giáo dục đạo đức cho thanh niên trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở thành phố cần thơ hiện nay - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

TÊN ĐỀ TÀI:

GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO THANH NIÊN
TRONG ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG THEO ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ HIỆN NAY

Giảng Viên Hướng Dẫn

Sinh Viên Thực Hiện

TS. ĐINH NGỌC QUYÊN

Lê Nguyễn Ngọc Huỳnh
MSSV: B110176
Lớp: GDCD K37 - 01

Cần Thơ - 11/ 2013


MỤC LỤC
Trang
A. PHẦN MỞ ĐẦU ...................................................................................................4
1. Lý do chọn đề tài. .. ..........................................................................................................4
2. Đối tượng và pham vi nghiên cứu đề tài. ........................................................................5
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài...........................................................................5

2.3. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO
THANH NIÊN TRONG ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐINH
HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ HIỆN NAY .................60
2.3.1. Giáo dục đạo đức truyền thống cho thanh niên...............................................60
2.3.2. Giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên.................................................62
2.3.3. Giáo dục lối sống văn hoá cho thanh niên......................................................63
2.3.4. Giáo dục thái độ lao động cho thanh niên.......................................................66
2.3.5. Giáo dục chủ nghĩa nhân đạo cộng sản cho thanh niên..................................67
2


CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO
THANH NIÊN TRONG ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH
HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ HIỆN NAY
..............................................................................................................................................69
3.1. PHƯƠNG HƯỚNG NHẰM NHẰM GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO THANH
NIÊN TRONG ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH
HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ HIỆN NAY................69
3.1.1. Quán triệt quan điểm chỉ đạo của Đảng bộ thành phố về giáo dục đạo đức
thanh niên trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa....69
3.1.2. Kết hợp giáo dục nội dung những giá trị truyền thống của dân tộc với giá trị
đạo đức, tinh hoa văn hóa nhân loại trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ..................................................................................................71
3.1.3. Gắn bó chặt chẽ giữa giáo dục đạo đức cho thanh niên với quá trình phát triển
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hạn chế sự tác động tiêu cực của kinh tế
thị trường đến đạo đức thanh niên. .................................................................................72
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO THANH NIÊN
TRONG ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ HIỆN NAY .......................................74
3.2.1. Kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong công tác giáo dục

luyện, phấn đấu và khẳng định mình. Song, bên cạnh những chuyển biến tích cực đó,
sự tác động mạnh mẽ từ mặt trái của cơ chế thị trường cũng là mảnh đất mầu mỡ làm
nảy sinh lối sống ích kỷ, vụ lợi, những thói hư tật xấu, làm rạn nứt những khuôn mẫu,
những giá trị đạo đức, hủy hoại nét đẹp văn hoá truyền thống. Ảnh hưởng từ mặt trái
của kinh tế thị trường đã tạo ra trong xã hội một lớp người không nhỏ trong đó có
thanh niên chạy theo lối sống thực dụng, buông thả, phai nhạt lý tưởng bất chấp
những quy phạm đạo đức, truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc. Hàng loạt vấn đề
đặt ra đối với thanh niên là, làm thế nào để thanh niên trong tương lai đủ sức đáp ứng
yêu cầu của đất nước đặt ra? Làm thế nào để họ có thể tự định hướng đúng, hình
thành và rèn luyện phẩm chất đạo đức trong đời sống kinh tế thị trường hiện nay?
Làm thể nào để những ảnh hưởng tiêu cực không làm suy giảm nguồn lực trẻ...? Do
vậy, việc giáo dục đạo đức nói chung và giáo dục đạo đức cho thế hệ thanh niên, là
một vấn đề quan trọng trong chiến lược phát triển con người của Đảng được toàn xã
hội quan tâm. Yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, từng bước thực hiện mục tiêu dân giàu,
4


nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh đã khách quan hoá tầm quan
trọng và tính bức thiết của việc giáo dục đạo đức cho thanh niên.
Thành phố Cần Thơ được xác định là trung tâm kinh tế, văn hóa và xã hội
của khu vực đồng bằng sông Cửu Long, có vai trò quan trọng là động lực thúc đẩy
kinh tế cho cả vùng. Vì thế, nhu cầu nguồn nhân lực có trình độ của thành phố Cần
Thơ là rất lớn. Nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục, Đảng bộ và nhân
dân thành phố Cần Thơ xác định ngành giáo dục có nhiệm vụ hàng đầu trong
việc đào tạo nguồn nhân lực và đã từng bước đổi mới cho phù hợp với tiềm năng
phát triển của thành phố và đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đây thực sự là một vấn đề rất đáng được quan tâm và cần phải tìm hiểu.
Vì vậy, tác giả chọn đề tài " Giáo dục đạo đức cho thanh niên trong điều
kiện phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Thành
phố Cần Thơ hiện nay" làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.

trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong đó chú ý các
phương pháp nghiên cứu chủ yếu như: phân tích và tổng hợp, so sánh, đối chiếu,
logic và lịch sử; gắn lý luận với thực tiễn để thực hiện đề tài.
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 3 chương 7 tiết.

6


B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC ĐỐI VỚI
THANH NIÊN TRONG SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG
1.1 . QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ
CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC
1.1.1 Khái niệm về đạo đức và đạo đức mới
1.1.1.1 Khái niệm đạo đức
Với tư cách là một bộ phận của tri thức triết học, những tư tưởng đạo đức
học đã xuất hiện cách đây hơn 26 thế kỷ trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp cổ
đại. Ở phương Đông, theo các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ đại:
Đạo là một trong những phạm trù quan trọng nhất của triết học Trung quốc cổ đại.
Đạo có nghĩa là con đường, đường đi, là đường sống của con người trong xã hội;
Đức dùng để nói đến nhân đức, đức tính và nhìn chung đức là biểu hiện của đạo, là
đạo nghĩa, là nguyên tắc luân lý. Theo đó, đạo đức chính là những yêu cầu, những
nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà con người phải tuân theo.

Thứ hai, đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi của con người. Trong
lịch sử của mình loài người đã sáng tạo nhiều phương thức điều chỉnh hành vi:
phong tục, tập quán, tôn giáo, pháp luật, đạo đức... Đối với đạo đức, sự đánh giá
hành vi con người theo khuôn phép chuẩn mực và quy tắc đạo đức biểu hiện
thành những khái niệm về thiện và ác, vinh và nhục, chính nghĩa và phi nghĩa. Bất
kỳ trong thời đại lịch sử nào, đạo đức con người cũng đều được đánh giá như vậy và
những chuẩn mực, quy tắc đạo đức nhất định được công luận của xã hội, hay của
một giai cấp, dân tộc thừa nhận; đồng thời sự điều chỉnh đạo đức mang tính tự
nguyện, và xét về bản chất, đạo đức là sự tự do lựa chọn của con người.
Thứ ba, đạo đức là một hệ thống các giá trị. Đạo đức là một hiện tượng xã
hội, mang tính chuẩn mực: mệnh lệnh, đánh giá rõ rệt. Các hiện tượng đạo đức
thường bày tỏ sự tán thành hay phản đối trước thái độ hoặc hành vi ứng xử của các
cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng trong một xã hội nhất định. Vì vậy, đạo đức
là một nội dung hợp thành hệ thống giá trị xã hội. Nếu hệ thống giá trị đạo đức phù
8


hợp với sự phát triển, tiến bộ, thì hệ thống ấy có tính tích cực, mang tính nhân đạo.
Ngược lại, thì hệ thống ấy mang tính tiêu cực, phản động, phản nhân đạo.
1.1.1.2 Khái niệm đạo đức mới
Là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức phản ánh tồn tại xã hội. Do vậy,
cùng với sự biến đổi của tồn tại xã hội, mà trước hết là ở sự biến đổi của điều kiện
sinh hoạt vật chất và đời sống vật chất, đạo đức cũng biến đổi theo.
Cho đến nay, xã hội loài người vận động và phát triển như một quá trình lịch
sử – tự nhiên, từ thấp đến cao qua các hình thái kinh tế – xã hội khác nhau. Phù hợp
với mỗi hình thái kinh tế – xã hội cụ thể có những quan điểm đạo đức tương ứng như
đạo đức của xã hội cộng sản nguyên thủy, đạo đức của xã hội chiếm hữu nô lệ, đạo
đức của xã hội phong kiến, đạo đức của xã tư bản và đạo đức của xã hội cộng sản
chủ nghĩa mà gia đoạn đầu là đạo đức của xã hội xã hội chủ nghĩa.
Trả lời các câu hỏi: Có đạo đức cộng sản hay không? Có luân lý cộng sản

là đạo đức chiến đấu vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, vì sự tiến bộ của
nhân loại, vì tự do, hạnh phúc của mỗi người. Mục đích cuối cùng của nó là góp
phần giải phóng triệt để con người, trước hết là giai cấp công nhân và nhân dân lao
động thoát khỏi mọi áp bức, bất công trong xã hội. Do vậy, đạo đức mới là đạo đức
trong hành động cải tạo xã hội, khẳng định phẩm chất cao quý của người lao động
trong sự nghiệp đấu tranh tự giải phóng mình.
Trong thời kỳ đổi mới, dưới sự tác động mạnh mẽ của toàn cầu hóa và hội
nhập kinh tế quốc tế, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười viết: Đạo đức thể hiện lòng
trung thành với lý tưởng, với mục đích cách mạng của Đảng; ở sự vững vàng về
chính trị, sự kiên định trước mọi thử thách có phẩm chất trong sáng, trung thực, đặt
lợi ích chung trên hết, trước hết, một lòng vì nước, vì dân; ở hành động của mình
thực sự tỏ ra là người lao động, người đầy tớ trung thành của nhân dân. Đạo đức
còn thể hiện ở nếp sống trong sạch của bản thân và gia đình mình, thực hiện cần,
kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, tích cực đấu tranh chống tham ô, quan liêu, lãng
phí, góp phần xây dựng Đảng ta thực hiện trong sạch vững mạnh (Báo Nhân dân,
ngày 22/4/1996).
Từ sự phân tích trên đi đến kết luận: Đạo đức mới là đạo đức của giai cấp
công nhân và nhân dân lao động tiến bộ, phản ánh thực tiễn cuộc đấu tranh cách
10


mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và xây dựng chủ nghĩa xã hội, là
tổng hòa các phẩm chất chính trị và phẩm chất đạo đức tạo nên nền tảng nhân cách
của con người mới, nó vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng
cải tạo xã hội cũ, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
1.1.2 Nguồn gốc, bản chất và chức năng của đạo đức
1.1.2.1 Nguồn gốc của đạo đức
 Các quan niệm trước Mác về nguồn gốc của đạo đức
 Quan niệm về đạo đức của các nhà triết học duy vật trước Mác
Tư tưởng về đạo đức trước Mác có nhiều quan niệm khác nhau. Các quan

một cách tự do mà bản thân chủ thể hành động biết rõ.
Đến thời đại triết học cổ điển Đức, L. Phơbách (1804 – 1892) là nhà triết học
duy vật lớn nhất trong hàng ngũ các nhà duy vật trước Mác cho rằng: Đạo đức
không thể phát sinh từ nguồn gốc nào khác là giới tự nhiên. Theo ông, đạo đức là sự
thỏa mãn khao khát hạnh phúc của con người. Hạn chế lớn nhất trong quan niệm về
đạo đức của ông là quá đề cao đạo đức tình yêu mà ông đã tách rời đạo đức với các
mối quan hệ xã hội khác trong xã hội.
 Quan niệm về đạo đức của những nhà triết học duy tâm
Khác với những nhà triết học duy vật trước Mác, các nhà triết học duy tâm
xem xét nguồn gốc của đạo đức ở lĩnh vực tinh thần chủ quan – tự ý thức hay ở một
lực lượng siêu nhiên – ý niệm tuyết đối của các nhà duy tâm khách quan. Chính
vì vậy, quan niệm về đạo đức của họ không chỉ là sản phẩm của nhận thức duy tâm
mà còn là sản phẩm của một thế giới quan tôn giáo.
Platon (427 – 347 TCN), nhà triết gia cổ đại Hy lạp này là người đã đặt nền
móng cho đạo đức học duy tâm. Theo ông, tâm hồn con người có ba mặt: trí tuệ, ý chí
và tình cảm. Tương ứng với ba mặt đó là ba đức tính của con người là: khôn ngoan,
lòng dũng cảm và đức hy sinh. Từ sự phân tích đó ông đã đi đến kết luận rằng sự kết
hợp cần thiết của ba đức tính nói trên là giá trị đạo đức cao nhất của con người, đó
là sự công bằng và cái thiện tối cao. Nhưng với ông sự công bằng và cái thiện đó chỉ
có ở những tâm hồn cao cả hay là đạo đức chỉ có ở tầng lớp trên, tầng lớp quý tộc.
Tuy còn có những hạn chế như vậy, nhưng những tư tưởng đạo đức của Platon đã
có ảnh hưởng to lớn đến các học thuyết duy tâm về đạo đức trong các giai đoạn sau
12


này, nhất là trong tư tưởng đạo đức tôn giáo.
Kant (1724 – 1804) người đặt nền móng cho triết học cổ điển Đức. Đạo
đức của ông xuất phát từ phạm trù “tiên thiên”, bẩm sinh bên trong. “Đạo đức của
ông không đề cập đến việc đánh giá thực tế về mặt đạo đức những hành vi của con
người, mà chủ yếu nói về những mệnh lệnh thuần túy hình thức của lý tính “thực

danh phận của mình phải thực hiện những chuẩn mực “trung, hiếu, nghĩa”, “nhân,
lễ, nghĩa, trí, tín”, “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” và “công,
dung, ngôn, hạnh”.
Tư tưởng đạo đức của Đạo giáo nêu những chuẩn mực đạo đức của cá nhân
như “vô kỷ”, “vô công”, “vô danh”, “bất tranh”, “dĩ đức báo oán”. Những chuẩn
mực này đòi hỏi con người gạt bỏ dục vọng của bản thân mình, không cậy công, kể
công, không ham danh vọng, ứng xử uyển chuyển, lấy nhu thắng cương, dùng
nhược để thắng cường trong đối nhân xử thế, lấy lòng nhân đức để đối xử với người
đã gây ra oán thù với mình.
Trong đạo đức Phật giáo, nội dung cơ bản là những yêu cầu đạo đức đối
với hai loại người là người đời và Phật tử. Đối với người đời, những yêu cầu đạo
đức rất chi tiết trong bảy mối quan hệ cơ bản là quan hệ giữa con cái đối với cha mẹ,
quan hệ thầy- trò, vợ-chồng, bạn bè, quan hệ với bề trên, quan hệ với bề dưới,
quan hệ nô bọc với chủ. Những chuẩn mực được nêu rất cụ thể nhưng nhìn chung
khuyên con người trong bất cứ mối quan hệ nào cũng phải thể hiện tình yêu thương,
kính trọng nhau, chăm sóc giúp đỡ nhau, làm tròn bổn phận của mình. Đối với Phật
tử, ngoài việc thực hiện những đức hạnh của người đời, họ còn phải thực hiện Ngũ
giới; Thập thiện nghiệp, Bát chính đạo, tu phẩm hạnh Balamật. Đó là những chuẩn
mực đạo đức cá nhân từ những chuẩn mực cơ bản như không sát sinh, không ăn
trộm, không tà dâm, không nói sai sự thật, không uống rượu... đến những phẩm hạnh
mang tính hoàn thiện siêu việt như Bố thí Balamật, Trì giới Balamật... để đạt trạng
thái siêu giải thoát cho mình và mọi người khỏi nỗi khổ do dục vọng của con người
gây ra. Những chuẩn mực này thể hiện lòng từ bi hỷ xả, thương xót đồng loại và cả
chúng sinh.
Những trường phái tư tưởng đạo đức này có những hạn chế nhất định như
không thể lý giải được nguồn gốc, bản chất, những quy luật hình thành, phát sinh,
14


phát triển của đạo đức và mang tính thoát tục, xa rời hiện thực; nhưng nhìn chung, đó


hội, của cơ sở kinh tế. Xét cho cùng, mọi học thuyết về đạo đức đã có từ trước đến
nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ.
Khi những hình thái kinh tế – xã hội có đối kháng giai cấp thì những hệ thống
đạo đức của các giai cấp khác nhau và đối nghịch nhau đều lấy “những quan điểm
đạo đức của mình từ những quan hệ thực tiễn làm cơ sở cho vị trí giai cấp của mình,
tức là từ những quan hệ kinh tế trong đó người ta sản xuất và trao đổi” [3; tr.136].
Trong xã hội phân chia thành giai cấp, đạo đức đã tự khẳng định mình là một
hình thái ý thức xã hội, là lĩnh vực sản xuất tinh thần của xã hội. Hình thái kinh tế –
xã hội có giai cấp là một bước tiến của lịch sử nhân loại, làm cho đạo đức cũng
phát triển theo. Tuy vậy, bước phát triển này cũng làm nảy sinh những cái ác, tham
lam, ích kỉ, lừa dối…mà loài người sau này phải đấu tranh quyết liệt để chống lại nó.
Trong xã hội có đối kháng giai cấp, nội dung và hình thức của đạo đức phát triển
nhưng chưa thật nhân đạo, chưa hoàn thiện. Sự hoàn thiện của đạo đức chỉ có thể
đạt được khi con người chiến thắng được tình trạng đối kháng giai cấp và tạo ra
những điều kiện để có thể “quên được tình trạng đối kháng giai cấp”. Điều kiện đó
chỉ có thể có được trong xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã
hội. Sự hoàn thiện đạo đức được thực hiện từ đạo đức của giai cấp công nhân, một
dạng đạo đức “có nhiều nhân tố hứa hẹn” để dẫn tới một kiểu đạo đức “thật sự có tính
nhân đạo”.
Như vậy, theo quan điểm Mác – Lênin, đạo đức sinh ra trước hết là từ nhu cầu
phối hợp hành động trong lao động sản xuất vật chất, trong quá trình đấu tranh xã hội,
trong phân phối sản phẩm, để con người tồn tại và phát triển. Cùng với sự phát triển
của sản xuất, các quan hệ sản xuất, các quan hệ xã hội, hệ thống các quan hệ đạo đức,
ý thức đạo đức, hành vi đạo đức cũng theo đó mà ngày càng phát triển, ngày càng
nâng cao, phong phú, đa dạng và phức tạp.
Đạo đức là sản phẩm tổng hợp của các yếu tố khách quan và chủ quan, là sản
phẩm của hoạt động thực tiễn và nhận thức của con người. Những quan hệ người –
người, cá nhân – xã hội càng có ý thức, tự giác, ý nghĩa và hiệu quả của chúng càng
có tính chất xã hội rộng lớn thì hoạt động của con người càng có đạo đức. Đạo đức

hình thái đạo đức nhất định. Đạo đức nguyên thủy, đạo đức chiếm hữu nô lệ, đạo
đức phong kiến, đạo đức tư sản và sau đó, đạo đức cộng sản chủ nghĩa là những thời
17


đại tiến triển dần dần của đạo đức nhân loại.
Về tính dân tộc là một trong những biểu hiện bản chất xã hội của đạo đức. Có
thể nhìn nhận tính dân tộc như là sự biểu hiện đặc thù tính thời đại của đạo đức trong
các dân tộc khác nhau. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã đặt cơ sở khoa
học cho việc luận chứng tính dân tộc của đạo đức. Là một hình thái ý thức xã hội,
ý thức đạo đức vừa bị quy định bởi tồn tại xã hội, vừa chịu ảnh hưởng của các hình
thái ý thức xã hội khác nhau như chính trị, triết học, nghệ thuật, tôn giáo…Tổng thể
những nhân tố ấy trong mỗi dân tộc là sự khác biệt nhau, làm thành cái mà ngày nay
chúng ta gọi là bản sắc dân tộc. Bản sắc ấy được phản ánh vào đạo đức tạo nên tính
độc đáo của các quan niệm, các chuẩn mực, cách ứng xử đạo đức, nghĩa là tạo nên
tính độc đáo trong đời sống đạo đức của mỗi dân tộc. Nhìn nhận tính độc đáo ấy về
mặt dân tộc cũng như sự biến đổi chúng qua các thời đại dân tộc, Ph.Ăngghen viết:
“Từ dân tộc này sang dân tộc khác, từ thời đại này sang thời đại khác, những quan
niệm về thiện và ác đã biến đổi nhiều đến mức chúng thường trái ngược hẳn nhau”.
[3; tr.135].
Về tính giai cấp, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng: “…cho tới nay xã hội đã
vận động trong những sự đối lập giai cấp, cho nên đạo đức cũng luôn luôn là đạo
đức của giai cấp” [3; tr.137]. Trong xã hội có đối kháng giai cấp, mỗi giai cấp có vai
trò và địa vị khác nhau, do đó mà họ có lợi ích khác nhau và đối ngịch nhau. Đạo đức
với tư cách là hình thái ý thức xã hội đã phản ánh và khẳng định lợi ích của mỗi giai
cấp. Ý thức đạo đức giúp mỗi giai cấp hiểu được lợi ích của nó, hiểu được những
cách thức, biện pháp bảo vệ và khẳng định lợi ích giai cấp. Mặt khác, mỗi giai cấp sẽ
sử dụng đạo đức của mình như là công cụ để bảo vệ lợi ích của mình. Mỗi giai cấp
có những lợi ích riêng, do đó cũng có những quan niệm đạo đức, hệ thống đạo đức
riêng. Tuy nhiên, hệ thống đạo đức áp đặt cho toàn xã hội bao giờ cũng là hệ thống

Loài người có nhiều phương thức để điều chỉnh hành vi như: đạo đức, chính
trị, pháp luật,... Chính trị điều chỉnh hành vi giữa các giai cấp, các dân tộc, các quốc
gia bằng các biện pháp như ngoại giao, kinh tế, hành chính, bạo lực.... Pháp quyền
điều chỉnh hành vi trong quan hệ giữa các cá nhân với cộng đồng bằng biện pháp đặc
trưng là ngăn cấm, cưỡng bức bằng pháp luật. Đạo đức điều chỉnh hành vi của con
người bằng lương tâm và dư luận xã hội. Đối tượng điều chỉnh của đạo đức là
19


hành vi cá nhân qua đó điều chỉnh quan hệ cá nhân với cộng đồng. Mục đích điều
chỉnh hành vi của đạo đức nhằm đảm bảo hài hòa quan hệ lợi ích cộng đồng và cá
nhân. Cách thức điều chỉnh của đạo đức được biểu hiện qua sự lựa chọn giá trị
đạo đức; xác định phương án cho hành vi bởi chuẩn mực đạo đức; tạo nên động cơ
của hành vi bởi niềm tin, lý tưởng, tình cảm đạo đức, kiểm soát, uốn nắn hành vi bởi
lương tâm và dư luận xã hội. Hành vi đạo đức của con người có tác động đến sự
phát triển kinh tế – xã hội rất rõ rệt. Những hành vi vi phạm đạo đức của mỗi công
dân trong xã hội đều gây một tác hại nhất định đối với sự phát triển kinh tế – xã hội
của đất nước. Những hành vi lừa đảo, chụp giật hoặc kinh doanh theo kiểu “ăn xổi ở
thì”, làm mất chữ tín; những hành vi trộm cắp, tham ô, tham nhũng.v.v... gây tác hại
trực tiếp đối với sự phát triển kinh tế – xã hội. Và ngược lại những hành vi phù hợp
với chuẩn mực đạo đức như những hành vi trung thực, cần cù, chăm chỉ,... những
việc làm từ thiện vì lợi ích của tập thể, của cộng đồng sẽ tạo ra những giá trị kinh tế
– xã hội to lớn thúc đẩy xã hội phát triển.
 Chức năng giáo dục
Chức năng giáo dục của đạo đức bao hàm cả giáo dục và tự giáo dục. Chức
năng giáo dục của đạo đức là để hình thành những quan điểm cơ bản nhất, những
nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực đạo đức cho con người; nó còn giúp cho con
người có khả năng lựa chọn, đánh giá các hiện tượng xã hội; từ đó con người tự điều
chỉnh hành vi của mình để không ngừng hoàn thiện. Chức năng giáo dục đóng vai trò
rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách con người. Đạo đức không chỉ đóng

người.
Đạo đức cách mạng không chỉ là cái gốc của người cách mạng mà còn là
động lực mạnh mẽ để người cách mạng đi đến cái trí. Khi đã có trí, hiểu biết
khoa học, chủ nghĩa Mác, phương pháp cách mạng… thì cái đức chính là cái đảm
bảo cho người cách mạng giữ vững được chủ nghĩa của mình đã giác ngộ, đã đi theo.
Theo Bác: “Đạo đức cách mạng giúp cho con người vững vàng trong mọi thử thách.
Có đạo đức cách mạng thì gặp khó khăn gian khổ, thất bại không rụt rè, lùi bước;
khi gặp thuận lợi thành công vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phát, khiêm tốn,
mới “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, lo hoàn thành cho tốt nhiệm vụ chứ
không kèn cựa về mặt hưởng thụ.
21


Không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa” [16;
tr.29]. Sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp to lớn, khó khăn
và nặng nề, con đường đi đến độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là con đường dài,
không phải là một đại lộ thẳng tắp. Vì vậy, chăm lo cái gốc, cái nguồn, cái nền tảng
ấy phải là công việc thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, của mỗi gia đình và mỗi
người trong xã hội.
Đối với Đảng, Hồ Chí Minh yêu cầu phải “là đạo đức, là văn minh”. Người
thường nhắc lại ý của Lênin: “Đảng cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự,
lương tâm của dân tộc và thời đại”. Ở đây, “đạo đức” là những phẩm chất cần mà
con người cần phải có để tham gia vào cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội. Còn “văn minh” tức là trí tuệ, đó là sự hiểu biết đúng đắn về chủ nghĩa
Mác – Lênin, về những tri thức hiện đại, về những hiểu biết để đưa sự nghiệp cách
mạng đi đến thắng lợi. Trong đó, đạo đức là nguồn gốc, nền tảng bởi vì muốn làm
cách mạng thì trước hết phải có tâm, cái đức trong sáng.
Vì vậy, Hồ Chí Minh yêu cầu đạo đức đối với giai cấp, tầng lớp, các nhóm xã
hội, trên mọi lĩnh vực hoạt động; trong mọi phạm vi, từ gia đình đến xã hội, trong cả
mối quan hệ của con người đó là đối với mình, với người, với việc để mọi người

xã hội; trong các ngành kinh tế – xã hội của đất nước. Thanh niên được phân chia
theo lứa tuổi nên có những đặc điểm riêng biệt về trình độ học vấn, sức khỏe, tâm lý,
sinh lý,…” [24, 37].
Như vậy, Thanh niên là một nhóm người trong xã hội – nhân khẩu đặc thù,
với độ tuổi nằm trong giới hạn từ 15 đến 30 tuổi, gắn với mọi giai cấp, dân tộc, mọi
tầng lớp xã hội và tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội và đặc điểm của từng
quốc gia, từng dân tộc.
Khi bàn về vai trò của quần chúng nhân dân, của thanh niên trong học thuyết
của mình, C.Mác đã đề cập đến lớp người trẻ tuổi, đánh giá cao vai trò của thế hệ
công nhân đang lớn lên. Ông cho rằng đó là nguồn bổ sung đặc biệt quan trọng để
giai cấp vô sản được hình thành với tư cách là một giai cấp thực sự khi nó ý thức
được địa vị sứ mệnh lịch sử và tương lai của nó. Ông khẳng định: “Nhưng dù sao
thì bộ phận giác ngộ nhất trong giai cấp công nhân cũng nhận thức rất rõ rằng
23


tương lai của giai cấp họ và do đó tương lai của cả loài người hoàn toàn phụ thuộc
vào việc giáo dục thế hệ công nhân đang lớn lên” [5; tr.118].
Ph.Ăngghen thì cho rằng: Thanh niên không thể đứng ngoài chính trị, chính
hiện thực cuộc sống đã, đang và sẽ cuốn hút tuổi trẻ vào đời sống chính trị. Ông nhấn
mạnh rằng, thanh niên không bao giờ thỏa mãn với lý tưởng trước đây, họ muốn
được tự do hơn trong hành động, họ khao khát lập chiến công và vì sự đổi mới họ
sẵn sàng hiến dâng cả máu và cuộc đời mình. Thanh niên có đủ sức lực và tài năng
để giải quyết những mâu thuẫn đang nảy sinh trong đời sống của đất nước.
Ăngghen cũng là người đầu tiên đưa ra các quan niệm: “đội quân xung kích
quyết định của đạo quân vô sản quốc tế”, “đội hậu bị của Đảng” để gắn với thanh
niên. Năm 1853, khi “Đảng của Mác” đã khẳng định vị trí của mình trên vũ đài
chính trị, trong cuộc đấu tranh quyết liệt chống lại những đạo luật đặc biệt của
Bixmac, Ăngghen đã viết: chính thế hệ trẻ sẽ là nguồn bổ sung dồi dào nhất cho
Đảng. Mác – Ăngghen khẳng định rằng: lực lượng quần chúng nhân dân đông đảo

quốc lần thứ nhất của Đảng rút ra kết luận “Ngoài con đường cách mạng đấu tranh
thì họ tuyệt nhiên không có phương pháp nào mưu ra khỏi ách nô lệ”, và vì vậy
“Thanh niên lao động Đông Dương là một lực lượng cách mạng to lớn, vị trí thanh
niên trong các phong trào cách mạng dân tộc giải phóng rất quan trọng”.
Trong những thập kỷ vừa qua, vai trò to lớn của thanh niên đã được Đảng ta
khẳng định: “Thanh niên là lớp người mà chúng ta trao gửi vận mệnh đất nước,
tiền đồ dân tộc cho họ. Khi khoa học, kỹ thuật và công nghệ đã trở thành yếu tố
tác động có ý nghĩa quyết định sự phát triển của xã hội thì lực lượng trẻ ngày càng
có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của đất nước. Trong Nghị quyết Trung
ương 4 khóa VII, Đảng ta đã khẳng định “Thanh niên ta ngày nay là lực lượng xã
hội to lớn, tiềm năng hùng hậu. Thanh niên là lực lượng nòng cốt trong tiến trình
đổi mới và phát triển xã hội ở nước ta”
Với tinh thần đó, Nghị quyết đại hội IX của Đảng đã xác định đối với thanh
niên cần phải “chăm lo giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo phát triển toàn diện về chính
trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, văn hóa, sức khỏe, nghề nghiệp, giải quyết việc
làm, phát triển tài năng và sức sáng tạo, phát huy vai trò xung kích trong sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Như vậy, những định hướng của Đảng đã không chỉ
25


Trích đoạn Giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên Giáo dục thái độ lao động cho thanh niên Giáo dục chủ nghĩa nhân đạo cộng sản cho thanh niên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status