đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược,
có sự hợp tác chặt chẽ với nhau trong nhiều vấn đề quốc tế nhưng đó vẫn không phải là một liên
minh. Chính những nhà lãnh đạo cao nhất của hai nước cũng đã khẳng định nhiều lần về điều
này.

1

Số liệu từ www. uschina. org/statistics/tradetable.html

4


Sự tăng cường hợp tác cũng làm cho mâu thuẫn nảy sinh giữa các nước lớn ngày càng
nhiều, tuy nhiên các nước này đều cố gắng tránh đi đến đối đầu, đổ vỡ quan hệ. Khi mâu thuẫn
nảy sinh, các nước lớn thường có những sự phản ứng gay gắt, dùng lời lẽ đao to búa lớn (phản
ứng của Trung Quốc về nội dung cuốn sách giáo khoa lịch sử của Nhật Bản, về việc Thủ tướng

5


cả các lĩnh vực kể cả hợp tác an ninh, tạo sự tin tưởng lẫn nhau và giải quyết các mâu thuẫn nảy
sinh thông qua thương lượng. Quan hệ đối tác chiến lược tạo khung hợp tác ổn định lâu dài trong
quan hệ giữa các nước lớn với nhau, nhưng lại không phải là một dạng liên minh mới giữa các
nước này.
Việc hình thành quan hệ đối tác chiến lược xuất phát từ nhận thức của các nước trong việc
tạo dựng môi trường quốc tế hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế trong nước. Họ nhận thức
được mối quan hệ giữa an ninh quốc gia và an ninh quốc tế. Họ tăng cường hợp tác với nhau để
giải quyết những vấn đề an ninh chung đó đồng thời cũng như để kiềm chế đối thủ của mình
luôn.
Tuy cùng gọi là quan hệ đối tác chiến lược nhưng mức độ quan hệ giữa. các nước lớn theo
kiểu này là không đồng đều. Quan hệ giữa Trung Quốc với Nga chủ yếu là về hợp tác quân sự,
còn giữa Nga với EU lại chủ yếu là kinh tế. Các mặt hợp tác khác tuy cũng được chú trọng
nhưng không đáng kể mấy.
Ra đời sau vụ tấn công vào nước Mỹ ngày 11/9/2001, Liên minh chống khủng bố là một
nét mới trong quan hệ giữa các nước lớn. Lần đầu tiên tất cả các nước lớn đều nằm trong một
liên minh do Mỹ cầm đầu. Tuy nhiên đây là một liên minh không thực chất, lỏng lẻo và mỗi
nước lớn tham gia vào đây đều có những động cơ riêng của mình. Nước Mỹ dưới danh nghĩa
chống khủng bố đã đem quân vào Afghanistan (2001), Trung Á (2001), Đông Nam Á ( tháng
1/2002 Mỹ đem 600 quân vào Philippin), và Iraq (2003) và rất nhiều nơi khác để dành riêng cho
mình những lợi thế mà các khu vực này đem lại. Nước Nga nhân cơ hội các nước Phương Tây
tập trung chống khủng bố để dành sự ủng hộ đối với Nga trong cuộc chiến chống khủng bố ở
Chesnia hay ít nhất là không gặp phải sự chống đối của các nước này. Nhật Bản cũng nhân việc
chống khủng bố để đem quân ra nước ngoài, chuẩn bị cho bước khôi phục lại quân đội của mình,
v.v... Mặc dù vậy đây cũng là một bước phát triển mới trong quan hệ giữa các nước lớn. Quan hệ
giữa họ đã được cải thiện đáng kể, nhất là giữa Nga với phương Tây. Hợp tác giữa các nước này
cũng được tăng cường hơn như trong việc trao đổi thông tin tình báo, phong tỏa các nguồn thu
của các tổ chức khủng bố, v.v...

chẽ giữa các nước lớn khiến cho Mỹ tự cho phép mình tấn công I-rắc. Sự nghi kỵ lịch sử sâu sắc
giữa Trung Quốc và Nhật Bản khiến cho việc tranh chấp ở đảo Điếu Ngư không được giải quyết
mà còn xảy ra nhiều tranh chấp khác như vụ kiện sách giáo khoa lịch sử gần đây. Sự mâu thuẫn
chiến lược trong quan hệ Mỹ-Trung, Mỹ-Nga đã tạo điều kiện cho bọn khủng bố trỗi dậy ở
Chechnya, Pakistan... Nội chiến, xung đột hầu hết xảy ra ở những nước nhỏ, nước kém phát triển
nhưng giàu tài nguyên, có vị trí địa-chính trị quan trọng hoặc mâu thuẫn sắc tộc khiến cho những
đất nước này ngày càng chìm đắm trong khó khăn, chết chóc.

7


Thứ hai, quốc tế hoá các vấn đề xung đột cục bộ, nội chiến.
Sự đan xen lợi ích giữa các nước lớn trong các khu vực, cũng như việc các nước này tăng
cường lôi kéo, có thể thiệp vào công việc nội bộ của nước nhỏ khiến cho các xung đột cục bộ,
nội chiến ở các nước nhỏ dễ bị quốc tế hoá. Khi vấn đề nội bộ bị quốc tế hoá sẽ ảnh hưởng đến
chủ quyền quốc gia của các nước nhỏ, khiến họ phải nhượng bộ hoặc tuân theo các giải pháp
quốc tế. Hơn nữa, sự kiềm chế giữa các nước trong diễn đàn đa phương khiến cho các xung đột
không được giải quyết dứt điểm. Ví dụ như vấn đề Đài Loan, Triều Tiên, Biển Đông. Sự kiềm
chế trong quan hệ Mỹ-Trung, khiến cho vấn đề Đài Loan khó có thể giải quyết dứt điểm bởi vì
nếu như Mỹ thực sự coi Trung Quốc là một đối thủ toàn cầu mà sự hợp tác của Trung Quốc là
thiết yếu đối với lợi ích kinh tế và an ninh của Mỹ thì liệu Đài Loan sẽ còn có được Mỹ đứng
đằng sau trong quan hệ với Mỹ hay không? Thực tế đã rõ, Mỹ vẫn ủng hộ Đài Loan và còn muốn
giữ nguyên tình trạng này.
Hoặc vấn đề khủng hoảng hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên. Những cuộc đàm phán 6 bên
về vấn đề Triều Tiên vẫn chưa đạt được sự đồng thuận bởi vì tính toán giữa các nước lớn trong
vấn đề này là khác nhau. Mục tiêu cao nhất của Mỹ là, nếu có thể, muốn thay chế độ CHĐCN
Triều Tiên, nhưng Trung Quốc vẫn muốn duy trì CHĐCN Triều Tiên vì là nước thân cận và khu
đệm của Trung Quốc. Nhật Bản muốn giải quyết vấn đề nhằm phục vụ cho mục tiêu lấy lại sức
mạnh kinh tế và ảnh hưởng của Nhật Bản ở khu vực. Điều này khiến cho vấn đề Bắc Triều Tiên
khó giải quyết trong thời gian tới.

khuôn khổ những luật chơi mà quan hệ giữa các nước lớn tạo ra.
3.3.2. Về kinh tế
Trong bối cảnh hiện nay, các nước nhỏ gặp rất nhiều khó khăn trong việc lựa chọn mô
hình phát triển kinh tế.
Hình thức quan hệ giữa các nước lớn có sự ảnh hưởng mang tính chất quyết định đến mô
hình phát triển của nền kinh tế thế giới. Tuy không có một quy ước trên văn bản giấy tờ nào
nhưng các nước này đều tìm mọi cách nhằm thúc đẩy nền kinh tế thế giới đi theo hướng tư bản
chủ nghĩa, theo hướng có lợi cho họ. Sau Chiến tranh lạnh, toàn cầu hoá đã có những bước phát
triển mới, quá trình nhất thể hoá kinh tế diễn ra một cách mạnh mẽ. Điều này đã làm cho việc hội
nhập kinh tế dường như trở thành một cái chung mà hầu hết các quốc gia trên thế giới đều phải
tham gia vào. Trong bối cảnh đó, việc lựa chọn cho mình một con đường phát triển riêng là rất
khó khăn với các nước nhỏ. Thực tế cho thấy hầu hết các nước trước đây theo nền kinh tế tập
trung bao cấp nay đều chuyển sang nền kinh tế thị trường và trở thành những thành viên của các
tổ chức tài chính, thương mại thế giới. Theo đó, các nước này đều phải mở cửa thị trường đồng
thời xây dựng một mô hình kinh tế theo những luật chơi nhất định dựa trên mô hình phát triển
chung của nền kinh tế thế giới, hay nói cho cùng là theo những gì mà các nước lớn đang gắng
sức áp đặt cho họ.
Vốn và công nghệ là yếu tố đầu vào quan trọng hàng đầu của mỗi nền kinh tế, đặc biệt
là các nền kinh tế nhỏ, yếu kém. Vậy nhưng các nước nhỏ lại chỉ nhận được một phần rất
nhỏ lượng công nghệ cao cũng như lượng vốn chu chuyển hàng năm trên thế giới.
9


Trong khi hàng năm các nước đang phát triển bị mất một phần lớn lượng lao động chất
xám thì họ vẫn phải tiếp tục sản xuất với những công nghệ lạc hậu. Dường như đã hình thành
một luật chơi chung bất thành văn, cuộc cách mạng khoa học công nghệ chỉ được khoanh vùng
tại phương Bắc và các nước này cũng không hề có ý định "chia sẻ" những thành quả công nghệ
cao với các nước nhỏ hơn mà sự hợp tác, chia sẻ, trao đổi chỉ diễn ra một cách sôi động giữa họ
với nhau.
Về yếu tố vốn, các nước nhỏ hơn cũng chịu thiệt thòi không kém. Theo tính toán của ngân

là trên hết nên sự lựa chọn của các nước lớn là: Mặt hàng nào là lợi thế của họ thì tự do mặt hàng
đó khiến mặt hàng của họ xâm nhập khắp thị trường trên thế giới; còn những mặt hàng nào là
yếu thế của họ, ví dụ như hàng nông sản lại bị coi là những mặt hàng “nhạy cảm” và cần được
bảo hộ. Nghịch lý là ở chỗ những mặt hàng này lại chính là chìa khóa để các nước nghèo hòa
nhập vào thị trường thế giới. Hàng nông sản của họ dù chất lượng cao hơn của các nước phát
triển nhưng do phải chịu sức ép cả về thuế và hàng rào phi thuế quan nghiêm ngặt nên giảm hẳn
tính cạnh tranh. Nếu không có đủ khả năng chiến đấu thì hàng hóa của các nước nhỏ sẽ nhanh
chóng bị đánh bật khỏi thị trường các nước lớn. Sự cạnh tranh bất bình đẳng này làm cho ước
muốn thoát nghèo của các nước nhỏ trở nên xa vời.
3.3.3. Giải pháp của các nước nhỏ
Từ trước đến nay, nước lớn luôn có vai trò quan trọng mang tính quyết định đối với sự vận
động của quan hệ quốc tế. Đối với các nước nhỏ thì các nước lớn cũng như mối quan hệ giữa
chúng với nhau toạ ra cho họ những cơ hội và không ít thách thức trên con đường phát triển của
mình. Do đó có được những giải pháp hiệu quả, linh hoạt trong xử lý quan hệ quốc tế sẽ giúp
nước nhỏ phần nào giảm bớt được sức ép từ phía các nước lớn, giảm thiểu tác động tiêu cực, tận
dụng mặt tích cực để phục vụ cho sự phát triển của quốc gia mình. Trong trạng thái quan hệ giữa
các nước lớn hiện nay, các nước nhỏ đã và đang thực hiện những biện pháp như thế. Những biện
pháp này mang tính tổng thể, không tách rời.
Thứ nhất, xác lập và thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở,
đa phương hoá, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, trước hết là cải thiện và thiết lập quan hệ bình
thường với tất cả các nước lớn, các trung tâm chính trị- kinh tế hàng đầu của thế giới. Việc tăng
cường quan hệ với nhiều quốc gia, đa dạng hoá quan hệ giúp cho những nước nhỏ có khả năng
nhận được sự ủng hộ của các quốc gia đó khi phải chịu sức ép từ các nước lớn hay từ mối quan
hệ giữa những nước lớn tạo ra. Đồng thời, các nước nhỏ phải cải thiện và thiết lập quan hệ bình
thường với tất cả các nước lớn, các trung tâm quyền lực trên thế giới, xây dựng quan hệ đối tác
chiến lược với các nước lớn nhằm tạo khung hợp tác ổn định lâu dài có lợi cho mình. Chỉ khi có
quan hệ bình thường với tất cả các nước lớn, tạo ra khung hợp tác lâu dài với họ thì mới có thể
tiến hành cân bằng trong quan hệ với các nước này. Hầu hết các quốc gia lớn nhỏ trên thể giới
hiện nay đều thực hiện theo chiến lược đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế. Trong đó
Việt Nam có thể được xem là một ví dụ tiêu biểu về giải pháp này. Hiện nay chúng ta có quan hệ

đó sẽ phải gánh chịu những đòn trừng phạt nặng nề từ phía Mỹ và những nước như Nga, Pháp
hay Đức cũng không giúp được nhiều cho nước này. Đối với nước ta, tư tưởng chỉ đạo trong
quan hệ với các nước lớn là hướng tạo lập cân bằng lợi ích, một mặt thúc đẩy quá trình cải thiện.
mở rộng và phát triển quan hệ với từng nước lớn, mặt khác vẫn tiếp tục giữ vững độc lập, thống
nhất và định hướng XHCN, không để các nước lớn thao túng, áp đặt hoặc lôi kéo. Hội nghị
Trung ương 8 khoá IX về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” (7/2003) đã xác định
thúc đẩy quan hệ với các nước và trung tâm lớn trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, không
can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, tạo thế đan xen lợi ích giữa các nước lớn với nước ta;
tránh bị rơi vào thế đối đầu, cô lập hay lệ thuộc2. Đây là một nhận định quan trọng, thể hiện tư
tưởng đối ngoại cân bằng trong quan hệ với các nước lớn của chúng ta. Cho đến nay, có thể coi
2

Nguyễn Hoàng Giáp, “Phát triển quan hệ với các nước lớn trong chính sách đối ngoại đổi mới của Đảng và Nhà
nước ta”, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, 6/2005.

12


đây là bài học đối ngoại lớn nhất của chúng ta trong quan hệ với các nước lớn. Chúng ta có quan
hệ tốt với tất cả các nước lớn, tạo được môi trường hoà bình ổn định để phát triển.
Thứ ba, bên cạnh những giải pháp trên các nước nhỏ cũng cần liên kết lại trong khối
thống nhất nhằm đấu tranh vì lợi ích chung, giảm thiểu sức ép từ phía các nước lớn và từ
mối quan hệ giữa họ, đồng thời nâng cao được vai trò của mình. Các hoạt động của Phong
trào không liên kết (NAM) trong Chiến tranh lạnh và bây giờ, việc thành lập và hoạt động của
ASEAN, AFTA, MECOSUR, Liên minh thương mại và tiền tệ các quốc gia Tây Phi, nhóm G77,
G100 hay G20... cũng không nằm ngoài mục tiêu liên kết nhau lại trong một tổ chức chung nhằm
đấu tranh với các nước lớn, các nước phát triển, giành cho mình lợi ích xứng đáng trong nhiều
vấn đề. Việc đứng trong một tổ chức, bày tỏ lập trường chung, cùng đưa ra một sáng kiến giúp
cho các nước nhỏ giảm được sức ép từ các nước lớn, nâng cao được tiếng nói của mình trên
trường quốc tế. Sự hợp tác đấu tranh của các nước nhóm G20 trong WTO đã phần nào giúp các

và lãnh thổ2 với 2,4 tỉ dân đang sinh sống (chiếm 44% dân số thế giới). Một số khác cho rằng
châu Á Thái Bình Dương chỉ bao gồm Đông Á và Bắc Mỹ. Trong khuôn khổ cuốn sách này, khu
vực châu Á-Thái Bình Dương được coi là khu vực bao gồm các nước ở Đông Bắc Á, Đông Nam
Á, Nam Á, châu Úc và khu vực Bắc Mỹ. Đây là một khái niệm rộng và có tính chất bao trùm. Do
Ấn Độ là một nước lớn, có vị trí chiến lược, vai trò an ninh quan trọng và là thành viên của Diễn
đàn khu vực ASEAN (ARF), không thể loại trừ ấn độ ra khỏi bất cứ cuộc tranh luận nào về châu
Á- Thái Bình Dương nói chung và an ninh ở khu vực nói riêng3.
4.2.2. Những đặc điểm chủ yếu
Khu vực châu Á- Thái Bình Dương là chiếc nôi của những nền văn minh lâu đời nhất thế
giới như Trung Quốc, Ấn Độ, và một số tôn giáo lớn như Phật giáo, Hồi giáo, Ấn Độ giáo. Cho
đến tận thế kỷ XIV, văn minh châu Á là một trong những nền văn minh phát triển nhất trên thế
giới. Tuy nhiên, đến thời kỳ cuối thế kỷ XIX, tức là khoảng 100 năm trước, đại bộ phận các nước
châu Á, và gần như toàn bộ Đông Nam Á (trừ Thái Lan) nằm dưới sự thống trị của các cường
quốc thực dân châu Âu. Đến thế kỷ XX, phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ, trở
thành cao trào từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, đã đưa đến sự sụp đổ hoàn toàn của hệ thống
thực dân cũ và sự ra đời của một lục địa châu Á mới: lần đầu tiên trong nhiều thế kỷ, vận mạng
châu Á lại nằm trong tay người châu Á. Hơn thế, từ thập kỷ 70 và 80 của thế kỷ XX, châu ÁThái Bình Dương nói chung và Đông Á nói riêng, trở thành "câu chuyện" thành công, thu hút sự
2

40 nước và lãnh thổ ở châu Á- Thái Bình Dương bao gồm:
- 7 nước và lãnh thổ ở phía Bắc TBD là Nga, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan,
Hồng Kông.
- 10 nước Đông Nam Á: Brunei, Campuchia, Indonesia, Malaysia, Lào, Myanmar, Philippines, Singapore ,
Thái Lan, và Việt Nam,
- 10 nước và lãnh thổ ở Nam TBD: Úc, Newzealand, Papua New Guinea, Đảo Cook, Fiji, Kirihati, Hipne,
Salomon, Tonga, Micronesia.
- 10 nước ở Trung và Nam Mỹ: Mexico, Nicaragua, Guatemala, Honduras, El Salvadore, Panama,
Colombia, Ecuadore và Chilê.
- 2 nước ở phía Bắc bờ Đông Thái Bình Dương là Mỹ và Canada.
3

Một đặc điểm khác của khu vực Á Thái Bình Dương là cả 5 nước lớn Mỹ, Nhật Bản, Nga,
Trung Quốc, Ấn Độ đều nằm ở khu vực và lợi ích của họ đan xen nhau, rất phức tạp. Mối quan
hệ giữa các nước lớn này có ảnh hưởng rất lớn đến tình hình an ninh, chính trị và kinh tế ở châu
Á- Thái Bình Dương. Chỉ tính từ đầu thế kỷ 20 cho đến trước năm 1990, cả 5 nước này hoặc đã
từng trực tiếp gây chiến tranh nóng với nhau, hoặc đối đầu với nhau trong chiến tranh lạnh:
Chiến tranh Nga- Nhật (1905) Mỹ và Liên Xô tuyên chiến với Nhật trong chiến tranh Thế giới II,
đối đầu Xô- Mỹ suốt thời kỳ chiến tranh lạnh, đụng đầu Mỹ- Trung trong cuộc chiến tranh Triều
Tiên (1950 - 1953), cuộc chiến tranh biên giới Trung-ấn 1962, chiến tranh biên giới Xô- Trung
(1969)... Từ khi kết thúc chiến tranh lạnh quan hệ giữa các nước lớn được cải thiện đáng kể. Tuy
nhiên, cả 5 nước vẫn đang củng cố thực lực, tập hợp lực lượng để giành chỗ đứng thuận lợi nhất
4

Có tám nước châu Á nằm trong danh sách những nước kém phát triển nhất của UNDP.

15


chi phối tình hình khu vực ở thế kỷ XXI. Điều đó sẽ có tác động không nhỏ đến tình hình chung
của khu vực châu Á- Thái Bình Dương.
Trong khi các nước lớn vẫn giữ vai trò chủ chốt, một trong những đặc điểm quan trọng của
khu vực châu Á- Thái Bình Dương là vai trò tích cực của các nước tầm trung trong các vấn đề
chính trị, an ninh cũng như kinh tế của khu vực. Các nước tầm trung như Úc, Canada và đặc biệt
là ASEAN- một tổ chức khu vực bao gồm các nước vừa và nhỏ- đóng một vai trò đáng kể trong
việc xây dựng một trật tự mới ở khu vực châu Á- Thái Bình dương thời kỳ sau chiến tranh lạnh.
Tổ chức ASEAN thành lập từ năm 1967 đã được mở rộng bao gồm toàn bộ các nước Đông Nam
Á và trở thành một thực thể chính trị quan trọng, thậm chí có một số học giả cho rằng một cực,
hay một trung tâm chính trị không thể bỏ qua ở châu Á- Thái Bình Dương. ASEAN giữ vai trò
quyết định trong việc hình thành Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) năm 1994 và góp phần không
nhỏ cho sự ra đời của APEC năm 1989.
4.2. Những xu thế quốc tế chủ yếu tác động đến khu vực Châu Á - Thái Bình Dương

mẽ tiến trình toàn cầu hoá. Một mạng lưới toàn cầu về mậu dịch, sản xuất, thông tin, tiền tệ và kỹ
thuật dần dần được hình thành. Tỷ lệ tăng trưởng mậu dịch thế giới đã vượt quá tỷ lệ tăng trưởng
sản xuất của thế giới. Mặt khác, giá thành giao thông vận tải và thông tin ngày càng giảm, thúc
đẩy nhanh hơn tiến trình toàn cầu hoá. Xu thế toàn cầu hoá là một xu thế khách quan, không thể
đảo ngược. Và nó mang lại cơ hội cũng như hàm chứa những thách thức to lớn đối với các quốc
gia đặc biệt là các nước đang phát triển. Cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế châu Á là minh
chứng sống động về sức tàn phá của các lực lượng tài chính xuyên quốc gia đối với các nền kinh
tế đang phát triển, chưa được chuẩn bị đầy đủ để đương đầu với nhũng thách thức của toàn cầu
hoá.
Song hành với xu thế toàn cầu hoá là xu thế khu vực hoá. Ở châu Âu, viễn cảnh toàn bộ
châu Âu nằm trong một thực thể khu vực EU không còn là viễn cảnh xa vời. Quá trình mở rộng
được tiến hành đồng thời với quá trình tăng cường hoà nhập đặc biệt là hoà nhập kinh tế. Đồng
tiền chung châu Âu Euro ra đời tháng 1/1999 và sẽ chính thức đi vào sử dụng từ 1/2002 đã đẩy
tiến trình khu vực hoá ở châu âu lên một tầm cao mới. Ở châu Á- Thái Bình Dương, tiến trình tự
do hoá thương mại của APEC đang tiếp tục tiến triển. Liên kết tiểu khu vực cũng được thúc đẩy.
Tiến trình AFTA của ASEAN, NAFTA của Bắc Mỹ, CER giữa Úc và New Zealand là những ví
dụ điển hình về xu thế liên kết khu vực. Toàn cầu hoá và khu vực hoá không phải là hai xu thế
đối nghịch nhau. Ngược lại, khu vực hoá có thể được coi là một bước đệm, ở mức độ nào đó là
sự tập hợp lực lượng giữa các nền kinh tế khu vực để đối phó với những thách thức, cạnh tranh ở
tầm toàn cầu.
4.2.3. Xu thế đa cực hoá
Sự sụp đổ của Liên Xô làm cho Mỹ trở thành siêu cường duy nhất với ưu thế vượt trội cả
về kinh tế, quân sự, chính trị và văn hoá. Hơn nữa, thập kỷ đầu của thời kỳ sau chiến tranh lạnh
lại chứng kiến một thời kỳ phát triển dài lâu nhất trong lịch sử của nước Mỹ. Khoảng cách giữa
Mỹ và các đối thủ đặc biệt là Nhật bản và EU càng được mở rộng vì sự chênh lệch lớn trong tốc
độ phát triển kinh tế. Từ năm 1990 đến 1998, kinh tế Mỹ tăng tới 27%, gần như gấp đôi so với

17



Dương và đặc biệt là quan hệ giữa các diễn viên chủ yếu ở khu vực này là Mỹ, Trung Quốc,
Nhật Bản, Nga và Ấn Độ. Tuy còn nhiều điều chưa chắc chắn trong thời kỳ chuyển tiếp nhưng
có thể thấy rằng hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển là dòng chảy chính ở khu vực châu Á5
6

John Ikenberry, "Getting hegemony right", The National Interest, Washington, Spring 2001.
International Institute for Strategic Studies, The Military balance 1999/2000, Oxford University Press, 1999.

18


Thái Binh Dương trong thời kỳ mới. Xu thế hoà bình và đối thoại cũng như xu thế toàn cầu hoá
có tác dụng thúc đẩy hoà dịu và tăng cường hợp tác giữa các nước lớn. Mặt khác, xu thế đa cực
hoá vừa là kết quả, vừa là tác nhân của sự cạnh tranh và kiềm chế lẫn nhau giữa các nước lớn. Sự
đấu tranh giữa chủ trương xây dựng một thế giới đơn cực của Mỹ và sự phấn đấu cho một thế
giới đa cực trong đó Trung Quốc, Nhật Bản, Nga và Ấn Độ giành được chỗ đứng của mình là
một cuộc ganh đua lâu dài, khó khăn và còn ẩn chứa nhiều bất trắc. Vì vậy, hai mặt hợp tác và
đấu tranh sẽ tiếp tục đan xen nhau và sẽ thể hiện trên những thăng trầm trong quan hệ giữa các
diễn viên chính ở khu vực trong nhiều thập kỷ tới.
4.3. Bối cảnh khu vực Châu Á-Thái Bình Dương sau Chiến tranh Lạnh
4.3.1. Tình hình phát triển kinh tế
Cuối thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90 khi chiến tranh lạnh kết thúc, châu Á- Thái Bình Dương
nổi lên là một khu vực phát triển năng động, nơi tập trung các nền kinh tế phát triển nhanh nhất
thế giới. Điều đáng nói không chỉ là một số lớn các nước ở khu vực tham gia vào sự phát triển
kinh tế năng động mà tốc độ phát triển kinh tế cao còn được duy trì liên tục trong nhiều thập kỷ.
Trong suốt thập kỷ 80 và nửa đầu thập kỷ 90, các nước NICs và ASEAN đã luôn giữ được tỷ lệ
tăng trưởng 6-8%. Đặc biệt nền kinh tế Trung Quốc là nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới,
với tỷ lệ tăng trưởng lên tới 9,5% trong suốt thời kỳ từ 1978 đến 19967. Ngay cả khi các nền kinh
tế trong khu vực bị ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính châu Á năm
1997-1998, kinh tế Trung Quốc tuy có giảm tốc độ tăng trưởng chút ít nhưng vẫn giữ được mức

tài chính ngày càng có vai trò tích cực, thúc đẩy hợp tác kinh tế giữa các nước và góp phần cho
sự phát triển kinh tế năng động trong khu vực. Sự phát triển cả về bề rộng và chiều sâu của các
chương trình hợp tác trong khối ASEAN như kế hoạch thành lập khu vực mậu dịch tự do
ASEAN (AFTA), khu vực đầu tư ASEAN (AIA) sẽ có tác dụng thúc đẩy sự phát triển kinh tế
của các nước ASEAN. Tiến trình ASEAN +3 là một ví dụ điển hình về xu hướng tăng cường
hợp tác tài chính, kinh tế trong khu vực nhằm ngăn chặn và đối phó với mặt trái của toàn cầu
hoá. Sáng kiến về Quỹ Tiền tệ châu Á gần đây lại được các nước trong khu vực đưa ra, thể hiện
nỗ lực của các quốc gia châu Á xây dựng những cơ chế hợp tác mới nhằm duy trì ổn định tài
chính và tiền tệ, một trong những điều kiện thiết yếu cho phát triển kinh tế.
Sự phục hồi tương đối nhanh chóng và vững chắc kể từ sau cuộc khủng hoảng kinh tế châu
Á năm 1997, tuy mức độ có khác nhau giữa khu vực Đông Bắc Á và Đông Nam Á, cho thấy rõ
cơ sở vững chắc và tiềm năng phát triển của khu vực vẫn lớn . Cho dù tốc độ trung bình đã chậm
lại so với trước, khu vực châu Á- Thái Bình Dương vẫn là khu vực phát triển năng động nhất thế
giới. Tiềm năng kinh tế của khu vực châu Á- Thái Bình Dương chính là một trong những nhân
tố quan trọng làm cho vị trí của khu vực này tăng lên đáng kể trong tính toán chiến lược của các
nước lớn.
Mặt khác, các nước trong khu vực phải đương đầu với những thách thức to lớn. Sự trì trệ
kéo dài của kinh tế Nhật Bản, nền kinh tế đầu tàu trong khu vực sẽ tiếp tục có ảnh hưởng to lớn
đến sự phát triển kinh tế khu vực. Từ năm 1992 đến nay, tăng trưởng kinh tế Nhật chỉ đạt 1%,
thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng của kinh tế Mỹ và EU trong thập kỷ 90. Năm 1997 và
nửa cuối năm 1999, kinh tế Nhật thậm chí đã bị suy thoái9. Dự kiến, tốc độ tăng trưởng năm
2001 chỉ đạt khoảng hơn 1%, bất chấp những biện pháp chi tiêu của chính phủ nhằm kích thích
nền kinh tế phát triển. Trong khi đó, nợ chính phủ của Nhật Bản lên tới 125% của GDP, mức cao

9

Catharine Dalpino & Bates Gill, (eds), Brookings Northeast Asia Survey, 2000-2001, The Brookings Institution,
2001, tr. 64

20

vực.
Điều chỉnh chiến lƣợc của các nƣớc lớn
Là siêu cường duy nhất còn lại và là một cường quốc Thái Bình Dương, Mỹ có lợi ích to
lớn về chính trị, an ninh ở khu vực này. Những mục tiêu chính sách cơ bản nhất của Mỹ ở khu
10

Catharine Dalpino & Bates Gill, (eds), Brookings Northeast Asia Survey, 2000-2001, The Brookings Institution,
2001, tr. 64

21


vực trong thời kỳ mới vẫn không đổi: ngăn chặn sự xuất hiện của một nước bá quyền khu vực;
đảm bảo tự do hàng hải; duy trì tiếp cận thương mại đối với các nền kinh tế khu vực; đảm bảo
hoà bình và ổn định nhằm và duy trì và củng cố quan hệ an ninh với các đồng minh ở khu vực11.
Để đảm bảo những lợi ích này, Mỹ duy trì các lực lượng triển khai phía trước và các liên minh
an ninh song phương ở khu vực. Do đó, Mỹ đóng một vai trò quan trọng thông qua sự hiện diện
quân sự, các mối quan hệ liên minh an ninh mật thiết với Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc và các thoả
thuận hợp tác quân sự với một số nước ASEAN. Mặc dù chiến tranh lạnh kết thúc và mục tiêu
chủ yếu của các liên minh an ninh của Mỹ ở châu Á không còn, thời kỳ năm 1996 và 1997, Mỹ
và một số nước ở châu Á đã có những thoả thuận duy trì và nâng cấp các liên minh song phương
này. Trong bối cảnh nhưng xu thế chủ đạo ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương đã nêu trên, xu
hướng tăng cường các liên minh an ninh quân sự đặt ra một số vấn đề. Thứ nhất, những liên
minh an ninh này là di sản của chiến tranh lạnh. Sự tiếp tục tồn tại của nó sau khi chiến tranh
lạnh kết thúc chứng tỏ tư duy chiến tranh lạnh còn tồn tại. Thứ hai, việc Mỹ tăng cường các liên
minh an ninh song phương gây lo ngại đối với một số nước khác đặc biệt là Trung Quốc. Phương
châm hợp tác phòng thủ Mỹ-Nhật 1997 cùng với việc Nhật quyết định tham gia chương trình
TMD có tác động không thuận đối với quan hệ Mỹ- Trung, mối quan hệ song phương quan trọng
nhất ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương. Những căng thẳng trong quan hệ Mỹ- Trung, MỹNga không loại trừ khả năng dẫn đến phân cực giữa Mỹ, Nhật một bên, Nga và Trung quốc một
bên. Thứ ba, việc Mỹ chú trọng tăng cường các liên minh an ninh quân sự đặt ra câu hỏi đối với

cách thức mà Trung Quốc giải quyết những vấn đề này như thế nào, có tác động vô cùng to lớn
đến cục diện an ninh ở khu vực. Trong những thập kỷ tới, mục tiêu bao trùm và trước hết trong
chiến lược của Trung Quốc là tạo dựng một môi trường an ninh thuận lợi để tăng tốc phát triển
kinh tế, xây dựng Trung Quốc thành một cường quốc phát triển. Trung Quốc chủ trương chính
sách ngoại giao toàn phương vị, một mặt tăng cường quan hệ với Mỹ, Nhật Bản phục vụ cho
mục tiêu phát triển kinh tế, mặt khác tăng cường quan hệ với Nga, nhằm đấu tranh với xu thế
đơn cực của Mỹ. Trung Quốc cũng chú trọng quan hệ với các nước ASEAN và ngày càng trở
nên tích cực tham gia các diễn đàn ở khu vực do ASEAN khởi xướng.
Mặc dù vẫn ở trong tình trạng bất ổn định cả về kinh tế lẫn chính trị, Nga vẫn là một trong
những cường quốc chủ chốt ở châu Á- Thái Bình Dương. Thứ nhất, thừa hưởng từ Liên Xô cũ
phần lớn sức mạnh quân sự và hạt nhân, Nga vẫn là cường quốc quân sự số 2 trên thế giới với
kho vũ khí chiến lược đã cắt giảm đáng kể nhưng vẫn còn đủ sức tiêu diệt 10 lần nước Mỹ. Nước
Nga còn có những tiềm năng to lớn về khoa học, công nghệ cũng như tài nguyên thiên nhiên, kể
cả những tài nguyên thiên nhiên có ý nghĩa chiến lược như dầu lửa, khí đốt. Thứ hai, Nga là một
cường quốc Âu-Á và từ giữa thập kỷ 90 và đặc biệt gần đây dưới thời Tổng thống Putin, Nga đã
điều chỉnh chính sách đối ngoại theo hướng cân bằng Âu-Á, có những bước đi chủ động, tích
cực tham dự vào các vấn đề ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương và ở mức độ nào đó đã phần
nào khôi phục ảnh hưởng của mình ở khu vực này. Thứ ba, các nước trong khu vực cũng có lợi
ích trong việc lôi kéo Nga tham gia và có vai trò trong các vấn đề khu vực. Trung Quốc có lợi
ích trong việc thúc đẩy quan hệ với Nga nhằm đối trọng quan hệ với Mỹ và Nhật Bản. Nga cũng
có vai trò quan trọng ở bán đảo Triều Tiên. Sự nồng ấm trong quan hệ Nga- Bắc Triều Tiên gần
đây với chuyến thăm Bắc Triều Tiên của Putin 2/2001 và chuyến thăm Nga của lãnh tụ Bắc
Triều Tiên tháng 8/2001 cũng cho thấy ảnh hưởng đáng kể của Nga ở khu vực này.
Là một trong những cường quốc chủ chốt của khu vực, Nhật Bản đang nỗ lực phát huy vai
trò an ninh chính trị của mình cho tương xứng với sức mạnh về kinh tế. Trụ cột của chính sách
châu Á- Thái Bình Dương của Nhật vẫn là liên minh an ninh Mỹ- Nhật tuy rằng mục tiêu ban
đầu của Hiệp ước an ninh Mỹ- Nhật đã không còn. Việc duy trì liên minh an ninh Mỹ- Nhật tiếp
tục phục vụ lợi ích của cả hai nước trong giai đoạn hiện nay. Đối với Nhật, do những ràng buộc
của Hiến pháp hoà bình 1947 (Điều 9), Nhật Bản hiện vẫn không có đủ khả năng tự bảo vệ và
đối phó với các thách thức an ninh khu vực. Mặc dù ở Nhật có không ít tiếng nói ủng hộ việc

những cường quốc có vai trò đáng kể ở khu vực. Hơn nữa, ấn Độ cũng đang có những điều chỉnh
chính sách mạnh mẽ nhằm tăng cường vị trí và ảnh hưởng ở khu vực. Ấn Độ chủ trương tăng
cường quan hệ với Mỹ, Nhật Bản để tranh thủ sự ủng hộ về kinh tế, tài chính, công nghệ của
những nước này. Đối với Trung Quốc, chính sách của Ấn Độ là chủ trương chung sống hoà bình,
tăng cường hợp tác kinh tế. Một hướng ưu tiên chính sách quan trọng khác của Ấn Độ là chính
sách "hướng đông", tăng cường quan hệ với ASEAN và các nước ở Đông Á, cả về kinh tế và
chính trị. Năm 1995, Ấn Độ trở thành thành viên đối thoại đầy đủ của ASEAN và năm 1998, Ấn
Độ đã trở thành thành viên chính thức của ARF. Những bước điều chỉnh chính sách mạnh mẽ
24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status